Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
A Khái niệm về công ty xuyên quốc gia v à v ị trí của chúng trong
n ền kinh t ế Thế giới:
I.Khái niệm về công ty xuyên quốc gia (TNCs):
Các chuyên gia UNCTAD( United Nations Conference on Trade and
Develpoment) định nghĩa TNCs – Transnational Corporations như sau:
TNCs là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, có cơ cấu tổ chức
gồm công ty mẹ và hệ thống công ty chi nhánh ở nước ngoài, theo nguyên tắc
công ty mẹ sẽ kiểm soát tài sản của các công ty chi nhánh thông qua góp vốn cổ
phần. Điều kiện để được kiếm soát tài sản là số vốn cổ phần 10% hay hơn, ở
một số nước thì 10% là mức tối ưu được sử dụng, tuy nhiên như ở Vương quốc
Anh chẳng hạn thì mức hơn 20% được áp dụng cho đến năm 1997. Công ty chi
nhánh là một công ty hoặc phi công ty trong đó nhà đẩu tư là người thuộc nền
kinh tế khác, sở hữu một số vốn cổ phần cho phép trong sự quản lý của doanh
nghiệp đó. Số lượng cổ phần cho phép ở một công ty hoặc phi công ty là 10% cổ
phần
* Cấu trúc của TNCs:
TNC là 1 doanh nghiệp theo cấu trúc công ty mẹ và công ty con, theo
UNCTAD, cấu trúc của 1 TNC bao gồm các thành phần sau:
- Công ty mẹ: có thể là 1 công ty, 1 doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh
nghiệp có sự đầu tư trực tiếp ra nước ngoài .
- Doanh nghiệp hội nhập: là 1 công ty hoặc 1 doanh nghiệp mà nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư có hiệu quả. Doanh nghiệp đó có thể là doanh nghiệp phụ
hoặc chi nhánh
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
- Doanh nghiệp phụ thuộc: là doanh nghiệp hợp tác với công ty mẹ, chiếm
nửa số cổ đông hoặc là 1 cổ đông chính, có quyền chỉ định hoặc loại bỏ thành
viên.
- Liên doanh: là doanh nghiệp hợp tác với nước chủ nhà và sở hữu tối thiểu là
10% cổ phần.
trong đó công ty mẹ được đặt
tại nước sở tại
Công ty mẹ đặt tại
nước khác
Hình thức tài
sản
Do các quốc gia tự túc và toàn
quyền
Có quan hệ phụ thuộc
chặt chẽ với nhau
Tuy nhiên nhìn nhân dưới giác độ tổ chức sản xuất, công ty đa quốc gia
(MNC - multinational corporation) được định nghĩa là chủ thể của quá trình
sản xuất mang tính quốc tế, khi quá trình này có thể diễn ra ở một nước,
nhưng lại do một công ty có trụ sở ở nước khác kiểm soát. Theo cách hiểu
đó, công ty đa quốc gia được hợp nhất với khái niệm công ty xuyên quốc gia
(TNC - transnational corporation). Chính vì thế mà người ta thường gộp 2
khái niệm về TNC và MNC là một.
II .Vài nét về vị trí của các TNCs Hoa Kỳ trên Thế giới:
Các công ty xuyên quốc gia ngày nay là thế lực chi phối tuyệt đại bộ phận
nền kinh tế thế giới. Phạm vi ảnh hưởng của TNCs không chỉ giới hạn trong lĩnh
vực kinh tế mà đã mở rộng sang chính trị, văn hoá, tôn giáo, quốc phòng… Thế
lực đó không ngừng bành trướng, phát huy tác động dưới nhiều hình thức khác
nhau và ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của hơn 6 tỷ người trên thế giới.
Ngày nay có khoảng 40.000 công ty công ty xuyên quốc gia với khoảng
250.000 chi nhánh trên khắp thế giới. Các công ty này đang hình thành nên một
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
thế giới mới thông qua sự thống trị của họ trong lĩnh vực thương mại cùng khả
năng tài chính dồi dào, ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất, sự quốc tế hoá
nền sản xuất xã hội và nguồn đầu tư toàn cầu tăng nhanh. Và không phải TNC
bao gồm máy tính, thuốc lá, vũ trụ, vật liệu xây dựng, dược phẩm, sản phẩm lâm
nghiệp, nhà hàng, xà phòng và mỹ phẩm, các dịch vụ đa dạng và giấy.
Các chi nhánh nước ngoài của 23 TNCs về hàng thiết bị điện chiếm 80% tổng
doanh số ước tính toàn thế giới về loại hàng này. Điều này cho thấy những
ngành sản xuất quan trọng nhất đã trở nên độc quyền đến mức nào.42 trong 100
TNCs này là thuộc về châu Âu; 35 của Bắc Mỹ (trong đó Mỹ có 32 và Canada
có 3); 21 của Nhật; Úc và New Zealand mỗi nước có 1. Khu vực châu Âu thì
Đức dẫn đầu với 11, tiếp đến là Anh và Pháp – mỗi nước có 9.
TNCs thuê mướn một số nhân công khổng lồ cả trong và ngoài nước. Họ
cũng là những người dẫn đầu trong sa thải nhân công. General Motors có số lao
động nước ngoài cao nhất (270.0000, tiếp đến là Nestle (203.100), Philips
(200.000), Asia Brown Boveri (193.000).
42 trong 100 TNCs này tiến hành hơn phân nửa hoạt động của mình tại nước
ngoài.
V ề tình hình đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia hiện nay: Các
TNCs luôn đóng vai trò chủ thể của các dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới.
Trong những năm gần đây, nguồn vốn FDI liên tục tăng cao. Nếu những năm
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
1982 tổng vốn FDI trên thế giới là 59 tỷ USD thì đến năm 1990 là 202 tỷ USD
và năm 2005 là 916 tỷ USD.
Điều này cũng phản ánh các hoạt động M&A tăng lên cả về số lượng và giá trị.
Nếu như năm 1987 chỉ có 14 vụ M&A với giá trị 30 tỷ USD thì đến năm 2005
đã tăng lên 141 vụ với tổng giá trị là 454,2 tỷ USD. Lượng vốn FDI tăng lên cả
ở các nước phát triển và đang phát triển.
Theo điều tra của UNCTAD tiến hành năm 2005 với 355 TNCs lớn nhất của thế
giới cho thấy triển vọng của dòng FDI khá sáng sủa và sẽ tiếp tục tăng trong
những năm tới, đặc biệt là khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Trung và Đông
Âu.Trung Quốc và Ấn Độ ở Châu Á, Phần Lan ở Châu Âu được coi là những
nước sẽ có sự tăng trưởng lớn nhất về FDI. Theo các chuyên gia đầu tư thì triển
19.537 24.551 54.170 59.458 62.095
Nguồn: UNCTAD, World Investment report 2006.
Liệu TNCs có lớn hơn các nền kinh tế quốc gia?
Theo một bản danh sách mới (năm 2000) của UNCTAD sắp xếp các quốc
gia và TNCs trên tiêu chí giá trị gia tăng (hay GDP quốc gia) thì 29 trong tổng
số 100 thực thể kinh tế lớn nhất thế giới là TNCs. Trong số 200 TNCs có giá trị
tài sản lớn nhất thì Exxon xếp đầu về giá trị gia tăng (63 tỷ USD). Nó xếp thế 45
trong danh sách của UNCTAD, tương đương với quy mô kinh tế của Chile hay
Pakistan .Nigeria xếp giữa DaimlerChrysler và General Electric, trong khi Philip
Morris cùng hạng với Tunisia, Slovakia và Guatemala.
Giá trị gia tăng của TNCs tăng mạnh hơn so với các quốc gia trong những
năm gần đây, chiếm 4,3% GDP thế giới năm 2000 (năm 1990 là 3,5%). Điều đó
cho thấy tầm quan trọng tương đối của các công ty này đối với kinh tế toàn cầu
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
đang tăng. Mặt khác, đối với 50 TNCs hàng đầu, tỷ trọng giá trị gia tăng trong
GDP thế giới đã giảm trong thập kỷ qua. Trong danh sách tổng hợp 100 công ty
và quốc gia, năm 1990 có 24 TNCs (ít hơn 5 so với năm 2000).
B. Đặc điểm, tình hình đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa
Kỳ:
I. Đặc điểm hoạt động đầu tư và các nhân tố tác động đến chính sách đầu tư
ra nước ngoài của TNCs Hoa Kỳ
Nếu như mục tiêu hàng đầu của TNCs Nhật Bản là phát triển tập đoàn, chú trọng
tăng tỷ lệ chiếm lĩnh và khai thác thị trường thế giới, phát triển sản phẩm mới,
kỹ thuật mới, tăng cường vị trí cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước…
thì mục tiêu kinh doanh của TNCs Hoa Kỳ là luôn vươn tới tối đa hoá lợi nhuận
trong các hoạt động của mình. Từ mục tiêu đó, hoạt động đầu tư của TNCs Hoa
Kỳ mang những đặc điểm riêng, cũng như chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác
động riêng, đặc trưng cho mục tiêu kinh doanh mà TNCs theo đuổi.
Đặc điểm đầu tiên phải kể đến là hoạt động đầu tư của TNCs Hoa Kỳ mang
kinh doanh của các công ty này có diễn ra trôi chảy và thuận lợi không phụ
thuộc khá lớn vào điều kiện cơ sở hạ tầng của nước nhận đầu tư. Các cơ sở về
thông tin liên lạc, điện, giao thông vận tải…có ảnh hưởng lớn đến chi phí đầu
vào của quá trình sản xuất cũng như ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản
phẩm trên thị trường của các TNCs.
Một nhân tố khác mà các TNCs Hoa Kỳ cũng đặc biệt quán tâm khi quyết định
đầu tư đó là chất lượng nguồn nhân lực của nước nhận đầu tư. Không giống
như các TNCs Nhật Bản luôn chú trọng đến nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
nhiên dồi dào nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất…, TNCs Hoa Kỳ lại rất chú trọng
đến trình độ của nguồn nhân lực. Điều đó được giải thích bởi những ngành
TNCs Hoa Kỳ quan tâm là những ngành chế tạo, công nghệ cao và những dịch
vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn và khả năng quản lý của lao động cao. Đây là
một thách thức lớn đặt ra với Việt Nam trong việc thu hút nguồn đầu tư từ các
TNCs Hoa Kỳ, khi lợi thế của Việt Nam chỉ dừng lại ở nguồn lao động dồi dào
chứ không phải là độ phổ biến và đồng đều của lực lượng lao động trình độ cao.
Một trong những yếu tố không thể không kể đến đã và đang tác động to lớn đến
hoạt động của TNCs Hoa Kỳ trên thế giới đó là chính sách đầu tư ra nước ngoài
của Chính phủ Hoa Kỳ. Cơ chế chính sách đầu tư của Hoa Kỳ luôn hướng vào
việc khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài, điều này
thể hiện qua việc Chính phủ Mỹ đã thành lập nhiều tổ chức hộ trợ việc đầu tư
của các doanh nghiệp trong nước như Ngân hàng xuất khẩu (EXIMBANK),
công ty đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC); bên cạnh đó Chính phủ Mỹ cũng có
những chính sách nhằm bảo hộ quyền sở hữu tài sản cho các công ty Hoa Kỳ.
Ngoài ra, Chính phủ Hoa Kỳ cũng thực hiện việc ký kết các hiệp định song
phương với các đối tác như: Hiệp định bảo hộ đầu tư, Hiệp định thương mại…
và các hiệp định đa phương về thương mại khác. Việc tuân thủ những nguyên
tắc của WTO đã được Chính phủ Mỹ quan tâm trong khi đề ra các chính sách
của mình. Do đó, có thể thấy Chính phủ Mỹ luôn hướng tới mục tiêu tạo lập một
trọng của nó như là chiếc cầu nối cho TNCs Mỹ vào thị trường châu á rộng lớn.
Thứ ba, ngay trong thị trường châu á, TNCs Hoa Kỳ cũng có những điều chỉnh
nhất định. TNCs Hoa Kỳ đã đầu tư nhiều vào các thị trường lớn như Trung
Quốc, Singapore, Thái Lan , nhưng hiện nay cũng muốn phân tán các đầu tư
của mình, không muốn tập trung quá mức vào các thị trường này. Lý do rất đơn
giản là để tránh mạo hiểm, tránh hiện tượng “trứng bỏ vào một giỏ”, phân tán rủi
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
ro đầu tư ở những nước TNCs Hoa Kỳ đã đầu tư nhiều, hơn thế nữa TNCs Hoa
Kỳ còn muốn khám phá ‘miền đất mới’ để tìm kiếm lợi nhuận cho mình. Đó
cũng là một trong những đặc điểm của TNCs Hoa Kỳ đã được phân tích ở trên là
phát triển mạng lưới sản xuất và phân phối khép kín trong châu lục chứ không
chỉ ở một nước với sự liên kết cao và phân công chặt chẽ rõ ràng. Bởi vậy, nơi
mà họ tìm đến sẽ là Việt Nam và một vài nước đang nổi khác.
Thứ tư, TNCs Hoa Kỳ đang tích cực tận dụng những ưu đãi trong việc thu hút
đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển. Châu á - Thái Bình Dương là khu
vực có nhiều ưu đãi đó. Năm 2003, Mỹ đã đầu tư vào khu vực châu á - Thái
Bình Dương tới 463 tỷ USD (28,7% tổng đầu tư ra nước ngoài của Mỹ so với
24% năm 1990). Đặc biệt, những nước có ưu đãi thuế, đánh thuế vào lợi nhuận
thấp và tự do di chuyển lợi nhuận, càng thu hút được nhiều TNCs Mỹ. Với
những điều chỉnh này, trong những năm 1999-2002, lợi nhuận của TNCs Hoa
Kỳ tăng 68%, trong khi lợi nhuận của các chi nhánh TNCs Hoa Kỳ ở các nước
Anh, Đức và hàng loạt các nước khác giảm mạnh. Theo Bộ Thương mại Mỹ, có
17 cent trong 1 USD lợi nhuận Mỹ nhận được ở nước ngoài (năm 2003) là từ
các nước có mức thuế thấp, con số này năm 1999 chỉ là 10 cent.
Ngoài ra, sự điều chỉnh chiến lược của TNCs Hoa Kỳ còn thể hiện ở những mặt
khác, có ảnh hưởng lớn đến chính sách thu hút đầu tư TNCs Hoa Kỳ của Việt
Nam.
Một là, chính sách đầu tư của TNCs Hoa Kỳ trong những năm gần đây chủ yếu
là đầu tư để phục vụ cho các thị trường ở nước ngoài chứ không phải để xuất
và đạt 1.274 tỷ USD; trong đó, dịch vụ tài chính và bảo hiểm là 299,8 tỷ USD,
bán buôn 140,6 tỷ USD, ngân hàng 63,7 tỷ USD, thông tin 47,5 tỷ USD, dịch vụ
khoa học kỹ thuật 40,6 tỷ USD. Sự điều chỉnh này là thách thức với Việt Nam.
Thời điểm hiện nay, Việt Nam vẫn còn hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
dịch vụ đặc biệt là tài chính - ngân hàng, bưu chính viễn thông, bảo hiểm
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
III. Tình hình chung về hoạt động của TNCs Hoa Kỳ những năm gần đây:
Về lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (DIA): Theo Cơ quan nghiên cứu
và phục vụ Quốc hội Hoa Kỳ (CRS) 2006 thì : “Hoa Kỳ là quốc gia có lượng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào lớn nhất trên thế giới và cũng là nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trên thế giới”. Hoa kỳ là quốc gia thu hút FDI
mạnh nhất, là lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư quốc tế. Nhưng không chỉ
có thế, các nhà đầu tư Hoa Kỳ với những khoản vốn họ bỏ ra hang năm để đầu
tư vào thị trường ngoài nước cũng luôn dẫn đầu thế giới. Và phần lớn những
khoản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài này là của các công ty xuyên quốc gia Hoa
Kỳ trong việc phát triển chi nhánh ở các quốc gia khác.Tuy nhien, dòng vốn này
trong 7 năm trở lại đây cũng gặp những biến cố thăng trầm. Trong các năm đầu
thập kỷ, thế kỷ và thiên niên kỷ hiện nay nền kinh tế Hoa kỳ đã bị vấp vào cuộc
suy thoái kinh tế kéo dài gần 10 tháng (từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001).
Thêm vào đó, sự kiện diễn ra ngày 11/9 càng phủ bóng đen dày đặc hơn vào nền
kinh tế vốn không khả quan của nước này. Thời điểm đó,tình hình kinh tế toàn
cầu xấu đi; số các vụ sáp nhập và mua lại (M&A) của những công ty lớn giảm;
quá trình tư hữu hóa ở các nước có nền kinh tế chuyển tiếp tạm ngưng lại; và sự
mất lòng tin đối với các công ty bị bê bối tài chính và phá sản ở Mỹ là những gì
người ta nhận thấy ở giai đoạn này. Lượng FDI của thế giới giảm lien tiếp trong
3 năm 2001, 2002 , 2003, đến năm 2004 bắt đầu tăng nhẹ( theo báo cáo Đầu tư
Thế giới(WIR)2005 của Diễn đàn đàn về Thương mại và Phát triển của Liên
hợp quốc UNCTAD). Cũng theo báo cáo này, lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của các TNCs thế giới nói chung của Hoa Kỳ nói riêng cũng bị giảm theo.
từ mức 66% GDP năm 2001 lên 73% GDP năm 2004 và 74% GDP năm 2005,
với giá trị lên tới 9.088.019,2 tỷ USD. Giá trị tài sản của 500 công ty này cũng
lên đến 23.977.197,8 tỷ USD và lợi nhuận là 610.074,4 tỷ USD.
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Còn theo bản thống kê 100 công ty xuyên quốc gia hang đầu thế giới của
UNCTAD năm 2005 thì Hoa Kỳ có tất cả 24 công ty, trong 10 công ty dẫn đầu
thì Hoa Kỳ có 4 công ty, công ty có tổng khối lượng tài sản lớn nhất là General
electric của Hoa Kỳ (673342 triệu USD) bằng tổng của hai công ty đứng vị trí
thứ 2 và thứ 3 cộng lại là Vodafone group PLC của Anh (220499triệu USD) và
General motor của Hoa Kỳ (476078 triệu USD).
Về hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A): Do nhu cầu phát triển và tăng khả
năng cạnh tranh, ngoài việc thành lập các cơ sở mới, TNCs Hoa Kỳ đặc biệt ưa
chuộng hình thức sáp nhập và mua lại (M&A). Tăng tính cạnh tranh, giảm chi
phí và nâng khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ đa dạng là những lý do hàng
đầu khiến các tập đoàn tìm mọi cách thâu tóm các doanh nghiệp khác. Sáp nhập
tạo ra nguồn tài chính lớn cho các tập đoàn đa quốc gia, song cũng thường đồng
nghĩa với việc cắt giảm nhân lực và thay thế ban lãnh đạo tại các công ty bị thâu
tóm, do yêu cầu giảm chi phí và tái cơ cấu ở các doanh nghiệp này. Từ thập kỷ
90 đến nay, TNCs Hoa Kỳ luôn đi đầu về M&A trên thế giới. Đây là biểu hiện
của quá trình tập trung sản xuất lớn để thích ứng với quá trình toàn cầu hoá đang
diễn ra với cường độ cao như hiện nay, các doanh nghiệp cần phải có tầm vóc
đủ lớn để cạnh tranh toàn cầu.
Hoạt động của các M&A đã trải qua nhiều thăng trầm.Trong vòng hơn 100 năm
qua, Hoa Kỳ đã chứng kiến 5 chu kỳ đỉnh cao của các hoạt động sáp nhập công
ty, bước vào thế kỷ XXI nền kinh tế Hoa Kỳ lại tiếp tục chứng kiến một làn
song M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có.
Năm 2006, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt mức cao 3460tỷ USD, con số này của
năm 2007 là 4400 tỷ, tăng 21% so với năm ngoái ( theo số liệu thống kê sơ bộ
của hang thong tin tài chính Thomson Financial).
2002 so 2001 -17,5 -13,3 -2,2
2003 so 2001 -3,5 -1,6 4,3
Bảng trên cho thấy, trong thời kỳ suy giảm đầu tư thế giới, tình hình sử dụng
vốn của TNCs Mỹ cũng chậm lại. Trong hai năm 2002 và 2003, giá trị vốn sử
dụng đều giảm so với năm trước, đặc biệt năm 2002 với tốc độ giảm 13,3%. Tuy
nhiên, ở các chi nhánh thì không như vậy, tình hình sử dụng vốn vẫn tăng. Điều
đó cho thấy hoạt động TNCs ở nước ngoài vẫn được đầu tư phát triển.
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Về công nghệ: nhiều chuyên gia kinh tế cho răng: vị trí số 1 của Mỹ là do phát
kiến các kỹ thuật mới và triển khai công nghệ mới nhanh hơn bất kỳ nước nào.
Nhưng hiện nay Hoa Kỳ đang đứng trước nguy cơ tụt hậu do các nước châu Á,
đặc biệt là Trung Quốc đang đuổi theo về hoạt động R&D. Năm 2003, Hoa Kỳ
chi 189 tỷ USD cho hoạt động này( bằng của Anh, Canada, Đức, Nhật, Pháp, Ý
cộng lại ), năm 2004 là 290 tỷ USD. Đối với các TNCs, họ luôn coi hoạt động
R&D và công nghệ là những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm bảo đảm vị trí
cao của Mỹ trên thế giới. .Ví dụ như theo thời báo kinh tế viễn đông (FEER)
công bố danh sách top 10 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới năm 2003 do
độc giả bình chọn thì nguyê n nhân chủ yêú tạo nên sự thành công của các
công ty này đều gắn liền với đầu tư cho nghiên cứu phát triển, cải tiến công
nghệ. Trong 10 công ty đa quốc gia này (gồm Microsoft, Nokia, Toyota, Intel,
Coca cola, Sony, IBM, General electric, Nike và Citigroup)thì đã có tới 7 tâp
đoàn là của Hoa Kỳ (Microsoft, Intel, Coca cola, IBM, General electric, Nike,
Citigroup)Hàng năm, TNCs Hoa Kỳ đã chi một lượng vốn khổng lồ cho các
hoạt động R&D. Do đặc điểm của hoạt động này - cần nhiều vốn, qui mô lớn và
mang tính tập trung cao - nên nó được tiến hành chủ yếu ở các công ty mẹ
(chiếm khoảng 87%), tức là chủ yếu ở lãnh thổ Mỹ, và độc quyền công nghệ vẫn
là vũ khí quan trọng của TNCs Mỹ. Các MOFA có chi phí R&D khoảng 7-8%
tổng chi cho R&D của các công ty mẹ. Cơ cấu này cho phép Mỹ có thể chuyển
giao công nghệ thuận lợi và tận dụng được chất xám ở nước sở tại. Hiện nay,
tăng đáng kể. Ngay khi Hiệp Định Thương Mại Song Phương Việt-Mỹ có hiệu
lực vào tháng 12/2001, tuy chưa tác động nhiều đến tốc độ gia tăng vốn đầu tư
trực tiếp từ các TNCs Mỹ tại chính quốc, song lại có tác động rất tích cực đến
tốc độ tăng vốn đầu tư từ các TNCs Mỹ tại các nước thứ 3. Cụ thể, đã tăng từ
mức 3,2%/năm trong giai đoạn 1996-2001 lên 27,3%/năm trong khoảng 2002-
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
2004. Điều này cho thấy thị trường Việt Nam đã và đang thu hút được rất nhiều
sự quan tâm của các chi nhánh TNCs Mỹ. Đến nay, Việt Nam đã thu hút được
một số TNC nổi tiếng của Hoa Kỳ như: Coca Cola, PepsiCo, Ford, Citigroup,
Cargiel, American International Group, Cisco, Intel, P&G Theo Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Singapore, Hà Lan và Hong Kong là 3 vị trí dẫn đầu trong số 17 nước
và vùng lãnh thổ có chi nhánh của TNC Mỹ đầu tư vào Việt Nam. Những
thương hiệu nổi tiếng của Mỹ mà vừa được nhắc đến ở trên như : Coca Cola,
Procter & Gamble cũng được đầu tư từ TNC Mỹ tại Singapore, hay Exxon
Mobil lại được đầu tư từ Hồng Kông
Thống kê cho thấy, tốc độ tăng và lượng vốn đầu tư từ các TNC Mỹ tại các nước
thứ 3 cao hơn từ các TNC tại chính quốc, song, một thực tế cho thấy tuy các dự
án đầu tư của các TNC Mỹ thuộc diện này cao hơn nhưng quy mô dụ án thường
ở mức vừa phải, không lớn, công nghệ họ chuyển giao không phải là công nghệ
nguồn và đặc điểm hoạt động cũng có nhiều khác biệt với công ty mẹ ở Hoa Kỳ.
Chính vì vậy, điều mà Việt Nam hướng đến không chỉ là thu hút đầu tư từ các
chi nhánh TNCs Mỹ mà còn phải đặc biệt quan tâm đến việc thu hút đầu tư từ
các công ty mẹ tại chính quốc để có cơ hội tiếp cận được với nguồn công nghệ
hiện đại nhất.
Xem xét tình hình hoạt động đầu tư của các TNC Mỹ tại Việt Nam, có thể xem
xét ở 3 khía cạnh cụ thể sau đây :
- Về cơ cấu đầu tư, TNCs Mỹ quan tâm đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Việt
Nam, song lình vực mà họ quan tâm chú trọng nhất là các ngành công nghiệp
chế tạo, các ngành công nghệ cao, các lĩnh vực xây dựng và dịch vụ. Minh
Hồ Chí Minh trội hơn các nơi khác.
- Về hình thức đầu tư, đầu tư của các TNC Mỹ thường tồn tại dưới 3 hình thức:
hình thức đầu tư 100% vốn, hình thức liên doanh và hình thức hợp đồng hợp tác
kinh doanh. Song, hình thức chủ yếu mà các TNC của Mỹ lựa chọn không chỉ ở
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
VIệt Nam mà còn ở tất cả các nước khác trên thế giới là hình thức đầu tư 100%
vốn. Đơn giản vì mục tiêu chủ yếu của các TNC Mỹ là lợi nhuận, trong khi đó,
họ lại là nước có nguồn vốn và trình độ chuyên môn, đặc biệt là trình độ quản lý
rất cao. Vì vậy, chọn hình thức đầu tư 100% vốn họ sẽ thu được nguồn lợi nhuận
lớn nhất. Ngoài ra, cũng phải kể đến là hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là hình thức mà TNCs Mỹ lựa chọn bước đầu để tiến tới xây dựng nhà máy
và tiến hành đầu tư kinh doanh lâu dài ở Việt Nam. Có rất nhiều TNCs lớn của
Mỹ đang tiến hành đầu tư theo hình thức này ở Việt Nam.
II. Đánh giá hoạt động thu hút đầu tư của TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam
1. Những mặt tích cực
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư nhanh hơn so với đầu tư trực tiếp từ
Mỹ. Các công ty Mỹ có vị trí hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Điều đáng quan tâm là những công ty tầm cỡ thế giới của Mỹ đều đã có các dự
án qui mô lớn trong những lĩnh vực quan trọng của Việt nam. Chẳng hạn, các dự
án của Ford, Intel
Thứ hai, các dự án đầu tư từ TNCs Mỹ thường có quy mô lớn hơn hẳn so v ớI
các dự án đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Mức vốn đầu tư trung bình của các dự
án TNCs Mỹ là 20 triệu USD. Trong khi mức trung bình 1 dự án đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam chỉ khoảng 5,6 triệu USD, còn trung bình của các công ty
Nhật Bản là 9,5 triệu USD/dự án. Không những thế, dự án của các công ty Mỹ
đều được nhận xét là hoạt động khá hiệu quả. Theo đánh giá của Chủ tịch Hội
đồng thương mại Mỹ-Việt (USVTC), bà Virginia Foote, các công ty Mỹ đã có
mặt ở Việt Nam cách đây hơn 10 năm đều rất thành công, tỷ lệ dự án giải thể
trước thời hạn thấp. Có một số TNC đã mở rộng sản xuất, kinh doanh ở Việt
tưởng của các nhà đầu tư Mỹ. Việc tập đoàn Intel chọn Việt Nam là địa điểm
đầu tư là minh chứng rõ ràng nhất cho khẳng định trên. Đây là dự án lớn nhất
của TNCs Mỹ ở Việt Nam và cũng là dự án lớn nhất đầu tư vào công nghệ cao ở
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Đầu tư của các công ty xuyên Quốc gia Hoa kỳ và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Việt Nam từ trước tới nay.Điều này mở ra hy vọng mới về chuyển giao công
nghệ, đưa nước ta vào lĩnh vực sáng tạo và thiết kế các sản phẩm công nghệ cao.
Nó không chỉ là tín hiệu lạc quan cho nền kinh tế, mà qua đó, vị trí của Việt
Nam ngày càng được nhìn nhận trên trường quốc tế và hứa hẹn sẽ xuất hiện làn
sóng đầu tư mới từ các nước vào lĩnh vực công nghệ cao, nhất là công nghệ
nguồn.
2. Những mặt hạn chế
Việc thu hút và nhận được các dự án đầu tư từ các TNCs của Mỹ đã tạo ra
không ít những tác động tích cực đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam.Tuy
nhiên, không thể phủ nhận hoạt động thu hút đầu từ từ các TNCs của Mỹ vào
Việt Nam vẫn có những điểm hạn chế.
Thứ nhất, số các dự án đầu tư trực tiếp từ công ty mẹ tại chính quốc còn rất hạn
chế. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã thu hút được rất nhiều các dự án
đầu tư từ các TNCs của Mỹ. Song, hầu hết các dự án đó đều xuất phát từ các
TNCs của Mỹ ở một nước thứ 3 như Singapore, Hongkong hay Hà Lan Nếu
xét riêng đầu tư trực tiếp của các công ty mẹ từ Mỹ thì con số đó còn rất khiêm
tốn và không gia tăng đáng kể ngay cả khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ có
hiệu lực. Dù tổng vốn đầu tư của Mỹ tại Việt Nam đã tăng lên trong mấy năm
qua, nhưng số vốn này vẫn chỉ chiếm chưa đến 0,72% tổng đầu tư của Mỹ trong
khu vực, bằng 28% đầu tư Mỹ tại Thái Lan và 20% tại Indonesia trong năm
2003. Đây là điều mà chúng ta cần phải quan tâm. Việt Nam không chỉ chú
trọng vào thu hút đầu tư của các TNCs chi nhánh mà còn cần phải thu hút được
các công ty mẹ ở Mỹ đầu tư trực tiếp và có chiến lược lâu dài ở Việt Nam để có
cơ hội được tiếp cận với công nghệ nguồn - một trong những điều hết sức quan
trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là mục tiêu Công nghiệp hoá -
Nhóm I, Lớp Trung 2 - K44F - Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế