ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM ĐĂNG HƯNG
§Çu t- cña c¸c c«ng ty xuyªn quèc gia
nhËt b¶n T¹i viÖt nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1
CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẤY TNCs NHẬT BẢN ĐẾN ĐẦU TƢ TẠI
VIỆT NAM 12
1.1. NHÓM NHÂN TỐ CHUNG 12
1.1.1. Khái niệm và vai trò của TNCs 12
1.1.1.1.Các khái niệm về TNCs 12
1.1.1.2. Vai trò của TNCs 15
1.1.2. Phân loại và chiến lƣợc đầu tƣ trực tiếp của TNCs 15
1.1.2.1. Phân loại TNCs 16
1.2.2.2. Chiến lƣợc đầu tƣ trực tiếp của TNCs 16
1.2. NHÓM NHÂN TỐ VỀ PHÍA NHẬT BẢN 19
1.2.1. Các chính sách của Nhật Bản thúc đẩy TNCs Nhật Bản ra
nƣớc ngoài 19
2.1.3.1. Mitsui Bussan 57
2.1.3.2. Mitsui Bishi 58
2.1.3.3. Nisho Iwai 59
2.1.3.4. Sumitomo 59
2.2. Thực trạng đầu tƣ trực tiếp của các TNCs Nhật Bản 60
2.2.1. Qui mô và xu hƣớng 60
2.2.1.1. Qui mô 60
2.2.1.2. Xu hƣớng. 62
2.2.2. Cơ cấu theo ngành đầu tƣ 62
2.2.2.1. Ngành công nghiệp và xây dựng 63
2.2.2.2. Ngành Nông, Lâm, Ngƣ nghiệp 64
2.2.2.3. Ngành dịch vụ 65
2.2.3. Cơ cấu theo vũng lãnh thổ 66
2.2.3.1. Các trung tâm kinh tế lớn 66
2.2.3.2. Các tỉnh còn lại 67
2.3. Tác động đầu tƣ của TNCs Nhật Bản đối với Việt Nam 67
2.3.1. Tác động tích cực 67
2.3.1.1. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ 67
2.3.1.2. Một kênh thu hút vốn quan trọng 68
2.3.1.3. Chuyển giao công nghệ quản lý 69
2.3.1.4. Giải quyết việc làm 70
2.3.2. Mặt hạn chế 71
2.3.2.1. Vấn đề về môi trƣờng 71
2.3.2.1. Hiệu quả đầu tƣ còn thấp 72
CHƢƠNG 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÚT
ĐẦU TƢ CỦA TNCS NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM 73
3.1. Mục tiêu và phƣơng hƣớng 73
3.1.1. Mục tiêu 73
4
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Việt
AFTA
Khu vực thương mại tự do ASEAN
APEC
Các nền công nghiệp mới
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
R&D
Nghiên cứu và phát triển
TNCs
Các công ty xuyên quốc gia
UNCTAD
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
USD
Đô la Mỹ
WB
Ngân hàng Thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới 5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, vốn và Công nghệ là chìa khoá, là điều kiện hàng đầu để
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ cho
riêng Việt Nam mà cho mọi quốc gia. Đối với nước ta, trong điều kiện kinh tế
có xuất phát điểm thấp, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và
tránh nguy cơ bị tụt hậu, chúng ta không chỉ dựa vào nguồn vốn và công nghệ
trong nước mà còn phải biết thu hút cả các nguồn vốn và công nghệ của các
đạo hai quốc gia, nhưng đầu tư của các công ty Nhật Bản vào nước ta vẫn
còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. Hiện trạng này đặt ra nhiều câu
hỏi:
- Các công ty của Nhật Bản đã thực sự muốn đầu tư vào Việt Nam chưa?
- Những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó (Do hạn chế từ phía
công ty Nhật Bản hay do các rào cản từ phía các chính sách của Việt Nam)?
- Các công ty Nhật Bản có những lợi thế hay bất lợi gì so với các công ty
nước ngoài khác trong hoạt động tại Việt Nam?
- Trong thời gian tới, làm thế nào để thu hút được nhiều công ty Nhật
Bản vào Việt Nam đầu tư?
Để làm rõ các câu hỏi nêu ra ở trên, tôi đã chọn đề tài “ Đầu tư của các
công ty xuyên quốc gia Nhật Bản tại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ở nước ta, mặc dù FDI đã thu hút khá nhiều nghiên cứu, nhưng các
nghiên cứu về công ty nước ngoài, đặc biệt là công ty Nhật Bản còn rất hạn
chế. Cụ thể nêu một số công trình sau:
Về các công trình nghiên cứu trong nước:
7
- Đề tài "Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam",
tác giả: PGS.TS Đỗ Đức Bình, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Nội dung
cuốn sách nêu khái quát vấn đề đầu tư quốc tế, bản chất, đặc điểm, vai trò của
các công ty xuyên quốc gia và kinh nghiệm thu hút đầu tư của TNCs ở một số
nước. Trong đó, phân tích thực trạng thu hút đầu tư của TNCs tại Việt Nam;
dự báo tình hình đầu tư quốc tế và nhân tố tác động tới việc thu hút đầu tư của
TNCs của Việt Nam, từ đó nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm tăng
cường thu hút đầu tư của TNCs vào hoạt động đầu tư ở nước ta.
- Đề tài "Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) trước ngưỡng cửa thế kỷ
XXI" (1996), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, của hai tác giả PGS.TS Lê Văn
Sang và PGS.TS.Trần Quang Lâm. Mục đích chủ yếu của cuốn sách là
động chính sách của các nước đang phát triển đối với các công ty xuyên
quốc gia.
- Lê Xuân Bá, ”Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2006
- Hồ Châu, ”Công ty xuyên quốc gia và nền kinh tế không biên giới”, tạp
chí ngân hàng số 3/1994
- Nguyễn Duy Dũng (2001), ”Thương mại Nhật Bản trong thập niên đầu
thế kỷ XXI-những xu thế chủ yếu”, tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 3,
tr41-44
- Công Văn Dị ( 2005), ”Liên kết kinh tế trong công ty mẹ-công ty con ở
nước ta:vấn đề và giải pháp”, tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (số 329), tr 18-22
- Dương Phú Hiệp (chủ biên) (2001), ”Triển vọng kinh tế Nhật Bản
trong thập niên đầu thế kỷ XXI”, NXB KHXH, Hà Nội, tr 27-49
- Dương Phú Hiệp và Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) (2003), ”Điều chỉnh
chính sách kinh tế Nhật Bản”
- PGS.TS.Phùng Xuân Nhạ, ”Đầu tư quốc tế”, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội 2001
9
- PGS.TS.Phùng Xuân Nhạ, ”Giá chuyển giao giữa các chi nhánh của
công ty đa quốc gia”, tạp chí Kinh tế và Dự báo số 283/1996
- Trần Quang Lâm, ”TOYOTA – Một mẫu hình của các công ty xuyên
quốc gia thực hiện chiến lược nhất thể hóa sản xuất quốc tế”, tạp chí Nghiên
cứu Nhật Bản số 4/1996
- Võ Đại Lược (2006), ”Tình hình kinh tế Việt Nam từ 2005 đến nay”,
Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới”, số 4(120), tr 42
- Việt Nga, ”Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong nền kinh tế
thế giới”, tạp chí tài chính quốc tế, số 17 tháng 9/2002
- Nguyễn Văn Thanh, ”Quản trị tài chính công ty đa quốc gia”, Nxb tài
chính, Hà Nội, 2003
- Làm rõ động lực thúc đẩy TNCs Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam.
- Kiến nghị chính sách và giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng
cao hiệu quả đầu tư của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của thu hút TNCs Nhật Bản ở Việt
Nam.
- Khảo sát và đánh giá đầu tư của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng: đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật
Bản tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi: nghiên cứu đầu tư trực tiếp của các TNCs Nhật Bản ở
Việt Nam từ tháng 12 năm 1987 đến nay ( mốc ban hành Luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế
như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử … luận văn còn sử
11
dụng các phương pháp : phân tích và tổng hợp, phân tích so sánh, thống kê,
nghiên cứu trường hợp điển hình.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ các yếu tố quyết định thu hút các TNCs Nhật Bản vào Việt
Nam.
- Phân tích làm rõ thực trạng đầu tư trực tiếp của các TNCs Nhật Bản
tại Việt Nam.
- Kiến nghị chính sách và giải pháp mới nhằm tăng cường thu hút và sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn của TNCs Nhật Bản tại Việt Nam.
7. Bố cục của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
tiến bộ khiến các công ty có nhu cầu mở rộng sản xuất ra nước ngoài. Trong
khi đó, cạnh tranh gay gắt ngay tại thị trường nội địa cùng với hiệu suất biên
của vốn trong nước giảm là những nhân tố không thể thiếu được, tác động vào
quyết định mở rộng đầu tư ra nước ngoài của các công ty nội địa. Sang thể kỷ
XX, sự phát triển của mạng lưới thông tin liên lạc và phương thức vận tải đã
làm cho quy mô và hình thức tổ chức của các xí nghiệp thuộc địa cũng được
mở rộng theo. Các công ty xuyên quốc gia bắt đầu thực hiện các chiến lược
đầu tư ra nước ngoài để bố trí mạng lưới và địa điểm sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm sao cho hợp lý nhất. Do đó, quy mô lớn cả về sản xuất lẫn năng lực
quản lý, ứng dụng những kỹ thuật sản xuất hàng loạt, các công ty xuyên quốc
gia luôn muốn xuất khẩu và thành lập các tổ chức tiêu thụ không chỉ ở trong
nước mà còn ở nước ngoài. Việc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài để sản xuất,
tiêu thụ và mua nguyên liệu trở thành mục tiêu trong chiến lược đầu tư ra
13
nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia. Chính việc đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài, chuyển giao công nghệ… đã biến công ty xuyên quốc gia thành
lực lượng hùng mạnh trong nền kinh tế thế giới, đưa công ty xuyên quốc gia
lên vai trò cầm lái trong mạng lưới toàn cầu (Global Producation Network) và
trở thành nhà điều phối chính trong các hoạt động của chuỗi giá trị toàn cầu
(Global value chain).
Sự phát triển liên tục của công ty xuyên quốc gia về quy mô, cơ cấu tổ
chức, phương thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã
làm nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công ty xuyên
quốc gia. Mặc dù đều thừa nhận rằng, các công ty xuyên quốc gia phải là
những công ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế và có thể gọi là
những công ty đa quốc gia hay công ty xuyên quốc gia, tuỳ theo tiến trình
phát triển nhận thức chung về loại hình công ty này, nhưng chúng ta có thể
nhận thấy về cơ bản có hai loại quan điểm chính sau:
Thứ nhất, quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation)
quyền sở hữu trên 1/2 quyền biểu quyết của các cổ đông và có quyền chỉ định
hay bãi miễn phần lớn thành viên của Ban Giám đốc, Ban Quản lý hay Thanh
tra.
Công ty liên kết là công ty TNHH ở nước chủ nhà, trong đó nhà đầu tư
có sở hữu trên 10% nhưng không lớn hơn 1/2 quyền biểu quyết của các cổ
đông. Các chi nhánh là công ty trách nhiệm vô hạn có toàn bộ vốn ở nước chủ
nhà, 100% tài sản thuộc sở hữu của Công ty mẹ. 15
1.1.1.2. Vai trò của TNCs
Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, vốn
là những nước nghèo nàn và lạc hậu, trình độ sản xuất thấp kém. Để thoát ra
khỏi tình trạng trên, tất yếu chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá. Để thực
hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này, yêu cầu tối thiểu là phải có vốn,
công nghệ. Trong lúc nền kinh tế chưa có tích luỹ thì việc trông chờ nguồn
vốn trong nước là rất hạn chế. Mặt thứ hai của vấn đề là công nghệ: máy móc
và kỹ thuật. Thông thường, các nước có công nghệ hiện đại thường chỉ
chuyển giao những công nghệ không phải là tiên tiến. Các nước đang phát
triển như Việt Nam cần đến vốn và công nghệ của nước ngoài, đặc biệt là từ
những nước có trình độ phát triển kinh tế cao và có tiềm lực kinh tế mạnh.
Chỉ có các TNCs mới có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu cho công cuộc phát
triển kinh tế của các nước đang phát triển. Do vậy các TNCs có một vai trò rất
lớn.
+ Thứ nhất: Các TNCs là kênh tốt nhất để thoả mãn nhu cầu nhập
khẩu hàng hoá của các nước đang phát triển.
+ Thứ hai: Các TNCs là bạn hàng lớn, có sức mua lớn hoàng hoá từ
các nước đang phát triển.
+ Thứ ba: Thông qua hình thức đầu tư trực tiếp, các TNCs có thể góp
vốn, chuyển giao công nghệ cho các nước.
17
Cũng như đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới rất
nhiều chiến lược khác nhau.
Các chiến lược đầu tư trong đầu tư trực tiếp nước ngoài được chia
thành 4 loại chiến lược sau:
- Chiến lược tìm kiếm nguồn lực (Resource – seeking)
- Chiến lược tìm kiếm thị trường (Market – seeking)
- Chiến lược tìm kiếm hiệu quả (Efficiency – seeking)
- Chiến lược tìm kiếm tài sản chiến lược (strategic – asset – seeking).
Các chiến lược này có thể tiếp cận dưới góc độ như những chiến lược
kế tiếp trong toàn bộ quá trình đầu tư của công ty xuyên quốc gia tại nước
nhận đầu tư hoặc có thể tiếp cận như các chiến lược đơn lẻ được thực hiện
trong quá trình đầu tư của các công ty xuyên quốc gia.
* Chiến lược tìm kiếm nguồn lực:
Chiến lược tìm kiếm nguồn lực trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
nhằm mục đích tận dụng và khai thác các lợi thế so sánh của các quốc gia
trong quá trình đầu tư của các công ty. Các công ty sẽ khai thác những nguồn
lực đó có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho hoạt
động sản xuất hàng hoá của công ty như nguyên liệu thô, hoặc cũng có thể là
nguồn lao động dồi dào tại thị trường nội địa. Chúng ta có thể thấy rằng hầu
hết các công ty xuyên quốc gia từ các nước phát triển trong giai đoạn đầu khi
thực hiện đầu tư trực tiếp từ các nước đang phát triển đều thực hiện chiến
lược tìm kiếm nguồn lực bởi đây là yếu tố dễ nhận thấy và dễ thực hiện nhất
trong quá trình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
* Chiến lược tìm kiếm thị trường
Trong chiến lược này, các công ty xuyên quốc gia chú trọng đến quy
mô dân số và sự phát triển của thị trường nội địa. Bởi đối với những thị
18
xuất khẩu hàng hoá vào các thị trường khác trong khối.
1.2. NHÓM NHÂN TỐ VỀ PHÍA NHẬT BẢN
1.2.1. Các chính sách của Nhật Bản thúc đẩy TNCs Nhật Bản ra nƣớc
ngoài
1.2.1.1. Chính phủ Nhật Bản khuyến khích TNCs đầu tƣ ra nƣớc ngoài
Mục tiêu của Nhật Bản là phát huy lợi thế củng cố sức mạnh và tăng
cường vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế toàn cầu, sắp đặt hệ thống thương
mại, tài chính tiền tệ thế giới, định ra luật lệ mới chuẩn bị cho những thách
thức của thế kỷ 21. Để thích nghi với toàn cầu hoá, một mặt Nhật Bản cơ cấu
lại nền kinh tế, đầu tư vào các ngành mũi nhọn cho phù hợp với giai đoạn
phát triển mới của nền kinh tế thế giới. Chủ động tác động vào việc xếp đặt lại
các luật chơi mới của hệ thống thương mại, đầu tư, tài chính tiền tệ quốc tế
theo hướng tiếp tục đẩy mạnh tự do hoá thương mại và đầu tư trên bình diện
toàn cầu, xuyên khu vực, khu vực và song phương. Đồng thời Nhật Bản đã
định ra chiến lược toàn cầu hoá kinh tế đối ngoại hướng tới thế kỷ 21, mục
đích của nó là nhằm điều động và khai thác nguồn tài nguyên của toàn thế
giới phục vụ cho lợi ích quốc gia. Việc lấy sức mạnh quốc gia để thúc đẩy
kinh tế đối ngoại là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược kinh tế
đối ngoại Nhật Bản. Vì thế, Nhật Bản luôn khuyến khích các TNCs của mình
tìm kiếm các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận và mở
rộng tầm ảnh hưởng của Nhật Bản ở các nước nhận đầu tư.
1.2.1.2. Chính sách tỷ giá hối đoái
Nhằm trợ giúp các nhà đầu tư Nhật Bản giảm thiểu được rủi ro, thiệt
hại ở nước ngoài, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập rất nhiều các cơ quan có
20
vai trò hỗ trợ các TNCs của họ đầu tư ở hải ngoại, trong đó nổi bật là Ngân
hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA), Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), Tổ chức xúc
tiến Mậu Dịch (JETRO), Quỹ Hợp tác Hải ngoại của Nhật Bản (OECF),…
1.2.2.2. Lợi thế về công nghệ
Có thể khẳng định rằng, công nghệ chính là một trong các yếu tố cạnh
tranh quan trọng của các TNC Nhật Bản. Trong các kênh chuyển giao công
nghệ, TNCs Nhật Bản khéo léo sử dụng mỗi kênh cho từng lượng ưu tiên
công nghệ của mình. FDI sẽ vẫn luôn là kênh giúp cho TNCs Nhật Bản thâm
nhập sâu vào thị trường đối thủ cạnh tranh, khai thác triệt để thế mạnh của
mình về liên minh chiến lược và công nghệ luôn là mục tiêu hướng tới của
những TNCs muốn lãnh đạo thế giới trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Dù
dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật hay tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, các giải
pháp này đều đã góp phần đẩy nhanh các tiến bộ kỹ thuật trong nội bộ các
TNC. Thông thường, các TNC ít muốn chuyển giao toàn bộ công nghệ hiện
đại của mình, nhưng để tạo tính cạnh tranh của sản phẩm thì việc chuyển giao
công nghệ trong nội bộ các công ty diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Nhật Bản là
quốc gia có công nghệ nguồn và luôn có nhu cầu chuyển giao công nghệ
nhằm loại bỏ các công nghệ kém hiện đại, tạo ra các công nghệ mới. Không
chỉ có các công ty mẹ và các chi nhánh công ty Nhật Bản ở nước ngoài cũng
tích cực tham gia vào các ngành công nghệ cao. Do sử dụng các thành tựu
nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, tiếp cận được các công nghệ mới
nên hoạt động của các TNC Nhật Bản có lợi thế cạnh tranh rõ rệt trong số các
công ty nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam. Bởi thế, các công ty của Việt
Nam rất quan tâm đến chuyển giao công nghệ từ TNCs Nhật Bản.
22
1.2.2.3. Lợi thế về phân phối
Mục tiêu của TNCs Nhật Bản là phải đảm bảo lợi ích tổng thể của
Công ty hơn là lợi ích riêng của từng chi nhánh. Bởi vậy, việc xây dựng và
điều phối chiến lược phân phối được thực hiện từ trụ sở của công ty mẹ, các
chi nhánh chỉ thực hiện các quyết định từ trụ sở của công ty mẹ và báo cáo số
liệu, thông tin diễn biến thị trường về trụ sở của công ty mẹ.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống phân phối của các TNC Nhật Bản là tối
là từ Trung Đông, nước Nhật cũng có các mỏ sắt, đồng, vàng, bạc, chì…
nhưng trữ lượng cũng rất ít. Có thể nói rằng điểm yếu này đã khiến cho nền
kinh tế khổng lồ của Nhật rất dễ bị ảnh hưởng nặng nề trước biến động kinh
tế, chính trị và tự nhiên của Thế giới. Việc Nhật Bản khan hiếm các nguồn tài
nguyên có nghĩa là để công nghiệp hoá thành công, Nhật Bản phải nhập khẩu
một khối lượng lớn nguyên liệu và xuất khẩu các hàng chế tạo. Điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt đó, đã hun đúc tạo nên ở người Nhật những cá tính điển
hình đậm nét, đó là sự cần cù, chịu khó, sáng tạo và trung tín. Nó trở thành
một biểu tượng của tinh thần võ sĩ đạo và tính cấu kết cộng đồng của người
Nhật. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến triết lý kinh doanh của cộng đồng
doanh nghiệp Nhật Bản.
Trong hoàn cảnh khó khăn về nguyên liệu và khoáng sản như vậy, để
phát triển kinh tế đất nước cũng như của mỗi doanh nghiệp, tất cả các chủ thể
kinh doanh của Nhật Bản đều tìm mọi cách hướng ra bên ngoài, lấy thị trường
thế giới làm địa bàn hoạt động chính yếu.