Ôn thi đại học môn Văn - 2010 - Pdf 75


Ôn thi đại học môn Văn - 2010
tranh thống nhất nước nhà.
b) Riêng trong lĩnh vực sáng tác văn chương, nói đến tác giả Nguyễn ái Quốc là nói đến người đại biểu
duy nhất cho văn học cách mạng vô sản Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ này, người đã viết
hàng loạt những truyện ngắn và phóng sự - chính luận đặc sắc, mà tất cả đều có thể coi là những bản án
chế độ thực dân.
Còn tên tuổi của nhà thơ Hồ Chí Minh, nhà chính luận Hồ Chí Minh sẽ gợi nhớ đến:
Rất nhiều áng thơ đặc sắc, có giá trị t tởng và giá trị nghệ thuật cao, nhất là mảng thơ trữ tình mà tập thơ
Nhật ký trong tù là kết tinh ngời sáng nhất.
Rất nhiều bài văn chính luận giản dị mà sâu sắc, giàu tính chiến đấu
mà vẫn
nhân hậu,
khoan hòa, nhiều khi hóm hỉnh, trong đó, thành tựu có tầm vóc lớn lao nhất là bản
4. Quan điểm nghệ thuật
a) Nhưng không nên, và cũng không thể tách rời nhà văn Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh khỏi cách mạng
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh. Bởi vì viết văn làm thơ - trước hết là làm thơ tuyên truyền cổ động - với
Bác Hồ, cũng là một hành vi cách mạng, được tiến hành để phục vụ mục đích đấu tranh cách mạng. Không
vì nhiệm vụ cách mạng, nhiều tác phẩm văn chương của Bác chắc chắn đã không được viết ra
Nhưng khi đã vì cách mạng mà viết thì mục tiêu cách mạng cần đạt tới (viết để làm gì ?) và đối tượng cách
mạng cần tác động (viết cho ai ?) sẽ quyết định sự lựa chọn nội dung (viết cái gì ?) và hình thức (viết như
thế nào?) của tác phẩm văn chương. Vì thế, nếu ta thấy tác phẩm của Bác mang dáng dấp hiện đại của ph-
ương Tây hay hương vị cổ điển của phương Đông, tìm đến hạc cũ, trăng xưa cao nhã hay vẻ giản dị như lời
ăn tiếng nói thường ngày thì phải hiểu đó hoàn toàn không phải là sự tùy hứng của cá nhân mà có gốc gác
từ nhu cầu cách mạng.
b) Tuy vậy, cũng không thể hiểu một cách máy móc rằng, văn thơ của Bác chỉ được viết ra trực tiếp phục vụ
một nhiệm vụ cách mạng cụ thể. Cũng có khi, và không ít khi, Bác mượn việc làm thơ để tiêu bớt tháng ngày dài
(Nhật kí trong tù), hoặc làm thơ khi việc quân nước đã tạm nhàn mà lòng lại đang có hứng. Thơ chính là người. Vẻ
đẹp của những bài thơ được viết ra trong hoàn cảnh như thế, trớc hết và chủ yếu, là sự phản ánh vẻ đẹp của con
- 2 -

1. Vi hành là một truyện ngắn bằng tiếng Pháp, được Nguyễn Ai Quốc viết và đăng ở Pháp, trên báo
Nhân đạo ngày 19 tháng 2 năm 1923. Đây là một tác phẩm được viết ra vì mục đích cách mạng. Nó
nằm trong cả một hệ thống những bài văn, bài báo, vở kịch mà Nguyễn á i Quốc đã viết để tập trung đả
kích tên vua bù nhìn Khải Định khi y sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Macxây năm 1922. Qua
Vi hành, tác giả muốn cho công luận trong và ngoài nước Pháp thấy rõ rằng cái kẻ đang được đón tiếp
rùm beng như là thượng khách kia, thực chất chỉ là một tên hề lố lăng, hành vi lén lút và mờ ám mà giá
trị không hơn một thứ trò giải trí rẻ tiền.
2. Nhưng nội dung của Vi hành không chỉ giới hạn ở ý nghĩa phản phong. Tác phẩm còn là một tiếng
nói lên án chủ nghĩa thực dân, cái chế độ đã thông qua bọn tay sai làm cho những người dân thuộc địa
bị suy nhược giống nòi bởi rượu cồn và thuốc phiện, đã theo dõi, rình mò, bám lấy đế giày của những
người chân chính bằng một chính sách mật thám đê hèn. Chế độ thực dân, do đó, còn là nỗi tủi nhục
của người bản xứ, là sự sỉ nhục đối với con người. Như thế, Vi hành cũng là một trong những
phương cách mà Nguyễn á i Quốc sử dụng để đạt tới mục đích chống thực dân, đánh đổ phong kiến.
Việc viết Vi hành cũng là một hành vi cách mạng.
3. Nhưng Vi hành cũng là một tác phẩm thực sự có giá trị văn chương, một tác phẩm văn chương đích
thực. - ở đây, mục đích làm cách mạng không ngăn trở, không gò ép, không đối lập với sáng tạo văn
chương. Trái lại, mục đích cách mạng rất cần đến sáng tạo văn chương để có thêm sức mạnh. Có thể
nói, ở Vi hành - và cũng không chỉ ở Vi hành - nhiệt tình của nhà cách mạng Nguyễn á i Quốc đã
thôi thúc tài năng của nhà văn Nguyễn á i Quốc. Nguyễn á i Quốc viết Vi hành trước hết nhằm vào
độc giả người Pháp dân Pari vì thế phải viết có nghệ thuật sử dụng bút pháp của châu Âu hiện đại phải
đưa ra nhiều chi tiết quen thuộc với người Pari phải có thái độ khách quan tránh lời đả kích đao to búa
lớn. Lấy tố cáo lật tẩy làm mục đích tinh thần châm biếm đả kích phải là tinh thần của tác phẩm. Tinh
- 3 - thần ấy thấm sâu vào toàn bộ tác phẩm từ giọng điệu đến mọi tình tiết linh hoạt biến hoá để có thể
đánh địch từ nhiều phía và bằng nhiều cách.
II. Phân tích: Vi hành là một tác phẩm văn chương với nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo.
1. Trước hết phải kể đến sự tạo ra tình huống truyện, tình huống nhầm lẫn - Cái tài của tác giả biểu hiện ở

ở chốn xa xăm ấy cũng là xu thế trong văn học phương Tây không chỉ một thời. Vì thế dòng phụ đề
trong truyện sẽ đem lại ấn tượng thích hợp với khẩu vị văn chương của công chúng Pháp. Điều đó
chứng tỏ Nguyễn á i Quốc rất trung thành với phơng châm sáng tác của mình. Phải nhận thức rõ: viết
cho ai để xác định đúng: viết cái gì và viết như thế nào? Bởi vậy, viết truyện dưới hình thức th từ không
phải là một biện pháp sáng tạo mới mẻ. Nhưng trong trường hợp Vi hành đã đạt hiệu quả thẩm mỹ
độc đáo.
a) Dùng lối viết thư Nguyễn á i Quốc có thể đổi giọng và chuyển cảnh linh hoạt. Thư từ cho một người
thân trong quan hệ cá nhân là một thứ văn hết sức tự do phóng túng, nó giúp tác giả có thể đổi giọng
một cách thoải mái tự nhiên: từ giọng tự sự khách quan thuật lại những điều mắt thấy tai nghe trên tàu
điện ngầm đến giọng trữ tình thân mật khi nhắc lại kỷ niệm thân thiết với cô em họ. Có thể chuyển
cảnh rất linh hoạt: từ cảnh đi xe điện ngầm ở Pari, chuyển thẳng tới cảnh quê nhà thuở thiếu thời, khi
còn ngồi vắt vẻo trên đầu gối của ông Bác mà nghe chuyện cổ tíchtừ truyện cải trang của ông vua
Thuấn bên Tàu, vua Pie bên Nga, đến chuyện vi hành của những ông hoàng bà chúa vì những lý do ít
cao thượng hơn.
b) Liên hệ tạt ngang so sánh thoải mái :Thư là thứ văn rất chủ quan cứ phóng bút theo dòng cảm nghĩ tự
do và độc đoán của ngời viết. Nhờ thế tác giả có thể từ câu chuyện vi hành của Khải Định mà đa ra đủ
- 4 - thứ phán đoán giả định những hành vi bất chính và t cách dơ dáy của y phải chăng ngài muốn. Hay
ngài muốn ai cấm đợc ngời viết th nghĩ ngợi thoải mái nh vậy? Rồi từ chỗ đả kích Khải Định đến
châm biếm mật thám Pháp và cả Chính phủ Pháp đối với những ngời yêu nớc Việt Nam, mỉa mai chế
giễu cái tính chất bịp bợm của bọn thực dân luôn huênh hoang những công lao khai hoá của chúng đối
với dân thuộc địa. Lối viết th sử dụng một cách sáng tạo đã khiến tác phẩm trong khuôn khổ một thiên
truyện ngắn rất ngắn gọn đả kích một lúc nhiều đối tợng, đả kích từ nhiều phía bằng nhiều giọng điệu
khác nhau. Đồng thời tạo nên tính hài hớc sức hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm. 3. Giọng điệu trần thuật
ở ngôi thứ nhất tạo độ tin cậy xác tín. (Đây là trờng hợp thờng xuất hiện ở những tác giả có vị trí mở
đầu: nh Puskin, Khởi đầu của mọi khởi đầu nền Văn học Nga thế kỷ 19, Lỗ Tấn - ngời đặt nền móng
cho văn học vô sản Trung Hoa trong các tác phẩm đầu tay thờng sử dụng ngôn ngữ trần thuật ở ngôi
thứ nhất - Nguyễn á i Quốc viết Vi Hành những năm 1920. Đây là đại biểu đầu tiên và duy nhất của

hơn mời năm trời), lại bị giải đi quanh quẩn qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc Quảng Tây,
Ngời vẫn làm thơ. Ngời đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán ghi trong một cuốn sổ tay mà Ngời
đặt tên là Ngục trung nhật ký (tức Nhật ký trong tù).
2. Tập Nhật ký trong tù, vì thế, vừa ghi lại đợc một cách chân thực - chân thực nhiều khi đến chi tiết -
bộ mặt đen tối và nhem nhuốc của chế độ nhà tù cũng nh của xã hội Trung Quốc thời Tởng Giới
Thạch, vừa thể hiện đợc tâm hồn phong phú, cao đẹp của ngời tù vĩ đại. Về phơng diện này, có thể
xem Nhật ký trong tù nh một bức chân dung tự họa con ngời tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
vừa kiên cờng bất khuất -Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao- vừa mềm mại, tinh tế, hết
- 5 - sức nhạy cảm với mọi biến thái của thiên nhiên và lòng ngời; vừa ung dung tự tại, hết sức thoải
mái, nh bay lợn ở ngoài tù, vừa nóng lòng sốt ruột nh lửa đốt, khắc khoải ngóng về tự do, mòn mắt
nhìn về Tổ quốc; vừa đầy lạc quan tin tởng; luôn luôn hớng về bình minh và mặt trời hồng, vừa trằn
trọc lo âu, không bao giờ nguôi nỗi đau lớn của dân tộc và nhân loại, nhiều đêm một mình đối diện
đàm tâm với vầng trăng lạnh. Tất cả bắt nguồn từ bản chất của một tâm hồn yêu nớc lớn, một tấm
lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.
Mục đích
1. Qua bài thơ học sinh thấy đợc vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng
tha thiết với thiên nhiên, với con ngời, tìm thấy sự đồng cảm ở ngoại cảnh.
2. Bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: cổ điển mà hiện đại. Luôn nhìn sự vật trong
sự vận động.
Kiến thức cơ bản
1. Mộ (Chiều tối) là bài thứ 31 trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, ghi lại cảm xúc của nhà
thơ trong một lần dừng chân nơi xóm núi sau một ngày bị giải đi trên đờng.
2. Hai câu đầu là bức tranh thiên nhiên miền sơn cớc lúc hoàng hôn:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Cảnh đẹp nhng đợm buồn. Bức tranh đợc chấm phá bằng vài hình ảnh ớc lệ, theo bút pháp cổ điển: một
cánh chim chiều, áng mây đơn chiếc. Gợi nhớ những câu thơ cổ điển của Lý Bạch:

Đề 1: Một nhà nghiên cứu nớc ngoài, từ khi tập Nhật kí trong tù mới xuất bản, đã nhận thấy rằng tập thơ
này là sự kết hợp hài hòa giữa một cốt cách cổ điện với những sáng tạo hiện đại.
Anh (chị) thấy sự kết hợp ấy có đợc biểu hiện qua bài thơ Chiều tối hay không ?
Có thể dựa theo nội dung và lời lẽ của tác giả ý kiến đợc dẫn trong câu hỏi để nêu các ý sau:
Hai câu đầu của Chiều tối giống nh một bức tranh tuyệt tác theo lối cổ điển, đợc vẽ trên tấm lụa
bằng ngôn từ, với lời thơ uyên bác, gợi ra cả một thế giới thơ của những cô vân và quyện điểu, cái
thế giới thơ mà hình ảnh những cánh chim bay trở lại rừng vẫn quen đợc dùng để diễn tả lúc chiều
buông:
Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
(Lý Bạch)
Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành
(Nguyễn Du)
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
(Bà huyện Thanh Quan)
Trong khi đó, hai câu sau của bài thơ mang những hình ảnh thực, bình dị, mộc mạc không thêm
thắt, không dùng lối nói văn hoa, mang sức nặng của cuộc sống hàng ngày. Nó có tính chất hiện
thực của thơ văn hiện đại.
Nhng bài thơ không phải là hai mảng rời nhau. Nó gắn bó với nhau bởi tình cảm sâu nặng đối với
cuộc sống, chất nhân văn và tinh thần nâng niu tất cả, chỉ quên mình, nói theo cách của nhà thơ
Tố Hữu.

Đề 2. Lại có ngời muốn xếp Chiều tối, đặc biệt là hai câu cuối của bài thơ, vào số những vần thơ quên
mình của Bác. Anh (chị) hiểu điều đó nh thế nào ?
Nên nhớ đây không phải là một bài thơ ngoạn cảnh đợc viết trong một cảm giác thanh nhàn th thái kiểu
nh Rồi, hóng mát thuở ngày trờng....
Chiều tối là thơ của một ngời tha hơng trên quê ngời đất khách; hơn nữa, của một ngời tù trên đờng
chuyển ngục, trong cái giá rét cuối thu phơng Bắc, tận cho đến lúc đêm đã buông mà bớc chân lu đày vẫn
còn cha dừng lại.

đề thi và đáp án.)
Tảo giải
Yêu cầu
1. Phải thấy đợc Tảo giải là mẫu mực của sự kết hợp hài hoà giữa thép và tình, phẩm chất chiến sĩ và
cốt cách thi sĩ trong thơ Hồ Chí Minh.
2. Thấy đợc sự tinh tế, vẻ đẹp tâm hồn cũng nh tinh thần lạc quan, tin tởng vào tơng lai tơi sáng của
Bác.

Kiến thức cơ bản
1. Tảo giải là chùm thơ gồm 2 bài (bài 41 và 42) trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Cảm hứng
của bài thơ đợc hình thành trên đờng chuyển lao: từ nhà lao Long An đến nhà lao Đồng Chính.
Trong thơ cổ điển, hiện tợng một chùm thơ gồm nhiều bài khá phổ biến. Tảo giải gồm 2 bài vừa có
vị trí độc lập, vừa bổ sung ý nghĩa cho nhau khi đứng chung dới một nhan đề.
Bài thơ vừa có ý nghĩa tả thực về một cuộc chuyển lao, vừa thể hiện phẩm chất tâm hồn cao đẹp của ng-
ời tù, chiến sĩ, nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
2. Bài I. Chất thép - t thế chiến sĩ.
a) Hai câu đầu:
Nhất thứ kê đề dạ vị lan
Quần tinh ủng nguyệt thớng thu san
- 8 - Là bút pháp gợi tả: dùng tiếng gà gáy và những ngôi sao trên bầu trời để diễn tả thời gian ngời tù bị giải
đi từ lúc còn rất sớm. Những câu thơ thứ nhất giản dị nh một thông báo, nh không hề bị ám ảnh bởi cái tối
tăm, giá lạnh. Thiên nhiên ở câu thơ thứ hai lại sinh động, quây quần làm thành ý thơ đẹp. Cả hai câu thơ
thể hiện nghị lực và tâm hồn thơ tinh tế, nhạy cảm với cái đẹp của Hồ Chí Minh (vì thông thờng thơ viết
trên đờng đi đày, viết về những cuộc ra đi trong khuya khoắt, sớm hôm thờng dễ hiu quạnh).
b) Hai câu sau:
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thợng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

Tác giả
Vị trí của bài thơ trong tập Nhật kí trong tù
- 9 - Nội dung cần phân tích
b) Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh qua bài thơ:
Tâm hồn ung dung, thanh thản (không bận lòng vì đêm tối, gió lạnh), luôn hớng tới những tơi vui
của cuộc sống.
Tâm hồn nồng nàn tha thiết với đất trời, dạt dào cảm xúc thi ca.
Tâm hồn luôn hớng về tơng lai với một niềm tin khoẻ khoắn, một cảm quan lịch sử tơi sáng.
c) Đánh giá:
Bài thơ Tảo giải mà không thấy ngời tù, không thấy bọn lính áp giải. Chỉ thấy một ngời mở rộng
tâm hồn giao hoà với thiên nhiên, dõi theo những vận động tơi vui của cuộc sống.
Nó là sự kết hợp hài hoà của vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ với cốt cách chiến sĩ trong con ngời Hồ Chí
Minh.

Đề 3: Đã từng có nhiều cố gắng đi tìm ý nghĩa tợng trng của câu thơ: Chòm sao đa nguyệt vợt lên
ngàn. Có ngời cho trăng ở đây tợng trng cho Bác, còn sao là hình ảnh bọn lính giải tù. Lại có ngời cho
trăng là lãnh tụ, còn sao là quần chúng. ... Bao nhiêu vì sao nhỏ đang công kênh ánh nguyệt, phải chăng
là quần chúng giác ngộ đang ủng hộ ngời dẫn đờng ?
Anh (chị) cho biết phải hiểu thế nào mới đúng ?
Về ý kiến thứ nhất: Sao, dẫu cho có quan niệm là nhỏ hơn trăng và bé li ti chăng nữa, thì vẫn là
hình ảnh thơ đẹp đẽ và cao quí, không thể dùng để chỉ bọn lính giải tù.
Về ý kiến thứ hai: Cần chú ý rằng đây là bài thơ của Bác, và Bác Hồ, nh chúng ta đã biết, không hề
quan niệm nh thế về quan hệ giữa quần chúng và lãnh tụ.
Vậy thì trăng, sao và cả rặng núi mùa thu nữa, đều chỉ nên coi nh là hình ảnh của thiên nhiên. Một cách
hiểu nh thế không hề làm cho bài thơ kém phần ý nghĩa (bởi không thể nói bài thơ đã bị mất đi cái ý nghĩa
mà nó vốn không hề có). Ngợc lại, cách hiểu ấy sẽ trả lại cho bài Giải đi sớm này một nét thơ mộng mà sự
suy diễn không hợp lý trên đã làm cho bị mờ đi. Cách hiểu ấy cũng đem lại ấn tợng về một thiên nhiên

đáo ?
Có thể nghĩ đến câu quen thuộc nhất, ví nh:
Trời tối đen nh mực và nh cái tiền đồ của chị
(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)
Dễ thấy cảm hứng của Bác Hồ gần gũi với cảm hứng của nhà thơ cách mạng Tố Hữu và đối lập với ý t-
ởng bi quan của Ngô Tất Tố, vào lúc bấy giờ còn cha phải là nhà văn cách mạng. Sự khác nhau ở đây là sự
khác nhau giữa hai ý thức hệ, hai quan niệm về xã hội - nhân sinh, giữa cách mạng và không cách mạng.
Nó cho thấy chỉ các nhà cách mạng mới có khả năng nhìn nhận đúng tơng lai.
Tuy nhiên, cách cảm xúc về tơng lai của Bác Hồ, so với các thi nhân cách mạng khác, cũng có những
nét riêng. Bác nói đến tơng lai nh nó đã là hiện tại. Cái mà nhà thơ khác quả quyết là sẽ đến thì Bác lại nh
đang chứng kiến đợc rồi. Phải là ngời nắm rất chắc qui luật vận động của lịch sử mới có thể có một thi
hứng có tính chất tiên cảm, tiên tri nh thế.
Đề 7. Ngời ta vẫn thờng nói, Nhật kí trong tù tỏa ánh sáng của một trí tuệ lớn, một tâm hồn lớn và một
dũng khí lớn. Chứng minh rằng, một ánh sáng nh thế cũng có thể nhận thấy từ chùm thơ Giải đi sớm này.
Bài làm nêu gồm các ý:
Giải đi sớm tỏa ánh sáng của một trí tuệ lớn. Trí tuệ ấy lớn lao tới mức đã có thể vợt khỏi hiện tại
để từ trong bóng tối dày đặc của hôm nay nhìn ra ánh sáng của ngày mai.
Giải đi sớm tỏa ánh sáng của một tâm hồn lớn. Tâm hồn ấy bao la nh trời đất, chứa đầy vẻ đẹp vô
tận của tạo vật, của trăng sao, hòa cảm với mọi rung động trong vũ trụ.
Giải đi sớm tỏa ánh sáng của một dũng khí lớn. Dũng khí lớn ấy đã có thể làm cho con ngời ung
dung trớc thử thách của thiên nhiên khắc nghiệt và của những gian khổ ở đờng đời, cảm thấy tinh
thần thực sự ở ngoài lao dẫu thân thể còn ở trong vòng xiềng xích.

Yêu cầu
1. Hiểu đợc hoàn cảnh sáng tác của bài thơ và tình cảm cao đẹp, nghị lực phi thờng của Hồ Chí Minh.
2. Thấy đợc những nét phong cách phong phú đa dạng của thơ Hồ Chí Minh:
Cổ điển và hiện đại
Hiện thực và tợng trng
Thép và tình
- 11 -

diễn tả đợc nhiều tâm trạng.
4. Bản dịch của Nam Trân hay, khá sát nghĩa. Tuy nhiên, dòng đầu dịch là Núi ấp ôm mây đã làm
sai lệch chỗ đứng, điểm nhìn của nhà thơ. Bụi không mờ không đúng tinh thần của nguyên tác
tịnh vô trần.
5. Mới ra tù tập leo núi là một bài thơ đặc sắc cho thấy t thế cao cả, ung dung của một thi sĩ trớc thiên
nhiên bao la, vẻ đẹp của một chiến sĩ giàu nghị lực và lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Định hớng đề, gợi ý giải
Đề 1: Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh.
(Xem gợi ý phân tích ở phần II)
Đề 2:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
- 12 - (Núi ấp ôm mây, mây ấp núi)
Câu đầu tiên này của bài thơ, nhất là khi đọc theo nguyên tác, gợi cho anh (chị) nhớ tới câu thơ nào của
Bác Hồ đã đợc học trong các tiết giảng văn ? Từ đó, anh (chị) có nhận xét gì về sự rung động và cách
miêu tả thiên nhiên của Bác ? Hãy cố gắng tìm thêm ví dụ để làm rõ hơn nhận xét của anh (chị).
Gợi ý:
Câu thơ ấy chắc chắn sẽ gợi nhớ đến câu thơ cũng mong chữ ủng:
Quần tinh ủng nguyệt thớng thu san
(Chòm sao ôm ấp vầng trăng và cùng nhau vợt lên rặng núi thu).
Những câu thơ cho thấy Bác luôn nhận ra sự quấn quýt, hòa điệu trong thiên nhiên, trong vũ trụ. Đấy là
cái nhìn của một con ngời, giữa muôn vàn lao khổ vẫn không thôi trìu mến cuộc đời. Đấy cũng là cái nhìn
của con ngời làm chủ hoàn cảnh, hòa hợp cùng hoàn cảnh.
Một cách nhìn thiên nhiên nh thế, ta sẽ còn gặp trong nhiều câu thơ khác nữa. Ví dụ nh:
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
(Cảnh khuya)
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên (Sông xuân nớc lẫn màu trời thêm xuân) (Rằm tháng giêng)
Sao đa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo

Gợi ý:
a) Có thể lấy dẫn chứng từ các câu nh:
Mây ma mây tạnh, bay đi hết, Còn lại trong tù khách tự do (Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây)
Tự do tiên khách trên trời, Biết chăng trong ngục có ngời khách tiên. (Quá tra)
b) Mới ra tù tập leo núi không có những chữ nh tiên khách, nh khách tự do nh trong hai bài thơ vừa
dẫn. Nhng nó đã vẽ ra một thế giới lâng lâng, cao khiết, nh chỉ dành cho các bậc khách tiên, và con
ngời dạo bớc ung dung trong thế giới ấy còn có thể là ai, nếu không phải là tiên khách, là bậc đạo
cốt tiên phong ?

Đề 5: Câu thơ cuối cùng đọc lên theo nguyên tác, sẽ thấy có một âm điệu nghe rất thích:
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân
Có ngời từ câu thơ này đã liên tởng đến những câu thơ có từ thời Đờng Tống:
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
(ở nơi xa cũng biết nơi anh em đang lên cao đấy)
Vơng Duy, thi sĩ đời Đờng
Vọng mĩ nhân hề thiên nhất phơng
(Nhớ ngời quân tử ngóng trong bên trời)
Tô Đông Pha, thi sĩ đời Tống, lời dịch của Phan Kế Bính
Sự liên tởng ấy có ý nghĩa gì không ?
Sự liên tởng đó làm cho nỗi bồi hồi trong hai câu thơ càng trở nên vô hạn vì trong nó nh hiện về, nh mơ
màng đồng vọng tiếng lòng nhớ tri kỷ của các thi nhân trên dới nghìn năm trớc.
Đề 6: Bàn về chất thép của Nhật kí trong tù, Hoài Thanh nêu ý kiến:
... Khi Bác nói trong thơ nên có thép, ta cũng cần phải hiểu thế nào là chất thép ở trong thơ. Có lẽ phải
hiểu rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép, mới là có tinh thần thép.
Bài làm nên nêu các ý:
a) Mới ra tù tập leo núi không hề có chữ thép, càng không hề lên giọng thép.
b) Nhng dù có thế, hay đúng hơn, chính vì thế, mà bài thơ mang chất thép tuyệt vời. Là bởi:
Chữ thép ở đây đợc dùng để chỉ sức mạnh của tinh thần.
- 14 -


may mắn và đẹp đẽ với lí tởng cách mạng. Đợc lôi cuốn vào phong trào đấu tranh, trở thành ng-
ời lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế. Cũng thời kỳ này ông bắt đầu làm
thơ. Con đờng thơ ca của Tố Hữu gần nh đồng thời với con đờng hoạt động cách mạng.
Tập thơ Từ ấy bao gồm các sáng tác trong khoảng 10 năm (từ 1937- 1946) của Tố Hữu. Từ
ấy ghi lại khoảnh khắc đẹp đẽ nhất, ấn tợng sâu đậm nhất của một tâm hồn trẻ khao khát lẽ
sống đã gặp ánh sáng của lý tởng và quyết tâm dâng hiến cuộc đời mình cho lý tởng ấy.
Từ ấy đã đa đến cho cuộc đời một kiểu ngời, một mẫu ngời mới: Mẫu ngời đợc chân lý soi sáng, sống
có ý thức, có mục đích, tâm hồn phong phú đậm đà, gắn bó với tập thể nhng không tan biến vào số đông
vẫn là tôi.
Hoàn cảnh hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên ở Huế từ năm 1938, vào Đảng năm
đó. Giai đoạn này, Tố Hữu làm nhiều thơ lu truyền trong học sinh sinh viên, tạo ra đợc một d
luận tốt. Tố Hữu bị theo dõi và tháng 4/1939 bị mật thám Pháp bắt và giam ở nhà lao Thừa
Thiên.
Đọc những dòng cuối cùng ghi phía dới bài thơ: Xà lim số 1, lao Thừa Thiên 29/4/1939, ta biết đợc địa
điểm, thời gian cụ thể tác giả đã viết bài thơ. Nhng địa điểm và thời gian ấy còn nói với ta nhiều điều khác
- 15 - nữa. Khi viết bài thơ này, Tố Hữu còn rất trẻ - một chàng trai còn rất trẻ, lòng đầy nhiệt huyết, tuổi 20 là
tuổi bùng nổ của những ớc mơ và khát vọng, của niềm tin tởng say mê và bồng bột, đậm màu sắc lãng
mạn. Bài thơ ghi lại những cảm xúc, tâm trạng của tuổi trẻ ấy, tâm hồn ấy khi đột ngột bị ném vào bốn
bức tờng ngục tối, chịu cảnh tù đầy. Bị tù đày trên chính quê hơng, khi ngoài kia là bạn bè, là phong trào
cách mạng, là tất cả cỏ cây và đất trời quen thuộc
II. Phân tích
1. Phần 1
Khi đứng lại sau cánh cửa xà lim khép chặt, có lẽ thấm thía nhất, ấn tợng nhất trong lòng
ngời tù là nỗi cô đơn. ở ngời tù trẻ tuổi này cũng vậy, phần đầu bài thơ tập trung khắc họa
tâm trạng cô đơn bằng một bút pháp lãng mạn đặc sắc.
Cô đơn thay là cảnh thân tù !
Một tiếng kêu than nh vậy đứng đầu hai khổ thơ liên tiếp, cho ta hiểu ngời tù đang rất cô đơn. Càng cô

- 16 - Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Không phải một tiếng chim đơn lẻ mà là một tiếng chim reo trong gió mạnh lên triều, hình ảnh thơ thật
mạnh mẽ và dữ dội. Tiếng chim reo trong gió mạnh chính là biểu tợng niềm khát khao tự do một cách
mãnh liệt trong lòng tác giả.
Tiếng dơi:
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Tiếng dơi vội vã đập cánh trong chiều gợi nên vẻ đẹp thi vị và gợi nhiều nỗi niềm xao xác.
Tiếng lạc ngựa:
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Câu thơ thể hiện sự tinh tế nhạy cảm và sức mạnh của tởng tợng: Từ một tiếng lục lạc vang lên nhà thơ
hình dung thấy chú ngựa thấm lạnh cuối ngày, đứng bên giếng rùng mình rất khẽ, từ cái rùng mình đó làm
rung lên một tiếng lục lạc. Câu thơ cũng hàm chứa tâm trạng ngời viết: Thấm thía cái lạnh của sự cô đơn.
Tiếng guốc:
Dới đờng xa nghe tiếng guốc đi về
Đây là âm thanh duy nhất gần gũi với con ngời, mang hơi hớng con ngời. Câu thơ không có chút dụng
công nghệ thuật gì nhng lại có sức lay động lớn. Nó gợi lên không khí vắng vẻ của một đờng phố cạnh nhà
lao. Có vắng vẻ thì tiếng guốc mới vọng lên nh thế. Có thể hình dung những bớc chân đi qua, xa dần theo
tiếng guốc nhỏ dần vọng lại, rồi có những bớc chân trở vềTiếng guốc là biểu tợng của cuộc đời bình dị,
của cuộc sống thờng ngày, của những gì thân thơng về cuộc sống. Câu thơ bộc lộ một tấm lòng khát khao
hớng về cuộc sống, một tâm hồn nhạy cảm rung động trớc những âm thanh bình dị nhất của cuộc đời.
Cùng thời gian này cũng có một thi sĩ lãng mạn trẻ có cái nghiêng tai kỳ diệu:
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng, dặm mòn lẻ loi
Tiếng chân ngời trong thơ của thi sĩ lãng mạn chỉ gợi lên sự chia lìa: nghe đi nên tất cả đều là buồn,
cô đơn chỉ thấy những chân xa vắng, chỉ thấy những dặm mòn lẻ loi. Bớc chân ngời đợc cảm nhận qua
tâm hồn ngời chiến sĩ cách mạng thì có cả đi và về, có ra đi mà cũng có xum họp, đầm ấm thân thơng.
Trong 4 chi tiết trên hành động lắng nghe không chỉ hiểu theo nghĩa thông thờng, ở đây tác giả còn

Tôi chỉ một con trong muôn ngời chiến đấu.
Để đi tới một lời thề hành động quyết liệt nh dao chém đá, không gì lay chuyển nổi.
Tôi cha chết nghĩa là cha hết hận
Nghĩa là cha hết nhục của muôn đời
Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi
Còn trừ diệt cả một loài thú độc
Câu thơ cuối cùng: Có một tiếng còi xa trong gió rúc, nh một sự tập hợp, khái quát ở cấp độ cao
tất cả những tâm t tình cảm, mơ ớc, quyết tâm ở trên. Tiếng còi nh một biểu tợng của tự do, tung
hoành; tiếng còi ấy là tiếng còi xung trận, tiếng còi tập hợp đội ngũ, tiếng còi mở ra một thế giới,
một tơng lai tốt đẹp.
Định hớng ra đề và gợi ý giải:
Đề 1: Phân tích tâm trạng và cảm xúc của nhân vật trữ tình ngời thanh niên cách mạng trong đoạn thơ
sau ở bài Tâm t trong tù của Tố Hữu:
Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu !
Đây âm u đôi ánh lạt ban chiều
(....)
Hơng tự do thơm ngát cả ngàn ngày
Gợi ý: Sử dụng toàn bộ nội dung phân tích phần một của bài thơ trong phần kiến thức cơ bản ở trên.
Đề 2. Anh (chị) hãy phân tích hai câu thơ dới đây trong bài Tâm t trong tù của nhà thơ Tố Hữu:
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
- 18 - Dới đờng xa nghe tiếng guốc đi về
Gợi ý:
Đây có thể coi là hai câu thơ hay nhất trong bài thơ, thể hiện tâm hồn nhạy cảm tinh tế, sức tởng tợng
phong phú của nhà thơ.

nghĩa đại diện phe Đồng minh vào giải giáp vũ khí phát xít Nhật. ở miền Bắc 20 vạn quân Tàu Tởng mợn
oai của đế quốc Mỹ đang áp sát biên giới. Điều cực kỳ nguy hiểm là chúng âm mu cớp lại đất nớc của
chúng ta nhân danh phe Đồng minh chiến thắng với chiêu bài: lấy lại mảnh đất bảo hộ đã bị bọn Phát xít
nhật chiếm đóng trong chiến tranh.
Chúng ta nhất thiết phải chống Thực dân Pháp - một thành viên chủ chốt của phe Đồng minh nhng lại
nhất thiết không thể chống Đồng minh. Đây là một vấn đề cực trọng yếu và cũng cực kỳ tinh tế đòi hỏi sự
khôn khéo và sáng suốt và bản lĩnh của ngời lãnh đạo.
- 19 - 3. Đối tợng: Tuyên ngôn độc lập hớng tới không chỉ đồng bào trong cả nớc mà còn là nhân dân trên
thế giới, trớc hết là nhân dân tiến bộ ở Pháp và Mỹ. Nó không nhằm chỉ khẳng định quyền tự do
độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn bao hàm một cuộc tranh luận ngầm nhằm vạch trần luận điệu
xảo quyệt của kẻ thù trớc công luận.
4. ý nghĩa
Đây là một văn kiện lịch sử, chính trị hết sức quan trọng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Văn kiện ấy đã trang
trọng tuyên ngôn về nền độc lập của tổ quốc Việt Nam sau ngót trăm năm phải sống dới xiềng xích thực
dân. Văn kiện ấy còn tuyên bố sự cáo chung của chế độ quân chủ đã tồn tại mấy mơi thế kỉ.
Tuyên ngôn độc lập là lời tuyên bố trịnh trọng và hùng hồn về sự chấm dứt kỷ nguyên bóc lột, áp
bức và mở ra một kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc.
Tuyên ngôn độc lập là phát súng mở màn cho phong trào đấu tranh giải phóng ở các nớc thuộc địa
trên toàn thế giới.
II. Phân tích
1. Giá trị nội dung: Tuyên ngôn độc lập không những là văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn
mà còn là tác phẩm văn học, là đỉnh cao của văn học chính luận trong văn học Việt Nam.
Với t cách là một tác phẩm văn học chính luận thì Tuyên ngôn độc lập là áng văn yêu nớc lớn
của thời đại, là tác phẩm chứa đựng t tởng nhân văn: (Yêu nớc trong tiếng nói của một chiến sĩ
cách mạng, một nhà ái quốc vĩ đại. Nhân văn trong tiếng nói của một nhà nhân đạo chủ nghĩa).
a. Tuyên ngôn độc lập là áng văn yêu nớc lớn của thời đại.
T tởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là t tởng độc lập dân tộc, nguyện vọng thiêng liêng cao cả

tháng Tám của ta với hai cuộc cách mạng của Pháp và Mỹ. Quả thật hai cuộc cách mạng nói
trên mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài ngời thì cuộc cách mạng
tháng Tám của ta cũng mở ra một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên dành độc lập dân tộc ở các
nớc thuộc địa, là kỷ nguyên sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Cách lập luận của Bác khôn khéo nhng vẫn kiên quyết dờng nh tác giả đã ngầm cảnh cáo nếu
Pháp xâm lợc Việt Nam thì chính họ đã phản bội lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc họ đã đúc
kết thành chân lý ghi trong bản tuyên ngôn. Họ sẽ vấy bẩn lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà
cha ông họ từng dơng cao.
Với đoạn mở đầu tác giả đã tạo cơ sở lý luận vững chắc để triển khai lập luận ở phần sau
* Phần tiếp theo của tác phẩm lòng yêu nớc, nguyện vọng độc lập dân tộc của nhân dân ta lại đợc khẳng
định chắc chắn trên cơ sở thực tiễn. Thực tiễn về phía Pháp và thực tiễn về phía Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn đã phủ nhận quyền của Pháp đối với Việt Nam - cách dựng lên bản cáo trạng đanh
thép của tác phẩm.
Nếu Pháp nêu chiêu bài Pháp có công khai hoá đối với Việt Nam, Việt Nam vốn là thuộc địa của
Pháp thì bản Tuyên ngôn vạch rõ: Pháp chính là kẻ xâm lợc, gây bao tội ác. Bản Tuyên ngôn tố cáo
một cách toàn diện tội ác này về chính trị, kinh tế.
Về chính trị: Chúng tuyệt đối không cho dân tộc ta chút quyền tự do dân chủ nào, chúng chia nớc
ta thành ba kỳ với ba chế độ khác nhau. Mục đích là chia rẽ tình đoàn kết dân tộc, ngăn cản sự
nghiệp thống nhất đất nớc của nhân dân ta. Chúng đàn áp những ngời yêu nớc thơng nòi, tắm các
cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng thực hiện chính sách ngu dân, lập nhà tù nhiều
hơn trờng học. Chúng đầu độc nhân dân ta bằng rợu cồn và thuốc phiện để ta suy kiệt giống nòi.
Về kinh tế: Chúng cớp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, bóc lột sức lao động, chúng thực hiện
chính sách thuế hà khắc, vô nhân đạo khiến mọi tầng lớp nhân dân không ngóc đầu lên đợc.
Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp và phát xít Nhật là đã gây ra thảm hoạ nạn đói năm 1945 làm 2
triệu ngời chết đói.
Tác giả còn tố cáo tội ác của Pháp đã đầu hàng Nhật một cách nhục nhã, bán rẻ nớc ta cho Nhật để
phủ nhận chiêu bài của Pháp có công đứng về phe Đồng minh chống phát xít bảo vệ Việt Nam. Bản
Tuyên ngôn chỉ rõ: chỉ trong vòng 5 năm mà đã hai lần Pháp quỳ gối mở cửa nớc ta rớc Nhật. Tố
cáo hành động này của Pháp một lần nữa bản tuyên ngôn đã phủ nhận quyền của Pháp đối với Việt
Nam.

Phần kết thúc bản tuyên ngôn tác giả tiếp tục khẳng định lòng yêu nớc, nguyện vọng độc lập dân
tộc của nhân dân ta vừa trên cơ sở công lý vừa trên cơ sở thực tiễn. Về mặt công lý, nếu tác giả đã
công nhận quyền độc lập dân tộc tự quyết tại hai hội nghị: Tê hê răng (1943) và Cựu Kim Sơn
(1945) thì họ nhất định sẽ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Nếu không thì
nhân dân ta sẽ phát huy truyền thống yêu nớc bất khuất để giữ vững quyền tự do độc lập ấy: Toàn
thể dân tộc Việt Nam quyền tự do độc lập ấy.
Bản Tuyên ngôn đã kết thúc bằng câu văn khẳng định lòng yêu nớc bằng lời thề quyết tử cho tổ quốc
quyết sinh. Đặt trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam thì Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của
văn học yêu nớc từ Nam quốc sơn hà đến Bình ngô đại cáo đến Tuyên ngôn độc lập là những chặng đ-
ờng khác nhau của cùng một chân lý Không có gì quý hơn độc lập tự do.
b. Tuyên ngôn độc lập không những là áng văn yêu nớc mà còn chứa đựng t tởng nhân văn cao đẹp.
Mặc dù bản tuyên ngôn không trực tiếp nói đến nhân quyền, nhng yếu tố nhân quyền vẫn thấm trong
toàn bộ tác phẩm. Ngời viết Tuyên ngôn tố cáo tội ác của thực dân Pháp vừa đứng trên lập trờng dân tộc
để đòi độc lập tự do, vừa xuất phát từ quyền con ngời để khẳng định những giá trị nhân văn chân chính để
lên án hành động chà đạp lên con ngời trái hẳn với lẽ phải và nhân đạo. Bản tuyên ngôn khẳng định độc
lập dân tộc nhng trong chiều sâu của nó cũng là đòi vấn đề nhân quyền bởi vì ở một nớc nh Việt Nam thì
độc lập dân tộc sẽ là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền.
Bản Tuyên ngôn độc lập không những khẳng định truyền thống yêu nớc bất khuất mà còn đề cao
truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Mặc dù bọn thực dân xâm lợc gây bao tội ác đối với đồng
bào ta nhng nhân dân Việt Nam vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động 9/3,
Việt Nam đã giúp cho nhiều ngời Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho ngời Pháp ra khỏi nhà giam Nhật
và bảo vệ tính mạng, tài sản của họ.
Nêu cao truyền thống đạo lý nhân nghĩa, bản Tuyên ngôn độc lập đã phát huy truyền thống nhân đạo
của nhân dân Việt Nam trong bản Thiên cổ hùng văn BNĐC:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cờng bạo.
2. Giá trị nghệ thuật
a. Bản Tuyên ngôn độc lập có kết cấu chặt chẽ lập luận đanh thép.
Tác phẩm gồm 3 phần có mối quan hệ hữu cơ bổ sung cho nhau: phần 1 nêu cơ sở pháp lý,
đặt cơ sở lý luận: phần 2 soi sáng chứng minh bằng thực tiễn: phần cuối rút ra kết luận. Các

đầu hàng Nhật một cách nhục nhã mà viết thực dân Pháp quỳ gối mở cửa nớc ta rớc Nhật. Câu văn

hình tợng đã
diễn tả đợc thái độ hèn nhát và tự ti nô lệ của Pháp trớc Nhật. Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn học yêu nớc,
đỉnh cao của văn chính luận. Trong cả cuộc đời, làm văn viết văn của Bác thì hai lần ngời cảm thấy sung sớng và
sảng khoái nhất khi đặt bút viết đó là lần viết Bản án
chế độ thực dân Pháp để lại bản cáo trạng đanh thép
kết tội chúng và lần viết Tuyên ngôn độc lập để tuyên bố cáo chung chế độ thực dân ấy.
Định hớng đề gợi ý giải
Đề 1. Hãy xác định ranh giới và mối quan hệ giữa các phần lớn trong bản Tuyên ngôn độc lập
Gợi ý
Phần thứ nhất của bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch - phần nêu chân lí - kết thúc ở câu: Đó là
những lẽ phải không ai chối cãi đợc.
Phần thứ hai của bản Tuyên ngôn nối liền với phần trên bằng hai chữ Thế mà. Trong tiếng Việt, chữ mà
đợc dùng để biểu thị quan hệ không phù hợp cùng nhau, trái ngợc với nhau. Quan hệ giữa phần thứ nhất
và phần thứ hai của bản Tuyên ngôn chính là nh thế. Với hai chữ thế mà rất ngắn gọn và hoàn toàn xác
đáng, tác giả nh báo trớc: điều sắp nói trong phần thứ hai sẽ trái ngợc với điều đã nói ở phần đầu. Việc
làm của thực dân Pháp ở Việt Nam chứng tỏ rằng chúng đã phản bội chính ngay những điều đợc nêu lên
trong các bản Tuyên ngôn của nớc Mĩ và nớc Pháp.
Phần kết thúc của Tuyên ngôn độc lập đợc gắn với hai phần trên bằng chữ Bởi thế cho nên. Bốn chữ ấy
thông báo rất rõ ràng: Hai phần trên là cơ sở (cơ sở chân lí và cơ sở thực tế), là nguyên nhân, còn phần thứ
ba này sẽ là hệ quả, là kết quả tất yếu sinh ra từ những nguyên nhân ấy. Đã coi quyền tự do, bình đẳng
giữa các dân tộc là lẽ phải không thể chối cãi, đã coi việc chúng ta giành lại đợc đất nớc từ tay Nhật chứ
không phải từ tay Pháp là thực tế không thể nào bác bỏ, thì việc chúng ta thoát li hẳn các mối quan hệ thực
- 23 - dân với Pháp để trở thành một nớc tự do độc lập phải là một sự đơng nhiên, chính đại quang minh nh trời
đất, sáng tỏ nh nhật nguyệt.
Rõ ràng, Tuyên ngôn độc lập là một chỉnh thể thống nhất, với các yếu tố quan hệ hết sức chặt chẽ với

hữu ý cho rằng chúng ta giành độc lập từ tay thực dân và phát xít. Nhng đây là chuyện sai một li đi một
dặm. Cái điều thoạt nhìn dễ tởng là không quan trọng gì lắm về bản chất, lại có thể gây ra hậu quả không
sao lờng hết. Thiếu một chút sáng suốt, một chút khôn khéo ở đây, ta dễ có thể bị quy là chống lại một
thành viên chủ chốt của đồng minh, chống lại những điều ớc cho những nớc thắng trận có quyền thu lại
những mảnh đất cũ của mình.
Một điều có tầm quan trọng sống còn đối với nền độc lập của đất nớc nh thế, không thể nào coi nhẹ.
Nên dù là Tuyên ngôn, Bác Hồ vẫn phải dụng công phân giải, bằng hàng loạt câu văn chia thành các vế
phân biệt với nhau, với sự nhấn rất mạnh trong ngữ điệu. Ví nh:
Thế là chẳng những chúng không bảo hộ đợc ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nớc ta hai lần
cho Nhật.
- 24 - Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nớc ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp
nữa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nớc Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Cần thấy, đấy là những câu văn mang ý nghĩa sinh tử trong một bản tuyên ngôn.
Đề 4. Hãy đọc lại những câu sau:
Chúng tôi tin rằng các nớc Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội
nghị Têhêrăng và Cựu kim sơn, quyết không thể công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe
Đồng minh chống Phát xít mấy năm, dân tộc đó phải đợc tự do ! Dân tộc đó phải đợc độc lập !
Anh (chị) nhận xét thế nào về cách đặt câu và tác dụng của cách đặt câu đó ?
Gợi ý
Những câu văn đợc diễn đạt giống nh là định luật, là định lí với đầy đủ cả giả thiết và kết luận. Đã chấp
nhận giả thiết ấy thì không thể không chấp nhận kết luận ấy. Một cách đặt câu nh thế giúp rất nhiều cho
câu văn và cho sự lập luận trở nên đanh thép, hùng hồn, không thể nào bác bỏ.
Đề 5. Là một ngời nắm vững thấu đáo bản chất của hiện thực, Bác Hồ tỏ ra có biệt tài tóm tắt chỉ trong
một câu những gì đã đợc trình bày trên hàng trang giấy. Anh (chị) có thấy biệt tài đó của Bác trong bản
Tuyên ngôn độc lập này không ? Nếu cần phải tìm trong bản Tuyên ngôn này một câu văn chứa đựng đầy


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status