LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 75

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG.
I. ĐẶC ĐIỂM NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN
1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG.
Bán hàng là nghiệp vụ cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh
doanh lưu chuyển hàng hoá của doanh nghiệp thương mại. Thực hiện
nghiệp vụ này, vốn của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hiện vật là
hàng hoá sang hình thái tiền tệ. Nghiệp vụ bán hàng của doanh nghiệp
thương mại có những đặc điểm sau:
1.1. Các phương thức bán hàng.
Bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại được tiến hành theo
2 khâu
+Bán buôn
+Bán lẻ
1.1.1. Bán buôn:
Bán buôn là việc bán hàng cho các đơn vị các tổ chức kinh tế
khác với mục đích để chuyển bán hoặc để tiếp tục sản xuất. Đặc điểm
của nghiệp vụ bán buôn là hàng hoá chưa đến tay người tiêu dùng, giá
trị và giá trị sử dụng của hàng hoá chưa được thực hiện đầy đủ.
Hiện nay có 2 phương thức bán buôn như sau:
+Bán buôn qua kho
+Bán buôn chuyển thẳng.
1.1.1.1 Bán buôn qua kho:
Là bán buôn hàng hoá mà hàng bán được xuất ra từ kho bảo quản
của doanh nghiệp. Trong phương thức này có 2 hình thức.
a. Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp:
Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho doanh nghiệp
để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đại
diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua kí nhận đủ hàng, bên mua đã
thanh toán

khách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do nhân viên bán
hàng giao .
Cuối ca hoặc cuối ngày, nhân viên thu ngân tổng hợp tiền, kiểm tiền và
xác định doanh số bán. Nhân viên bán hàng căn cứ vào số hàng đã giao
theo hoá đơn lập báo cáo bán hàng, đối chiếu với số hàng hoá hiện còn
để xác định số hàng thừa, thiếu.
1.1.2.2. Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp :
Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách.
Cuối ca (hoặc cuối ngày) nhân viên bán hàng kiểm tiền làm giấy nộp
tiền, kiêm kê hàng hoá hiện con ở quầy để xác định lượng hàng hoá
bán ra trong ca(ngày). Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh
số bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền.
Ngoài hai phương thức trên, trong bán lẻ còn có các hình thức khác
như bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động,...
1.2. Các phương thức thanh toán :
Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh
toán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau
tuỳ vào sự tín nhiệm, thoả thuận giữa hai bên mà lựa chọn phương
thức thanh toán cho phù hợp.
Hiện nay các doanh nghiệp thưong mại áp dụng hai phương thức
thanh toán:
• Thanh toán trực tiếp
• thanh toán không trực tiếp
1.2.1. Thanh toán trực tiếp :
Là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, ngân phiếu giữa người mua
và người bán. Khi nhận được hàng hoá vật tư, lao vụ, dịch vụ thì bên
mua xuất tiền ở quỹ để trả trực tiếp cho người bán hay người cung cấp.
1.2.2. Thanh toán không trực tiếp :
Là hình thức thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển
tiền ở tài khoản của công ty hoặc bù trừ giữa cá đơn vị thông qua trung

hành séc phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc, séc chỉ được phát
hành khi tài khoản ở ngân hàng có số dư.
Có 3 loại séc : Séc bảo chi, Séc chuyển khoản, Séc định mức.
1.2.2.5. Thanh toán bù trừ :
Hình thức này áp dụng trong trường hợp hai bên có quan hệ mua
bán hàng hóa với nhau. Định kỳ hai bên phải tiến hành đối chiếu giữa
số tiền được thanh toán với số tiền phải thanh toán. Các bên tham gia
thanh toán bù trừ chỉ cần phải trả số chênh lệch sau khi đã bù trừ.
1.2.2.6. Thanh toán bằng thư tín dụng và tài khoản đặc biệt :
Thư tín dụng là lệch của ngân hàng phục vụ bên mua đề nghị
ngân hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán về số tiền hàng mà bên
bán đã cung cấp cho bên mua. Hình thức này thưòng áp dụng với các
đơn vị khác địa phương không có sự tín nhiệm lẫn nhau.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa tích cực đối với nền
kinh tế quốc dân cũng như đối với doanh nghiệp. Nó làm giảm dược
lượng tiền trong lưu thông, giảm chi phí có liên quan đến việc in ấn và
phát hành tiền, giảm chi phí liên quan đến việc bảo quản, vận chuyển
tiền, cho phép kiểm soát được dễ dàng tính hợp pháp của các quan hệ
thanh toán trong nền kinh tế. Nó đảm bảo vốn bằng tiền mặt của các
đơn vị kinh tế và làm cho quá trình thanh toán trở nên đơn giản và
thuận lợi hơn rất nhiều so với việc thanh toán dùng tiền mặt.
1.3. Phạm vi thời điểm xác định hàng bán :
Trong doanh nghiệp thương mại, bán hàng là khâu cuối cùng của
hoạt động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinh
doanh. Do đó, việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng thanh toán của
người tiêu dùng. Nó giúp cho các nhà doanh nghiệp xác định đúng
phương hướng hoạt động, xác định được lợi nhuận và các khoản nộp
ngân sách nhà nước... Để xác định hàng hoá là hàng bán thì căn cứ vào
các điều kiện sau đây:

Doanh nghiệp thường xác định giá bán theo công thức sau:Thặng số thương mại được dùng để bù đắp chi phí kinh doanh và hình
thành lợi nhuận và được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua thực tế
của hàng hoá tiêu thụ.
Gía bán = Gía mua thực tế + Thặng số thương mại
Cách tính mới là :

Hiện nay, Nhà nước chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết
yếu, quan trọng còn các hàng hoá khác giá cả được xác định theo cung
cầu thị trường. Gía hàng bán được xem là một công cụ cạnh tranh của
doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp phải tự xác định được mức giá bán
phù hợp dựa vào nhu cầu thị trường, chu kỳ sản phẩm, uy tín về nhãn
mác của sản phẩm,... Trên thực tế tình hình kinh doanh luôn biến động,
thị trường luôn thay đổi đòi hỏi các nhà quản lý phải có tầm nhìn bao
quát, khả năng nghiên cứu nắm bắt kịp thời thông tin từ thị trường, từ
người tiêu dùng để đưa ra mức giá bán thích hợp cho từng mặt hàng
vào từng thời điểm, địa điểm cụ thể.
2. YÊU CẦU QUẢN LÝ NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG :
Nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá liên quan đến từng khách hàng, từng
phương thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định. Do đó, công tác
quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu như :
Quản lý doanh thu, tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất ở khâu bán,
tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ về các
khoản phải thu của người mua, quản lý giá vốn của hàng hoá đã tiêu
thụ, ... quản lý nghiệp vụ bán hàng cần bám sát các yêu cầu sau :
• Quản lý sự vận động của từng mặt hàng trong quá trình xuất,
nhập, tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị.
• Nắm bát theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể

giám đốc các loại tài sản vật tư tiền vốn.Từ việc phân tích các số liệu
kế toán các nhà quản lý đề ra biện pháp và hướng kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp thương mại tiêu thụ hàng hoá là khâu
vận động cuối cùng của hàng hoá nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó
việc quản lý quá trình tiêu thụ là rất quan trọng. Một trong các công cụ
quản lý quá trình tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả nhất đó chính là kế
toán bán hàng. Kế toán bán hàng quản lý chặt chẽ các yếu tố của
nghiệp vụ bán hàng như : giá cả, quá trình thanh toán, thu hồi công nợ
và các chi phí có liên quan,... để từ đó tính toán chính xác kết quả của
hoạt động tiêu thụ hàng hoá, góp phần tiết kiệm chi phí bán hàng, tăng
vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho hoạt động kinh
doanh đạt hiệu quả cao nhất.
Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp thương mại đặc biệt phát triển mạnh.Do đó các hoạt động mua
bán trao đổi được mở rộng.Hoạt động tiêu thụ hàng hoá đã có nhiều
thay đổi cụ thể là có nhiều hình thức tiêu thụ hơn, có nhiều phương
thức thanh toán hơn,... tóm lại là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều
hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn. Lúc này hệ thống kế toán bán hàng
cũ sẽ không kiểm soát được hết các yếu tố của nghiệp vụ bán hàng. Do
đó cần phải hoàn thiện kế toán bán hàng để đáp ứng yêu cầu quản lý
trong điều kiện mới. Việc hoàn thiện kế toán bán hàng là rất cần thiết
và xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan.
2. NỘI DUNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI :
2.1. Hoàn thiện hạch toán ban đầu :
Hạch toán ban đầu là quá trình theo dõi, ghi chép, hệ thống hoá
các nghiệp vụ kinh tế, các hiện tượng và quá trình kinh tế trên chứng
từ làm cơ sở cho hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết. Hoàn thiện
hạch toán ban đầu đựơc thực hiện trên các nội dung sau :

2.2. Vận dụng đúng tài khoản kế toán vào quá trình hạch toán.
2.2.1. Tài khoản sử dụng :
(1) Tài khoản 511 - “ doanh thu bán hàng“ : Tài khoản này dùng để
phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện
trong kỳ kinh doanh, Doanh thu phản ánh trên tài khoản 511 - đối với
doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ - là doanh
thu chưa có thuế, còn đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu này là doanh thu đã có thuế.
TK 511 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 sau:
+TK 5111- Doanh thu về hàng hoá đã được xác định là tiêu
thụ
+TK 5112 - Doanh thu về bán thành phẩm.
+TK 5113 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ.
+TK 5114 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh
nghiệp bán hàng theo chỉ đạo của Nhà nước ).
TK 511 có kết cấu như sau :
- Phản ánh thuế TTĐB hoặc thuế
XNK phải nộp.
- phản ánh doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán.
- Kết chuyển doanh thu bán hàng
thuần để xác định kết quả.
Nợ TK 511 Có
TK 511không có số dư cuối kỳ
Khi hạch toán trên tài khoản 511 cần chú ý :
• Doanh thu phản ánh trên TK 511 là doanh thu đã thực hiện ( Khi
doanh nghiệp đã giao hàng và người mua đã thanh toán hoặc ký nhận
nợ ).
• Trường hợp đơn vị bán hàng theo phương thức trả góp thì doanh
thu phản ánh trên TK511 là doanh thu tính theo giá bán thu tiền một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status