Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
Bảng các chữ viết tắt tiếng Anh
Afta
: (Asian Free Trade Area) - Khu vực mậu dịch tự do Châu á
AID
:
(Agency for International Development) - Cơ quan phát triển quan hệ
quốc tế Hoa Kỳ
APec
:
(Asean - Pacific Economic Cooperation) - Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
á - Thái Bình Dơng.
Asean
:
(Association of South East Asian Nations) - Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam á.
EU
:
(European Union) - Liên minh châu Âu.
EXIMBANK
:
(Export and Import Bank) - Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ.
FDI
:
(Foreign Direct Investment) - Đầu t trực tiếp nớc ngoài.
GATT
:
(General Agreement on Tariff and Trade) - Hiệp định chung về thuế
quan và thơng mại.
GDP
:
VAT
:
(Value Added Tax) - Thuế giá trị gia tăng.
WTO
:
(World Trade Orgnization) - Tổ chức thơng mại thế giới.
1
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt nam tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện tích lũy trong nớc còn
thấp, nhu cầu lớn về vốn đòi hỏi phải khai thác cả trong và ngoài nớc dới mọi
hình thức. Cùng với nguồn vốn ODA và vốn đi vay khác, đầu t trực tiếp nớc
ngoài (FDI) do u thế nổi trội của nó là nguồn vốn không gây nợ, các TNC tự
nguyện đầu t và đi kèm theo vốn là thiết bị và công nghệ để thực hiện dự án,
đang trở thành nguồn vốn nớc ngoài quan trọng nhất đối với các nớc đi sau, xuất
phát điểm thấp, rất cần vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý.
Ngày nay, nhờ chính sách đổi mới, các công ty xuyên quốc gia đã có mặt
trong nhiều ngành kinh tế, nhiều địa phơng ở Việt Nam. Có rất nhiều đại diện
của các công ty lớn từ các nớc công nghiệp phát triển và cũng có với số lợng
nhiều hơn, đại diện của các công ty vừa và nhỏ từ các nớc trong khu vực. Có thể
nói phần lớn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam đợc thực hiện bởi các công ty
xuyên quốc gia hay các công ty xuyên quốc gia chính là chủ thể thực hiện FDI ở
Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả thu hút các công ty xuyên quốc gia vào hoạt
động ở nớc ta, việc nghiên cứu, tìm hiểu về các công ty này là rất cần thiết.
Là các công ty có sức mạnh kinh tế hơn hẳn so với các công ty xuyên quốc
gia của các nớc khác, cùng với u thế về khoa học công nghệ, sự hỗ trợ trực tiếp
của chính phủ, các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ giữ vai trò quan trọng chi
phối nền kinh tế thế giới. Trong quá trình phát triển nếu khai thác đợc nguồn lực
quan trọng này thì Việt Nam sẽ có thêm nguồn lực để phát triển kinh tế, hoà
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
Nhà nớc: Bản chất, đặc điểm và vai trò của các TNC trên thế giới, chính sách
của chúng ta do PGS. TS. Nguyễn Thiết Sơn làm chủ nhiệm đề tài (1996 -
2000), thì cha có một công trình nghiên cứu nào có hệ thống và tổng thể về đầu
t của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam. Hơn nữa, nghiên cứu về hoạt
động của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ thì lại càng ít, nếu có cũng
mới chỉ ở mức mô tả về động thái đầu t của Hoa Kỳ ở Việt Nam (Đỗ Đức Định,
2000; George C.Herring, 1996; Mark Mason, 1998; Nguyễn Minh Long, 2000;
Phùng Xuân Nhạ, 2001).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng của chính sách thu hút đầu
t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt
Nam trong những năm gần đây.
- Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu t của các công ty
xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tợng: Hoạt động đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt
Nam.
- Phạm vi: Luận văn không nghiên cứu đối tợng từ các góc độ kinh tế ngành
cụ thể và khoa học quản lý mà chỉ tập trung phân tích dới góc độ kinh tế học
chính trị các cơ sở về mặt lý thuyết và thực tiễn về đầu t của các công ty xuyên
quốc gia Hoa Kỳ ở Việt nam. Mặt khác, thực tế đầu t của Hoa kỳ vào Việt Nam
hiện nay chủ yếu đợc thực hiện thông qua các chi nhánh của các công ty xuyên
quốc gia do đó nghiên cứu đầu t của Hoa kỳ vào Việt Nam thực chất là nghiên
cứu đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa kỳ ở Việt Nam.
4
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Ngoài các phơng pháp cơ bản đợc sử dụng trong nghiên cứu kinh tế nh: Phơng
Sự phát triển liên tục của công ty xuyên quốc gia về quy mô, cơ cấu tổ
chức, phơng thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm
nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công ty xuyên quốc
gia. Mặc dù đều thừa nhận rằng, các công ty xuyên quốc gia phải là những công
ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế, sử dụng nhân công, nguyên
liệu cho sản xuất tại nớc mà nó cắm nhánh và có thể gọi là công ty xuyên quốc
gia hay đa quốc gia tùy theo tiến trình phát triển nhận thức chung về loại hình
công ty này. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy về cơ bản có hai loại quan
niệm chính nh sau:
Thứ nhất, quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation), trong
đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia,
công ty siêu quốc gia. Những ngời theo quan niệm này không quan tâm đến
nguồn gốc t bản sở hữu cũng nh quốc tịch của công ty, không chú ý đến bản chất
quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay chi nhánh của nó. Nói chung,
họ chỉ quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, thơng mại, đầu t quốc tế
hoá các hoạt động kinh doanh của các công ty mà thôi.
6
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation)
Là những công ty t bản độc quyền có t bản thuộc về chủ t bản của một nớc
nhất định nào đó. ở đây, ngời ta chú ý đến tính chất sở hữu và tính quốc tịch của
t bản: vốn đầu t - kinh doanh là của ai? ở đâu? Chủ t bản ở một nớc cụ thể nào đó
có công ty mẹ đóng tại nớc đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nớc, bằng
cách lập các công ty con ở nớc ngoài là hình thức điển hình của loại hình này. Ví
dụ công ty Sony của Nhật Bản (tài sản tơng ứng 46 tỷ USD), công ty Ford của
Mỹ (tài sản tơng ứng 263 tỷ USD) trong quá trình sản xuất và kinh doanh đã dần
trở thành những công ty khổng lồ của thế giới, chúng đã thiết lập các chi nhánh ở
nhiều nơi trên thế giới kể cả ở Việt nam và đều là những công ty xuyên quốc gia
theo loại hình này.
Dựa trên tiêu thức sở hữu để xác định loại hình công ty, ngời ta còn đa ra
gia hoặc là giác độ kinh doanh quốc tế hoặc từ giác độ sở hữu. Các quan niệm
này đợc hình thành từ lịch sử phát triển của các công ty hoạt động vợt ra khỏi
biên giới quốc gia và hoạt động trên phạm vi quốc tế. Sự phát triển đó là một quá
trình do vậy ngay từ thời kỳ đầu cha thể có ngay những định nghĩa thống nhất về
chúng.
Một số định nghĩa về công ty xuyên quốc gia:
Năm 1976, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã viết trong
cuốn Định hớng cho các công ty đa quốc gia: Một công ty đa quốc gia bao
gồm nhiều công ty hay thực thể kinh tế. Những thực thể này có thể thuộc quyền
sở hữu cá nhân, thuộc quyền sở hữu nhà nớc hay sở hữu hỗn hợp, đợc thành
lập ở nhiều nớc khác nhau và có mối liên kết chặt chẽ. Chúng ảnh hởng đến
hoạt động của nhau và đặc biệt cùng có chung mục đích và nguồn vốn kinh
8
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
doanh. Trong một công ty đa quốc gia, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác
nhau, tùy thuộc vào bản chất mối liên kết và lĩnh vực hoạt động giữa chúng.
Nhóm các nhà nghiên cứu thuộc LHQ trong báo cáo Tác động của các
công ty đa quốc gia đến quá trình phát triển và quan hệ quốc tế đã viết: Công
ty đa quốc gia là những công ty nắm quyền sở hữu hay kiểm soát hoạt động sản
xuất và hệ thống bán hàng tại nhiều nớc khác ngoài nớc của mình. Đây không
chỉ là công ty cổ phần, công ty t nhân mà chúng có thể là những công ty dới
hình thức hợp tác xã hay thực thể thuộc quyền sở hữu Nhà nớc.
Gần đây, năm 1998, trong Báo cáo Đầu t Thế giới 1998, các chuyên gia
của Liên Hiệp Quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia cụ thể hơn nh
sau: Các công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nớc ngoài của chúng. Các
công ty mẹ là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế
khác ở nớc ngoài thờng đợc thực hiện thông qua việc góp vốn t bản cổ phần
của chúng. Mức góp vốn 10% thờng đợc xem nh là ngỡng đối với quyền kiểm
soát tài sản của các công ty khác. Các chi nhánh nớc ngoài (còn gọi là công ty
của sản phẩm: đổi mới (sản phẩm mới, sản xuất quy mô nhỏ) tăng trởng (sản
xuất hàng loạt) mức bão hoà và bớc vào giai đoạn suy thoái.
Theo tác giả, giai đoạn đổi mới chỉ diễn ra ở những nớc phát triển nh Hoa
Kỳ, vì ở đó mới có điều kiện để nghiên cứu và phát triển (R&D) và có khả năng
triển khai sản xuất với khối lợng lớn. Đồng thời cũng chỉ ở những nớc này thì kỹ
thuật sản xuất tiên tiến với đặc trng sử dụng nhiều vốn mới phát huy đợc hiệu quả
10
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
sử dụng. Nhờ có lợi thế này, sản phẩm đợc sản xuất ra hàng loạt với giá thành hạ
nhng cũng nhanh chóng đạt tới điểm bão hoà.
Để tránh lâm vào tình trạng suy thoái và khai thác hiệu quả sản xuất theo
quy mô, các công ty phải mở rộng thị trờng tiêu thụ ra nớc ngoài, nhng các hoạt
động xuất khẩu đã gặp trở ngại bởi hàng rào thuế quan và các hạn chế thơng mại
của các Chính phủ do đó các công ty đã di chuyển sản xuất ra nớc ngoài để vợt
qua những trở ngại này và quá trình này đã hình thành nên các công ty xuyên
quốc gia.
Vào giữa thập kỷ 70, lý thuyết nội vi hoá của Bucley và Casson (1976) đã đ-
ợc sử dụng nh là lý thuyết chính thống lúc bấy giờ để giải thích sự hình thành và
phát triển của các công ty xuyên quốc gia (Jenkins, 1987). Giả định cơ bản của lý
thuyết này là có sự không hoàn hảo của thị trờng (market imperfections).
Theo lý thuyết nội vi hoá, tính không hoàn hảo của thị trờng đợc biểu hiện ở
các mặt chủ yếu nh cạnh tranh độc quyền (bán và mua); các hàng rào thuế quan
(can thiệp của Chính phủ vào các hoạt động của thị trờng); đặc điểm khó kiểm
soát và áp dụng các yếu tố sản xuất (công nghệ, kỹ thuật quản lý, kiến thức
marketing; ...). Những công ty có quy mô lớn thờng có các lợi thế về hiệu quả
cao, chi phối đợc giá cả thị trờng vì thế chúng dễ dàng thắng đợc các đối thủ
cạnh tranh của họ có quy mô vừa và nhỏ hoặc kém khả năng cạnh tranh ở nớc
ngoài. Việc khai thác lợi thế này là động lực thúc đẩy các công ty mở rộng thị tr-
ờng ra nớc ngoài (đặc biệt là vào các nớc đang phát triển).
Mặt khác, các rào cản thuế quan và phi thuế quan của nớc nhập khẩu đã
đầu t ra nớc ngoài để khai thác lợi thế này. Lợi thế nớc chủ nhà (đặc biệt ở các n-
ớc đang phát triển) là giá cả các yếu tố đầu vào (nguyên nhiên vật liệu, lao
động ...) rẻ. Theo Dunning, để hấp dẫn các công ty đầu t ra nớc ngoài, nớc chủ
nhà phải có ít nhất một trong các yếu tố đầu vào rẻ hơn so với yếu tố cùng loại ở
12
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
chính quốc. Lợi thế này là động lực thúc đẩy các công ty mở rộng cơ sở sản xuất
ra nớc ngoài theo hớng khai thác nguồn nguyên liệu.
Ngoài hai điều kiện nh đã phân tích, để quyết định đầu t ra nớc ngoài, công
ty phải so sánh lợi ích giữa cho thuê các yếu tố sản xuất (chủ yếu là công nghệ)
hoặc xuất khẩu với việc trực tiếp sử dụng các yếu tố sản xuất của họ ở nớc ngoài.
Nếu phơng cách thứ nhất có lợi hơn thì công ty sẽ quyết định hớng vào phát triển
thơng mại (sản xuất trong nớc để xuất khẩu). Ngợc lại, họ sẽ quyết định đầu t ra
nớc ngoài và chỉ trong trờng hợp này mới hình thành các công ty xuyên quốc gia.
Theo lý thuyết lợi thế cạnh tranh (theory of competitive advantage) của
Porter (1990) đã giải thích sự hình thành của các công ty xuyên quốc gia từ lợi
thế độc quyền về một yếu tố cụ thể (công nghệ, marketing,..) cho phép công ty
chiến thắng đối thủ cạnh tranh ở nớc ngoài, nhờ đó đã thúc đẩy họ đầu t ra nớc
ngoài. Cũng theo Porter, sự can thiệp của Chính phủ có thể làm thay đổi lợi thế
cạnh tranh của công ty vì thế làm tăng hoặc giảm động lực đầu t ra nớc ngoài của
công ty.
Trên quan điểm lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo của Robinson (1937),
Hymer (1976) đã phát triển để giải thích sự hình thành của đầu t trực tiếp nớc
ngoài. Hymer đã cho rằng, lợi thế cạnh tranh độc quyền đã cho phép công ty đạt
đợc lợi nhuận trên mức trung bình nếu họ đầu t ở nớc ngoài. Thị trờng không
hoàn hảo đã tạo cơ hội cho công ty khai thác các lợi thế độc quyền (chủ yếu về
công nghệ và hiệu quả kinh tế theo quy mô) ở bất kỳ nơi nào dù có hay không sự
can thiệp của chính phủ.
Trong các lý thuyết về công ty xuyên quốc gia, mô hình di chuyển vốn quốc
tế của Macdougall-Kemp (1964) cũng đợc nhiều tác giả đề cập tới. Mô hình này
14
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
sở dĩ có thể xuất khẩu đợc t bản là vì một số nớc lạc hậu đã bị lôi cuốn vào quỹ
đạo của chủ nghĩa t bản thế giới.
Ngoài ra, nguyên nhân của đầu t nớc ngoài còn đợc giải thích trong lý
thuyết địa điểm công nghiệp (industrial location theory) là do công ty chuyển sản
xuất ra nớc ngoài cho gần nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc gần thị trờng tiêu
thụ để giảm bớt chi phí vận tải, nhờ đó hạ thấp đợc giá thành sản phẩm
(R.Vernon, 1974). Một số quan điểm lý thuyết khác nh năm hình thái phát triển
của đầu t quốc tế (Dunning và Narula, 1996) ... đã giải thích nguyên nhân hình
thành đầu t quốc tế từ mục đích khai thác hiệu quả của vốn đầu t, trong đó chủ
yếu nhờ có thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô (tài chính, ngoại hối, ... ) của
các nớc tham gia đầu t.
Nh vậy, qua các phân tích trên, có thể thấy hai đặc điểm nổi bật, có tính t-
ơng đồng giữa các quan điểm và mô hình lý thuyết về công ty xuyên quốc gia
nh sau:
Thứ nhất, nguyên nhân quan trọng hình thành các công ty xuyên quốc gia là
công ty khai thác các lợi thế độc quyền của chúng trong điều kiện thị trờng
không hoàn hảo và có sự chênh lệch về hiệu quả sử dụng vốn giữa các nớc.
Nguyên nhân này đợc bắt nguồn từ lợi thế so sánh trong phân công lao động
quốc tế.
Thứ hai, phần lớn các quan điểm lý thuyết mới giải thích sự hình thành công
ty xuyên quốc gia từ một phía, tức là so sánh giữa chi phí và lợi ích của công ty
trong việc lựa chọn lợi thế của họ giữa xuất khẩu, cho thuê giấy phép hoặc đầu t
nớc ngoài, mà cha xem xét đến nhiều nguyên nhân quan trọng khác (môi trờng
kinh doanh quốc tế) đã tác động vào quá trình hình thành và phát triển của các
công ty xuyên quốc gia. Đây cũng chính là những hạn chế chung của các quan
điểm và mô hình lý thuyết truyền thống về công ty xuyên quốc gia.
15
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
các nớc. Các công ty chi nhánh ở nớc ngoài chỉ cần có 10% sở hữu công ty mẹ là
đợc coi nh công ty con - một công ty của Hoa kỳ và nh vậy, nó đợc đối xử nh
một công ty xuyên quốc gia Hoa kỳ hoạt động ở nớc ngoài.
Về nghiên cứu phát triển (R&D) và chuyển giao công nghệ: Do quá
trình cạnh tranh toàn cầu và những biến đổi trong cơ cấu của các ngành, Hoa kỳ
đã coi R&D và chuyển giao công nghệ là những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
nhằm bảo đảm vị trí cao của Hoa kỳ trên thế giới. Năm 1996, các TNC Hoa kỳ
đã chi khoảng 115 tỷ USD và năm 1997 là 123 tỷ USD cho hoạt động này. Hiện
nay, các TNC Hoa kỳ tập trung vốn R&D chủ yếu cho các ngành công nghiệp
chế tạo, trong đó, đặc biệt là cho các ngành hoá chất, cơ khí, điện , điện tử, thiết
bị giao thông - vận tải, dịch vụ. Do công nghệ của Hoa kỳ phát triển rất cao do
đó các TNC Hoa kỳ thởng chuyển giao công nghệ cao cho các nớc phát triển và
công nghệ thấp hơn (lạc hậu) cho các nớc đang phát triển. Chính vì vậy, các nớc
ĐPT cần có chiến lợc đúng đắn để nhận chuyển giao công nghệ vì sự phát triển
chung của nền sản xuất trong nớc.
Một số đặc trng khác: Một đặc trng hoạt động khác của công ty xuyên
quốc gia Hoa kỳ đợc thể hiện ở hình thức tổ chức, quản lý hoạt động công ty ở
trong và ngoài nớc.
Các công ty Hoa kỳ có các hoạt động kinh doanh khắp nơi trên thế giới.
Các công ty chi nhánh chỉ cần có 10% sở hữu của phía Hoa kỳ đã đợc coi là công
ty con. Trên thực tế có trên 80% số công ty con ở nớc ngoài của Hoa kỳ là các
công ty con có 100% vốn của Hoa kỳ. Nh vậy, có thể thấy rằng khi lập các chi
17
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
nhánh ở nớc ngoài, các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ thờng có xu hớng muốn
lập các công ty có 100% sở hữu của mình.
Các công ty Hoa kỳ hoạt động ở nớc ngoài chủ yếu trong các lĩnh vực khai
thác, lọc dầu và trong các ngành công nghiệp chế biến. Ngành dịch vụ tuy là một
thế mạnh của Hoa kỳ nhng lại có tỷ trọng thấp hơn nhiều so với các ngành trên
(do ít lợi thế về quy mô, do một vài ngành dịch vụ không đợc nớc sở tại cho phép
Đảng và là cơ sở để xây dựng các quan điểm chính sách đối với việc thu hút các
công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam.
Chủ động thu hút các công ty xuyên quốc gia. Tính chủ động trong lĩnh
vực thu hút đầu t nớc ngoài là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của lĩnh
vực này. có nâng cao tính chủ động thì mới tạo ra đợc môi trờng đầu t hấp dẫn,
mới hớng đợc hoạt động đầu t vào những mục tiêu đã xác định trớc và nh vậy
mới hạn chế đợc sự bị động trong việc thu hút đầu t làm cho việc thu hút đạt hiệu
quả cao và có ý nghĩa. Tính chủ động phải đợc thể hiện thông qua việc chủ động
xây dựng chiến lợc, kế hoạch, chính sách nhằm tạo môi trờng đầu t hấp dẫn và bố
trí các dự án theo định hớng của sự phát triển cơ cấu kinh tế.
Mục tiêu của việc thu hút các công ty xuyên quốc gia là nhằm tranh thủ
nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý để phát triển kinh tế. Do đó, chiến
lợc thu hút đầu t của các công ty xuyên quốc gia phải phù hợp với mục tiêu chiến
lợc phát triển kinh tế của đất nớc. Trên cơ sở mục tiêu chiến lợc đó, căn cứ vào
thực lực và khả năng của từng giai đoạn cụ thể để có kế hoạch định hớng đầu t
vào các ngành, lĩnh vực và vùng đợc u tiên. Cùng với việc xây dựng kế hoạch h-
ớng các nhà đầu t, việc xây dựng các dự án khả thi là cần thiết để chủ động kêu
gọi đầu t. Mục tiêu chiến lợc thu hút các công ty xuyên quốc gia còn là cơ sở để
19
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
định hớng cho việc tạo lập môi trờng đầu t và việc xây dựng khung pháp lý,
chính sách khuyến khích cũng là nhằm mục đích bảo đảm thực hiện các mục
tiêu. Để chủ động, ngoài việc xây dựng và tạo lập môi trờng đầu t cần có chiến l-
ợc, kế hoạch cụ thể. Đặc biệt cần chủ động tạo lập và lựa chọn đối tác đầu t cũng
nh lựa chọn hình thức đầu t thích hợp. Tạo lập đối tác trong nớc là tạo ra các đối
tác đáng tin cậy để các công ty xuyên quốc gia lựa chọn khi vào liên doanh. Đối
với nớc ta cần khẳng định rằng về lâu dài việc lựa chọn đối tác đầu t là các công
ty xuyên quốc gia và nên u tiên đối với công ty xuyên quốc gia lớn ở các nớc
công nghiệp phát triển nh Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Các hình thức đầu t cần đợc sử
dụng một cách đa dạng, nh hợp đồng gia công, xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài, xí
phải đấu tranh để bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi, giữ vững chủ quyền quốc gia,
định hớng XHCN và bản sắc văn hóa dân tộc.
Cần có sự nỗ lực chung của cả Nhà nớc và các doanh nghiệp. Sự hấp dẫn
các công ty xuyên quốc gia không chỉ ở môi trờng đầu t đợc tạo lập mà còn phải
có đợc các doanh nghiệp có năng lực kinh doanh, nơi tin cậy để họ bỏ vốn đầu t
cùng sản xuất kinh doanh. Vì vậy, cần có sự kết hợp nỗ lực chung của cả Nhà n-
ớc và các doanh nghiệp.
Nhà nớc cần thực hiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính
sách, chiến lợc kế hoạch để tạo ra môi trờng đầu t thông thoáng, sân chơi thuận
lợi để vừa kích thích các doanh nghiệp trong nớc nỗ lực vơn lên, vừa thu hút đợc
các công ty xuyên quốc gia vào những lĩnh vực u tiên theo định hớng của mình.
Các doanh nghiệp cần phấn đấu để phát triển và hoàn thiện, nâng cao năng lực tổ
chức sản xuất kinh doanh của mình, nâng cao sức cạnh tranh và trở thành đối tác
có tiềm lực để không rơi vào thế bị động, bất lợi, lệ thuộc trong quan hệ đàm
phán, hợp tác với các công ty xuyên quốc gia, vơn lên để từng bớc hoạt động đầu
21
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
t ra ngoài nớc, thực hiện xuyên quốc gia hoá trong kinh doanh. Chính các doanh
nghiệp trong nớc chứ không phải ai khác là ngời biến sự nỗ lực của nhà nớc
thành hiện thực. Sự vơn lên của các doanh nghiệp trong nớc để có quan hệ bình
đẳng với các công ty xuyên quốc gia sẽ góp phần làm cho nền kinh tế phát triển
độc lập tự chủ, không bị lệ thuộc vào nớc ngoài. Nhà nớc chẳng những cần tạo
lập môi trờng đầu t thông thoáng mà còn là ngời bảo vệ quyền lợi cho các doanh
nghiệp, trên cơ sở đó mà bảo vệ quyền lợi quốc gia dân tộc. Sự nỗ lực chung của
Nhà nớc và các doanh nghiệp chính là sự nỗ lực phấn đấu vì sự phát triển của đất
nớc, vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh của nớc ta.
Phải nội sinh hóa ngoại lực, hiện đại hoá nội lực để phát triển bền vững
lâu dài. Thu hút các công ty xuyên quốc gia là để tăng cờng vốn đầu t, tiếp nhận
công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, thị trờng ... biến nó thành nguồn lực
nội sinh để tăng trởng và phát triển. Nếu chúng ta không đủ năng lực để biến
ngời Việt Nam, truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng Việt Nam là
yếu tố trung tâm của nội lực Việt Nam. Con ngời Việt Nam đợc phát triển có tri
thức, có văn hoá, giàu lòng yêu nớc, biết phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc
của mình sẽ là ngời có đủ khả năng sáng tạo, tiếp thu những thành quả tiên tiến
của nhân loại, biến chúng thành cái của chính mình, làm chủ đất nớc và đa đất n-
ớc phát triển đi lên.
Vì vậy, đầu t phát triển con ngời, chăm lo giáo dục đào tạo, bồi dỡng nhân
cách, nâng cao mặt bằng dân trí, phát triển nhân lực, khoa học - công nghệ, văn
hoá, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc của dân tộc là hoạt động
đầu t quan trọng nhất để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển đất
23
Đầu t của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ Nguyễn Thuý Hoà
nớc, bảo đảm nội sinh hoá đợc ngoại lực và hiện đại hoá nội lực, tiếp nhận việc
sử dụng đầu t của các công ty xuyên quốc gia có hiệu quả.
1.2.2. Tổng quan các chính sách thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia đầu t
ra nớc ngoài của Chính phủ Hoa Kỳ .
Mục tiêu của Hoa Kỳ là phát huy lợi thế, củng cố sức mạnh và tăng cờng vai
trò lãnh đạo trong nền kinh tế toàn cầu, sắp đặt hệ thống thơng mại, tài chính tiền
tệ thế giới, định ra luật lệ mới chuẩn bị cho những thách thức của thế kỷ 21. Để
thích nghi với toàn cầu hoá, một mặt Hoa Kỳ cơ cấu lại nền kinh tế, đi đinh vào
các mũi nhọn cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế thế giới,
chủ động tác động vào việc xếp đặt lại các luật chơi mới của hệ thống thơng mại,
đầu t, tài chính - tiền tệ quốc tế theo hớng tiếp tục đẩy mạnh tự do hoá thơng mại
và đầu t trên bình diện toàn cầu, xuyên khu vực, khu vực và song phơng. Đồng
thời, Hoa Kỳ đã định ra chiến lợc toàn cầu hoá kinh tế đối ngoại hớng tới thế kỷ
21, mục đích của nó là nhằm điều động và khai thác nguồn tài nguyên của toàn
thế giới phục vụ cho lợi ích quốc gia, tiếp tục duy trì địa vị lãnh đạo và tiên
phong.Việc lấy sức mạnh quốc gia để thúc đẩy kinh tế đối ngoại là một bộ phận
cấu thành quan trọng của chiến lợc kinh tế đối ngoại Hoa Kỳ.Vì thế Hoa Kỳ luôn
khuyến khích các công ty xuyên quốc gia của mình tìm liếm các cơ hội kinh
- Cơ quan phát triển quan hệ quốc tế (AID)
- Công ty đầu t t nhân ở nớc ngoài (OPIC)
- Tổ chức thơng mại và phát triển Hoa Kỳ (TDA)
Ngoài ra Hoa Kỳ còn ký các hiệp định song phơng với các đối tác nh: Hiệp
định thơng mại, hiệp định bảo hộ đầu t v.v... tham gia ký kết các hiệp định đa ph-
ơng nh GATT, WTO, hiệp định đảm bảo đầu t đa phơng (MIGA) và thành lập
các khối kinh tế nh NAFTA, APEC... Nh vậy có thể thấy chính phủ Hoa Kỳ luôn
25