CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU - Pdf 75

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU, NHIỆM VỤ VÀ Ý
NGHĨA CỦA CÔNG TÁC KẾ TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU.
1. Vai trò của hoạt động nhập khẩu.
Hoạt động kinh tế đối ngoại được hình thành và phát triển trên cơ sở phân
công lao động quốc tế. Nó ngày càng được mở rộng do ảnh hưởng và tác động trực
tiếp của cuộc cách mạng khoc học - kỹ thuật, nó tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế
các nước phát triển. Hoạt động kinh tế đối ngoại thường rất đa dạng, phong phú
như: hoạt động ngoại thương, du lịch, đầu tư quốc tế, chuyên giao công nghệ...
Cũng như xuất khẩu, nhập khẩu là một hoạt động quan trọng thuộc lĩnh vực
ngoại thương, đó là việc mua hàng hoá từ nước ngoài về tiêu thụ ở thị trường trong
nước hoặc tái xuất khẩu, được thực hiện bởi các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu theo các hợp đồng đã ký kết với nước ngoài.
Hoạt động nhập khẩu có một vị trí đáng kể trong nền kinh tế quốc dân nói
chung cũng như đối với từng doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng.
Trước hết, nhập khẩu để bổ xung các hàng hoá, vật liệu mà trong nước không sản
xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Trong điều kiện nền kinh tế
nước ta còn thấp kém, kỹ thuật lạc hậu, thiếu vốn, trình độ quản lý còn hạn chế thì
việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư, vốn, công nghệ... sẽ tạo điều kiện giải
quyết những bế tắc và thúc đẩy sự phát triển sản xuất trong nước. Hai là, nhập
khẩu còn để thay thế nghĩa là, nhập khẩu những hàng hoá, vật tư mà nếu sản xuất
trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập
khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối
nền kinh tế quốc dân. Trong đó, cân đối trực tiếp giữa ba yếu tố của sản xuất: công
cụ lao động, đối tượng lao động và lao động, đóng vai trò quan trọng nhất. Như
vậy, nhập khẩu được coi như một phương pháp sản xuất gián tiếp.
Hoạt động nhập khẩu còn để tranh thủ khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh về
công nghệ kỹ thuật, trình độ quản lý của nước ngoài cũng như tăng cường giao lưu
quốc tế nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, nhập
khẩu còn là một bộ phận khấu thành cán cân xuất nhập khẩu, có tác động tích cực

giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu, từ đó từng bước cân bằng
lại cán cân thương mại.
Như vậy, nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất
và đời sống trong nước.
2. Điều liện để một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Theo Nghị định số 33/CP ngày 19/4/1994 của Chính phủ về quản lý Nhà
nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu: mội doanh nghiệp không phân biệt
thành phân kinh tế, hội đủ những điều kiện sau được cấp giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu:
- Doanh nghiệp được thành lập theo đúng luật và cam kết tuân thủ các quy
định của pháp luật hiện hành.
- Doanh nghiệp Việt Nam muốn kinh doanh xuất nhập khẩu, ký hợp đồng
mua bán với nước ngoài đều phải xin giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ
Thương mại cấp.
- Các doanh nghiệp phải hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký và có
số vốn lưu động tối thiểu tương đượng 200.000 USD (riêng các doanh nghiệp
thuộc các tỉnh miền núi và các tỉnh có khó khăn về kinh tế thì số vốn lưu động tối
thiểu tương đương 100.000 USD).
- Doanh nghiệp phải có đội ngũ các nhà kinh doanh có kiến thức về kinh
doanh quốc tế, luật pháp và tập quán buôn bán, am hiểu sâu sắc tình hình thị
trường trong và ngoài nước, có khả năng đàm phán, thương thuyết trong ký kết và
thực hiện các hợp đồng thương mại.
3. Các phương thức và hình thức kinh doanh nhập khẩu.
Nhập khẩu là một lĩnh vực hoạt động kinh tế rất phong phú và đa dạng, được
tiến hành theo nhiều phương thức và hình thức khác nhau.
a. Phương thức nhập khẩu:
Nhập khẩu bao gồm hai phương thức: Nhập khẩu theo Nghị định thư và
nhập khẩu ngoài nghị định thư.
Nhập khẩu theo Nghị định thư: là phương thức mà các doanh nghiệp phải
tuân theo các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước thực hiện các hợp đồng kinh tế bằng

nghiệp được Nhà nước cấp giấy phép nhập khẩu nhưng chưa có đủ điều kiện để
trực tiếp đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng với nước ngoài hoặc là chưa thể
trực tiếp lưu thông hàng hoá giữa trong nước và ngoài nước nên phải uỷ thác cho
đưon vị khác có chức năng nhập khẩu hộ hàng hoá cho mình. Theo hình thức này,
đơn vị giao uỷ thác là đơn vị được tính doanh số, đơn vị nhận uỷ thác chỉ là đơn vị
làm đại lý và được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ thoả thuận giữa hai bên ghi trong
hợp đồng uỷ thác nhập khẩu.
Kinh doanh theo hình thức nào còn tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi
doanh nghiệp, nhưng vấn đề quan trọng là hiệu quả kinh doanh - yếu tố đảm bảo
cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thương trường. Vì vậy, có những đơn vị
kinh tế vừa tổ chức kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp vừa theo hình
thức nhập khẩu uỷ thác. Nhìn chung, tổ chức hoạt động nhập khẩu theo hình thức
trực tiếp có lợi hơn bởi vì trong trường hợp này doanh nghiệp có điều kiện nắm bắt
các thông tin và tín hiệu thị trường nước ngoài một cách toàn diện, chính xác, kịp
thời. Hơn nữa, đơn vị không bị chia xẻ và có điều kiện mở rộng quan hệ cũng như
nâng cao uy tín đối bạn hàng nước ngoài.
4. Phương thức thanh toán hợp đồng ngoại thương trong hoạt động nhập
khẩu.
Trước hết, hợp đồng kinh tế ngoại thương (hay còn gọi là hợp đồng mua bán
quốc tế hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) được hiểu là sự thoả thuận bằng văn bản
giữa hai bên chủ thể có quốc tịch khác nhau, trong đó một bên gọi là bên bán (bên
xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển vào quyền sở hữu của bên kia là bên mua (bên
nhập khẩu) một tài sản gọi là hàng hoá. Bên mua có trách nhiệm trả tiền và nhận
hàng. Hợp đồng kinh tế ngoại thương yêu cầu phải ghi rõ và đầy đủ các điều kiện
về hàng hoá, số lượng, chất lượng, thời gian, địa điển giao nhận hàng, phương thức
thanh toán, thủ tục giải quyết tranh chấp giữa người bán và người mua.
Phương thức thanh toán chính là một điều kiện quan trọng bậc nhất trong
các điều kiện thanh toán. Phương thức thanh toán chỉ ra người bán dùng cách nào
để thu tiền về còn người mua dùng cách nào để trả tiền. Về thanh toán tiền hàng
chỉ được thực hiện dựa trên những chứng từ hợp lệ làm cơ sở pháp lý cho việc giao

Các phương thức thanh toán không phụ thuộc chứng từ bao gồm:
Thứ nhất, phương thức chuyển tiền ( Remittance): là phương thức thanh
toán đơn giản nhất trong đó khách hàng yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một
số tiền nhất định đến một người hoặc một đơn vị kinh tế nào đó ở một địa điểm
nhất định bằng phương thức chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu. Trình tự nghiệp
vụ được tiến hành như sau:
Sơ đồ 1: Trình tự nghiệp vụ chuyển tiền
Trong đó:
(1): Người bán giao hàng và gửi chứng từ cho người mua (qua thuyền trưởng
hoặc qua bưu điện).
(2): Sau khi kiểm tra toàn bộ chứng từ thấy hợp lệ, người mua viết giấy yêu
cầu chuyển tiền, nhờ ngân hàng chuyển số tiền nhất định đến người xuất khẩu.
(3): Trên cơ sở giấy yêu cầu chuyển tiền của khách hàng, ngân hàng lập điện
chuyển tiền (T/T - Telegrphic transfer) hoặc thư chuyển tiền (M/T - Mail transfer).
Ngân hàng mở L/G (2) Ngân hàng thông báo
Nhập khẩu
(4)
Xuất khẩu
(3)(1)
(5)
(4): Ngân hàng thông báo sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu.
Phương thức này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, phí thanh toán không cao,
cho nên nó được áp dụng trong trong thanh toán lô hàng có giá trị nhỏ hoặc thanh
toán các khoản chi phí dịch vụ ngoại thương, trả tiền vận tải, bảo hiểm, hoa hồng,
bồi thường thiệt hại... Tuy nhiên, trong phương thức này đơn vị nhập khẩu có thể
rủi ro do chứng từ giả, cho nên trong nhiều trường hợp các nhà nhập khẩu được
hàng rồi mới chuyển tiền trả nhà xuất khẩu.
Thứ hai, phương thức thanh toán băng thư bảo đảm trả tiền (Letter of
Guarantee L/G). Phương thức thư đảm bảo trả tiền là phương thức thanh toán trong
đó ngân hàng của nước người mưa theo yêu cầu của người mua viết cho người bán

trung gian thu phí dịch vụ mà có trách nhiệm với người bán, người mua tuỳ từng
Ngân hàng đại diện cho người xuất khẩu (3)
Xuất khẩu (1) Xuất khẩu
(4)(2)
(5)
Ngân hàng đại diện cho người xuất khẩu
(6) (5)
góc độ khác nhau (có thể là giúp người bán khống chế chứng từ với người mua
hoặc là người trực tiếp cam kết trả tiền cho người bán).
- Phương thức thanh toán này được áp dụng trong phạm vi rộng với hầu hết
các điều kiện, cơ sở giao hàng: cả tin cậy hay không tin cậy lẫn nhau, mua bán trả
tiền ngay (L/C at sight) hoặc mua bán trả tiền sau (L/C differ)...
- Do cơ sở thanh toán dựa vào chứng từ nên có thể áp dụng công nghệ khoa
học kỹ thuật vào ngân hàng trên cơ sở tiêu chuẩn hoá chứng từ giữa các ngân hàng.
Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đều tham gia thanh
toán theo nhóm phương thức này trừ một vài trường hợp đặc biệt, thuộc về nhóm
phương thức này gồm có:
Thứ nhất, phương thức nhờ thu (Collection of payment): là phương thức
thanh toán trong đó người bán sau khi giao hàng xong hoặc sau khi cung ứng một
dịch vụ nào đó cho khách hàng thì sẽ ký phát một tờ hối phiếu để đòi tiền người
mua, uỷ thác cho ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên tờ hối phiếu đó. Có hai loại
phương thức nhờ thu:
Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection): là phương thức thanh toán trong đó
người xl sau khi đã giao hàng ký phát một hối phiếu gửi tới ngân hàng nhờ ngân
hàng thu hộ tiền từ người mua, còn các chứng từ về hàng hoá thì gửi trực tiếp cho
người mua để người mua đi nhận hàng. Trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn như
sau:
Sơ đồ 3: Trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn
Trong đó:
(1): Người bán giao hàng cho người mua, gửi chứng từ về hàng hoá cho

được trong trường hợp người mua có thiện chí đối với việc đi nhận hàng. Ngân
hàng chỉ đóng vai trò trung gian chớ không có trách nhiệm trả tiền cho người bán.
+ Thời gian thu tiền về thường chậm. Phương thức này chỉ áp dụng khi giữa
các công ty có quan hệ thương mại thường xuyên và có uy tín.
Thứ hai, phương thức tín dụng chứng từ (L/C - Letter of Credit): là phương
thức được áp dụng phổ biến nhất. Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả
thuận bằng văn bản trong đó ngân hàng (được gọi là ngân hàng phát hành) theo
yêu cầu của một khách hàng (được gọi là người yêu cầu) hoặc nhân danh chính
mình cam kết trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (được gọi là người
hưởng lợi) hoặc chấp nhận các hối phiếu do người này ký phát hoặc uỷ quyền cho
một ngân hàng khác tiến hành việc thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu các hối
phiếu đó khi các chứng từ quy định được xuất trình phù hợp với các điều kiện dặt
ra trong thư tín dụng. Trình tự nghiệp vụ tín dụng chứng từ như sau:
Ngân hàng phát hành L/C
(2)
Xuất khẩu (4) Xuất khẩu
(3)(7)
(5)
Ngân hàng thông báo
(1) (6)
(6)
(8)
Sơ đồ 4: Trình tự nghiệp vụ tín dụng chứng từ
Trong đó:
(1): Người nhập khẩu viết giấy yêu cầu mở L/C (Application for Letter of
Credit) gửi tới ngân hàng của mình.
(2): Căn cứ vào giấy yêu cầu mở L/C của người nhập khẩu, ngân hàng sẽ
phát hành L/C và thông báo L/C đến ngân hàng thông báo nằm ở nước xuất khẩu.
(3): Ngân hàng thông báo nhận được L/C thì thông báo nội dung thư tín
dụng cho nhà xuất khẩu.

* Phương thức thanh toán treo qua tài khoản ở nước ngoài (Escrow
Account): Người xuất khẩu và ngươi nhập khẩu thoả thuận treo tài khoản ở nước
nhập khẩu để ghi Có số tiền của nhà xuất khẩu bằng tiền của nước nhập khẩu hoặc
bằng ngoại tệ tự do, số tiền này dùng để mua lại hàng của nước nhập khẩu.
Trong các phương thức thanh toán trên thì hối phiếu và séc là hai phương
tiện thanh toán hay được sử dụng:
- Hối phiếu (Bill of Exchange): là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do
một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc
đến một ngày xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người
nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm
phiếu.
- Séc (Cheque): là một từ mệnh lệnh của người có tài khoản mở ở ngân hàng,
ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định ở tài khoản để cho người cầm
séc.
Tóm lại, xét cho cùng thì việc lựa chọn phương thức thanh toán nào đều xuất
phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng và từ yêu cầu của
của người mua là nhập hàng đúng số lương, đúng chất lượng và đúng hạn. Để áp
dụng được yêu cầu quản lý và hiệu quả của các hoạt động kinh doanh nhập khẩu,
kế toán nhập khẩu phải thực hiện tốt những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cho công
tác này.
5. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của công tác kế toán nghiệp vụ nhập khẩu.
Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh ngoại thương, nó không giống như
việc buôn bán trong nước mà nó là hoạt động kinh doanh thương mại ở phạm vi
quốc tế. Do vậy, hoạt động nhập khẩu rất phức tạp. Nó phức tạp từ khâu ký kết hợp
đồng, tổ chức thực hiện, thanh lý hợp đồng đến các khâu bán hàng và thu tiền
hàng. Nó liên quan đến nhiều yếu tố trong và ngoài nước mà mỗi đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu khó kiểm soát một cách toàn diện và chặt chẽ. Chính bởi sự
phức tạp đó mà kết toán hoạt động nhập khẩu đóng vai trò là một công cụ phục vụ
đắc lực cho quản trị nội bộ và điều hành công việc kinh doanh một các hiệu quả.
Kế toán nhập khẩu là việc ghi chép, phản ánh, giám đốc các nghiệp vụ kinh

Nội dung chủ yếu của tổ chức công tác kế toán nhập khẩu bao gồm:
- Tổ chức hạch toán ban đầu: tổ chức hệ thống chứng từ và luân chuyển
chứng từ một cách khoa học, hợp lý phục vụ cho việc ghi sổ, tổng hợp số liệu.
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất.
- Tổ chức hệ thống sổ sách và lập các báo cáo kế toán.
1. Một số chứng từ trong hạch toán các nghiệp vụ nhập khẩu.
Chứng từ kế toán là một minh chứng bằng giấy tờ về các nghiệp vụ kinh tế
tài chính phát sinh và đã thực sự hoàn thành. Thông qua việc lập chứng từ mà kế
toán kiểm tra được tính chất hợp lý, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ kế
toán là căn cứ pháp lý cho mọi số liệu ghi chép, phản ánh trong sổ sách kế toán và
mọi số liệu thông tin kinh tế trong doanh nghiệp. Chứng từ kế toán là căn cứ để
kiểm tra việc chấp hành chính sách, quy định tài chính và là căn cứ để xác định
trách nhiệm vật chất của những người có liên quan. Đồng thời, chứng từ kế toán là
bằng chứng để giải quyết mọi sự tranh chấp, khiếu nại, khiếu tố xảy ra giữa các
bên.
Chứng từ kế toán thường xuyên vận động, sự vận động liên tục, kế tiếp nhau
từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của chứng từ gọi là luân chuyển chứng từ, hay
nói cách khác luân chuyển chứng từ là sự vận động của chứng từ từ khi lập cho đến
khi lưu trữ nó. Lập chứng từ và luân chuyển chứng từ là hai mặt thống nhất của
phương pháp chứng từ. Vì vậy, song song với việc tổ chức hợp lý chứng từ là việc
tổ chức hợp lý quá trình luân chuyển chứng từ. Tổ chức hợp lý quá trình luân
chuyển chứng từ là việc xác đinh đường đi của các loại chứng từ sao cho giảm đến
mức tối đa việc ghi chép sổ kế toán không bị trùng lặp, thuận tiện cho việc đối
chiếu và kiểm tra. Tổ chức hợp lý việc luân chuyển chứng từ sẽ giúp cho thông tin
kinh tế phục vụ cho quản trị nội bộ doanh nghiệp được khoa học, nhanh chóng và
chính xác.
Trong hoạt động nhập khẩu bộ chứng từ làm cơ sở cho việc nhận hàng,
thanh toán và ghi sổ thường bao gồm:
- Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice): là chứng từ cơ bản của khâu
thanh toán, là yêu cầu của người bán đòi người mua phải trả số tiền hàng ghi trên

khẩu, tuỳ theo sự thoả thuận trong hợp đồng.
- Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin): là chứng từ do nhà sản
xuất hoặc cơ quan có thẩn quyền (thường là Phòng thương mại) cấp để xác nhận
nơi sản xuất hoặc khai thác hàng hoá.
- Giấy chứng nhận kiểm dịch: là chứng từ do cơ quan kiểm dịch cấp xác
nhận hàng đã được kiểm tra và xử lý chống các bệnh dịch.
- Giấy chứng nhận vệ sinh (Saniry Certificate): là chứng từ do cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra về phẩm chất hàng hoá hoặc về y tế cấp cho chủ hàng xác
nhận hàng hoá đã được kiểm tra và không vi trùng gây bệnh cho người sử dụng.
- Phiếu đóng gói (Packing List): là bảng kê khai tất cả hàng hoá trong một
kiện hàng (hoàm, hộp, container)... Phiếu đóng gói được lập khi đóng gói hàng hoá
tạo điều kiện cho việc kiểm tra hàng hoá trong mỗi kiện.
Ngoài ra còn có các chứng từ khác như: Phiếu nhập kho, hoá đơn kiêm
phiếu xuất kho, bảng kê tính thuế, các chứng từ vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá khác,
giấy đề nghị tạm ứng cho cán bộ nghiệp vụ, giao hàng, giấy báo Nợ, giấy báo Có,
phiếu thu, phiếu chi, tờ khai hải quan, bảng kê chi tiết hàng nhập.
2. Các tài khoản sử dụng hạch toán các nghiệp vụ nhập khẩu.
Các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu thường sử dụng các
tài khoản sau:
Tài khoản 144 “Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn”: là tài khoản tài sản, tài
khoản này phản ánh tài sản hoặc tiền của doanh nghiệp mang thế chất, ký cược, ký
quỹ ngắn hạn tại ngân hàng, công ty tài chính, kho bạc Nhà nước... Tài khoản này
thường được mở chi tiết cho từng nội dung thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn và
ghi theo giá trị đem thế chấp.
- Tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường”: là tài khoản tài sản, tài khoản
này phản ánh các giá trị của các loại hàng hoá, vật tư mua ngoài đã thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp nhưng chưa nhập về kho của doanh nghiệp, còn đang trên
đường vận chuyển ở bến cảng, bến bãi đã về đến doanh nghiệp nhưng còn đang
chờ kiểm nghiệm để nhập kho.
- Tài khoản 1561 “Giá mua hàng hoá”: Tài khoản này phản ánh sự biến

khoản 111 “Tiền mặt”, tài khoản 112 “Tiền gửi ngân hàng”, tài khoản 131 “Phải
thu của khách hàng”, tài khoản 1388 “Phải thu khác”, tài khoản 311 “Vay ngắn hạn
ngân hàng”, tài khoản 331 “Phải trả nhà cung cấp”, tài khoản 153 (1532) “Bao bì
tính giá riêng”, tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng”, tài khoản 413 “Chênh lệch tỷ
giá”, tài khoản 641 “Chi phí bán hàng”, tài khoản 621 “Chi phí quản lý doanh
nghiệp”, tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”,...
Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể sử dụng thêm một số tài khoản sáng tạo
thêm (được sự chấp nhận của cơ quan quản lý) để phục vụ cho việc hạch toán và
đáp ứng yêu cầu quản trị nội bộ, nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý
nhanh chóng đầy đủ, kịp thời và chính xác.
3. Các phương pháp hạch toán hàng tồn kho và trị giá hàng xuất bán.
3.1. Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX)
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi, phản ánh một
cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho hàng hoá
trên sổ sách kế toán sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ mua hoặc bán, được hạch toán
trên tài khoản 632. Theo phương pháp này, các tài khoản kế toán hàng tồn kho
được dùng để phản ánh số hiện có, tình hình biến động tăng giảm của hàng hoá. Vì
vậy, giá trị hàng hoá tồn kho trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời
điểm nào trong kỳ kế toán. Cuối kỳ kế toán căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng
tồn kho, so sánh, đối chiếu với số liệu hàng tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc,
số tồn kho thực tế luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán. Tuy nhiên, nếu có
chênh lệch phải truy tìm nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời. Phương pháp
KKTX bảo đảm tính chính xác tình hình lưu chuyển hàng hoá tồn kho và nó được
sử dụng ở các doanh nghiệp thương mại kinh doanh hàng hoá hưũ hình có giá trị
lớn. Với phương pháp này, công việc kế toán được rải đều trong kỳ kế toán, cuối
kỳ có ngay được số tồn kho trên sổ sách để đối chiếu, theo dõi quản lý.
3.2. Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK).
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả
kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ hàng hoá trên sổ sách kế
toán tổng hợp và từ đó tính ra giá trị của hàng hoá đã xuất trong thời kỳ theo công

hại cho đơn vị mình.
3.3. Các phương pháp tính giá trị hàng xuất bán.
Trị giá hàng bán ra được tính một lần vào cuối tháng để các định giá trị thực
tế hàng hoá bán ra và kết quả nghiệp vụ bán hàng. Có nhiều phương pháp tính trị
giá hàng xuất bán, mỗi phương pháp có những ưu điểm, nhược điểm nhất định,
được áp dụng trong những điều kiện nhất định và có kết quả nhất định. Trị giá
hàng xuất bán có thể được xác định bằng các phương pháp sau:
- Phương pháp giá trị thực tế đích danh: Theo phương pháp này, trị giá hàng
hoá được xác định theo từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào kho cho đến lúc xuất
bán, khi xuất bán hàng hoá nào sẽ tính theo giá trị thực tế của hàng hoá đó. Ưu
điểm của phương pháp này là tính giá hợp lý, khoa học, áp dụng với hàng hoá có
giá trị cao và có tính cách biệt, sử dụng trong kinh doanh bán buôn. Tuy nhiên,
phương pháp chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có điều kiện bảo quản riêng từng lô
hàng nhập kho, đòi hỏi công tác bảo quản và hạch toán chi tiết hàng nhập kho phải
được tiến hành tỉ mỉ.
- Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): Theo nguyên tắc kế toán quốc
tế, phương pháp này dựa trên giả thiết rằng những hàng hoá mới nhất, những hàng
nhập sau cũng là những hàng được bán ra trước nhất. Vì vậy, giá thực tế của hàng
hoá xuất bán được tính trên cơ sở kượng xuất và giá thực tế của lần nhập liền
trước. Phương pháp này có ưu điểm là côgn việc tính giá được tiến hành thường
xuyên trong kỳ hạch toán, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất hàng hoá, việc

Trích đoạn Hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX: Hạch toán hàng tồn theo phương pháp KKĐK
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status