Quá trình hình thành của các công ty xuyên quốc gia - Pdf 75

Quá trình hình thành của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Nhật Bản
1. Khái quát chung về bản chất của TNCs
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay TNCs đã có sự phát triển
bùng nổ cả về quy mô, về phương thức hoạt động và ảnh hưởng ngày càng
sâu sắc đến nền kinh tế thế giới.
Trong các tài liệu về TNCs các nhà khoa học đã đề cập tới nhiều thuật ngữ
như: Công ty quốc tế ( International Enterprise/Firm), Công ty đa quốc gia
(Multinational Corporation/ Enterprise- MNC/MNE) và Công ty xuyên quốc gia
( Transnational Corporation - TNC) và gần đây thuật ngữ Công ty toàn cầu
(Global Firm) được sử dụng khá phổ biến. Vậy giữa những thuật ngữ này có
sự khác biệt nào? Sử dụng thuật ngữ nào là hợp lý nhất?
Trong những năm 1960, thuật ngữ công ty quốc tế cà công ty đa quốc gia
được sử dụng với ý nghĩa như nhau, nhưng nhìn chung thuật ngữ công ty
quốc tế được sử dụng phổ biến hơn nhằm phản ánh sự lớn mạnh của công ty
đã vượt khỏi lãnh thổ quốc gia và có hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều
nền kinh tế trên thế giới.
Đầu thập niên1970, khái niệm “công ty đa quốc gia” được các nhà nghiên cứu
bàn thảo nhiều hơn và trong chừng mực nhất định có ý định phân định khái
niệm này với khái niệm “công ty quốc tế”. Đa số các ý kiến trong giai đoạn này
thiên về khái niệm “công ty đa quốc gia” vì khái niệm này phản ánh đầy đủ hơn
những xu thế mới và thực tiễn phát triển của công ty đa quốc gia. Trong thời kỳ
này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNE chuyển sang cơ chế phi tập trung,
kinh doanh đa ngành của MNE. Quá trình ra quyết định về các hoạt động của
công ty không còn độc quyền từ một chủ sở hữu ở chính quốc mà người nước
ngoài cũng được tham gia quản lý, điều hành. Vì vậy cơ cấu tổ chức và hoạt
động của MNE không chỉ mang tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc
gia.
Gần đây nhất, năm 1998, trong Báo cáo Đầu tư thế giới 1998, Hội nghị của
Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển đã nêu một định nghĩa về TNC cụ
thể hơn: Công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
vô hạn bao gồm các công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng

khác nhau bởi TNCs, mà đặc biệt là ở sự gia tăng vốn FDI. Diễn biến trên thị
trường thế giới cho thấy TNCs có vai trò chi phối dòng FDI trên thế giới ngày
càng lớn. Theo số liệu của UNCTAD, vào những năm đầu thế kỷ XXI, trên thế
giới có khoảng 63.000 TNCs với 700.000 công ty con. TNCs đã chi phối và
kiểm soát trên 80% thương mại, 4/5 nguồn vốn FDI9/10 kết quả nghiên cứu
chuyển giao công nghệ toàn thế giới. Đặc biệt, TNCs có vai trò cung cấp vốn,
chuyển giao công nghệ đối với các nước đang phát triển. Lượng vốn FDI vào
các nước đang phát triển tăng từ 995,1 tỷ USD thời kỳ 1996-2000, lên 1.046,8
tỷ USD thời kỳ 2001-2005, lượng vốn này chủ yếu được thực hiện từ TNCs
(trung bình khoảng 60% tổng vốn đầu tư hàng năm của TNCs được thực hiện
ở nước ngoài) (2).
2. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của TNCs Nhật Bản
Ở Nhật Bản nhiều tổ chức độc quyền xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu CNH.
Ngay từ thời Minh Trị, cơ cấu công nghiệp Nhật Bản đã có những đặc trưng
riêng. Một số tổ chức ở Nhật Bản nắm giữ những bộ phận then chốt của nền
kinh tế. Mỗi tổ chức đó có ngân hàng, công ty thương mại và mạng lưới các xí
nghiệp sản xuất và dịch vụ của riêng họ. Nhà nước Nhật Bản có một vai trò
quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức kinh tế có quy mô lớn thông
qua chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các ngành công nghiệp chủ
yếu theo kiểu phương Tây. Bên cạnh đó chính sách khuyến khích tư nhân bỏ
vốn vào kinh doanh, thành lập các công ty cổ phần, thực hành chính sách trợ
cấp, bảo hộ cho một số xí nghiệp,công ty lớn đã tạo điều kiện cho sự ra đời,
phát triển của các công ty có quy mô lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh. Xuất phát
từ những điều kiện đó, Zaibatsu đã hình thành. Đây là hình thức phôi thai của
TNCs mang đặc thù Nhật Bản. Do tính chất phức tạp của vấn đề và cách nhìn
nhận của các nhà khoa học có những điểm khác nhau cho nên, trên thực tế, có
nhiều đánh giá khác biệt về các tập đoàn kinh tế này. Vì thế cho đến nay, một
định nghĩa chuẩn về khái niệm Zaibatsu vẫn chưa đạt được sự thống nhất giữa
các nhà nghiên cứu. Mặc dù vậy, trên cơ sở phân tích của các nhà nghiên cứu,
có thể thấy Zaibatsu là các tập đoàn kinh tế mang tính chất nửa phong kiến

lên thành công ty Mitsui Busan với sự trợ giúp đắc lực về chính sách mở rộng
hoạt động ngoại thương của chính phủ.
Thứ hai là, kết cấu đặc thù của TNCs Nhật Bản. Chiến tranh thế giới thứ nhất
bùng nổ, các Zaibatsu Nhật Bản đã vươn lên trở thành những tập đoàn tài
chính, công nghiệp với những đơn đặt hàng lớn từ chính phủ. Nhờ được thụ
hưởng những chính sách ưu đãi từ chính phủ mà các Zaibatsu tiếp tục phát
triển đa dạng, tinh vi hơn. Các Zaibatsu hình thành một mô hình sở hữu và tổ
chức quản lý mới gồm 4 cấp theo hình chóp. Đỉnh chóp là một hội đồng những
thành viên sáng lập, thường là cùng huyết thống. Ở cấp độ thứ hai là một công
ty cổ phần với tư cách là công ty mẹ do thành viên gia đình sáng lập nắm
quyền kiểm soát. Đây chính là bộ não và trung tâm quyền lực của Zaibatsu.
Công ty mẹ sở hữu phần lớn cổ phần trong những công ty chủ chốt. Đến cấp
độ thứ ba, gồm cả các ngân hàng, công ty thương mại, công ty bảo hiểm. Mỗi
một công ty thuộc nhóm này lại nắm quyền sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhất định
trong những công ty phụ thuộc khác có quy mô nhỏ hơn ở tầng thứ tư. Với cơ
cấu công ty như vậy đã cho phép các Zaibatsu với lượng vốn không lớn có thể
nắm và sở hữu một tài sản khổng lồ với chi phí thấp. Trong cơ cấu theo kiểu
hình chóp của các Zaibatsu tồn tại một tỷ lệ cổ phần chéo tương đối cao giữa
những thành viên cùng Zaibatsu. Việc nắm giữ cổ phần khống chế chỉ tập
trung vào các thành viên của gia đình và nhờ đó các công ty thành viên của
Zaibatsu có xu hướng liên kết với nhau rất chặt chẽ, trong đó các công ty
thương mại và ngân hàng đóng một vai trò quan trọng. Các ngân hàng trong
Zaibatsu là nguồn cung cấp tài chính cho các công ty thành viên của Zaibatsu
hoạt động. Các công ty thương mại lại là kênh phân phối cực kỳ hiệu quả cho
hoạt động sản xuất của các công ty công nghiệp.
Thứ ba là, tạo lập quan hệ chủ- thợ mang đậm truyền thống Nhật Bản trong
công ty. Phân tích quá trình hình thành và phát triển của các Zaibatsu có thể
thấy rằng ở các Zaibatsu bước đầu đã có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở
hữu và quyền quản lý, “một số gia đình Zaibatsu không trực tiếp quản lý hoạt
động của công ty mà giao phó cho các Banto (hay Obanto)”(3). Tuy nhiên, ban

rất cao, mặc dù xét về hiệu quả kinh tế, thì mức độ tập trung cao đối với nguồn
vốn đầu tư dài hạn là không thực sự tối ưu.
Với một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các Zaibatsu đã nắm vai trò kiểm soát, chi
phối hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Nhật Bản. Vào thời điểm những năm
1930, khi chính phủ quân phiệt Nhật Bản đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh
thì vai trò của các Zaibatsu càng trở nên quan trọng cả về cung cấp hàng hoá
lẫn những tác động đến chính sách bành trướng quân sự. Cho đến khi chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc, tập trung tư bản của các Zaibatsu đã đạt tới
những con số khổng lồ: phần của mười Zaibatsu lớn nhất Nhật Bản lúc bấy giờ
lên đến 53% trong lĩnh vực tài chính, 49% trong công nghiệp nặng và hơn 17%
trong công nghiệp nhẹ (4).
Thứ năm là, sự phát triển bùng nổ của TNCs lớn của Nhật Bản qua làn sóng
thôn tính, sáp nhập. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, dưới áp lực của Hoa
Kỳ, các Zaibatsu với tư cách là nguồn gốc của chủ nghĩa tư bản quân phiệt
Nhật đã từng thách thức bá quyền của Hoa Kỳ và Đồng minh đã tất yếu dẫn tới
việc phải giải thể các tập đoàn này. Chính từ những biến đổi quan trọng này,
đã ra đời một tầng lớp doanh nhân và quản lý mới. Trên cơ sở tiếp thu những
tư tưởng của Phương Tây về vai trò và ảnh hưởng của cơ chế thị trường, quá
trình phục hồi và phát triển của các doanh nghiệp lớn Nhật Bản- tiền thân của
TNCs Nhật Bản chính thức bắt đầu từ những đầu thập kỷ 50.
Vào những năm 1950 do sự biến đổi nhanh chóng của hoàn cảnh quốc tế và
trong khu vực Đông Á - cuộc chiến tranh của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên - đã
tạo ra những điều kiện thuận lợi đối với quá trình phục hồi nền kinh tế Nhật
Bản và sự phát triển của công ty Nhật Bản. Trong thời điểm đó, để phục vụ cho
chiến tranh, các công ty Nhật Bản đã trở thành những nhà sản xuất và cung
cấp nhu yếu phẩm cho quân đội Mỹ, đồng thời đây cũng chính là một điều kiện
quan trọng để chúng đẩy mạnh sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm và từng bước
khôi phục những mối liên hệ vốn có của mình vốn dĩ là những công ty hình
thành trên cơ sở sự giải thể của các Zaibatsu lớn. Các mối quan hệ này không
chỉ được khôi phục, tăng cường trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status