Đề phòng cúm trong mùa lạnh
Thời gian xuất hiện dịch cúm có thể không giống nhau ở từng quốc gia và trong
từng quốc gia, dịch cúm cũng có sự thay đổi theo từng năm. Tuy nhiên, có một điểm
chung là nó thường trở thành cao điểm vào mùa lạnh.
Dễ mắc, dễ lây lan
Cúm là bệnh nhiễm cấp ở đường hô hấp do virus cúm týp A hay B gây ra. Thời
gian từ lúc nhiễm virus cho đến lúc phát bệnh - thời gian ủ bệnh - trung bình là một
đến bốn ngày. Bệnh nhân bị cúm có khả năng thải virus ra môi trường xung quanh khi
ho, hắt hơi hay thải qua dịch nhầy mũi miệng. Nồng độ virus được thải ra cao nhất vào
ngày ngay trước khi có biểu hiện triệu chứng (ngày n-1) cho đến ngày thứ ba ngày có
triệu chứng (ngày n+3). Đặc điểm điển hình của bệnh cúm bao gồm khởi phát đột ngột
sốt và các triệu chứng của đường hô hấp như ho (thường là ho khan), đau họng và sổ
mũi. Bên cạnh đó, cũng có biểu hiện các triệu chứng toàn thân như nhức đầu, đau cơ
và mệt mỏi. Mức độ biểu hiện nhiễm virus cúm trên lâm sàng có thể thay đổi từ rất
nhẹ (thậm chí không có biểu hiện gì) cho đến rất nặng là viêm phổi do virus hoặc thậm
chí tử vong. Triệu chứng cấp tính của cúm nói chung kéo dài từ hai đến bảy ngày, dù
ho và cảm giác khó chịu có thể kéo dài đến hai tuần hay lâu hơn. Biến chứng của
nhiễm cúm bao gồm viêm phổi thứ phát do vi khuẩn và cơn bộc phát của những bệnh
sẵn có như đợt cấp hen suyễn, đợt cấp viêm phế quản mạn tính, đợt cấp bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính… Ở trẻ em, biến chứng của nhiễm cúm có thể là viêm tai giữa, sốt co
giật, bệnh não, viêm tủy sống, viêm cơ, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, hội chứng
Reye (là bệnh hiếm gặp nhưng rất nguy hiếm, bệnh có ảnh hưởng trên mọi cơ quan,
nhiều nhất là ở gan và não và tuổi dễ bị nhất là từ 4 đến 14 tuổi). Hội chứng Reye xuất
hiện ở giai đoạn hồi phục của nhiễm virus. Nguyên nhân của hội chứng này cho đến
nay vẫn còn bí ẩn, nhưng có liên quan nhiều đến việc sử dụng aspirin và những thuốc
có chứa salicylate trong lúc bị nhiễm virus. Vì thế phải đặc biệt cẩn trọng trong việc sử
dụng các loại thuốc này khi bị nhiễm virus, đặc biệt ở trẻ em. Chỉ nên sử dụng chúng
khi có chỉ định của bác sĩ.
Cúm là bệnh mà diễn tiến đa phần tự khỏi ở những người khỏe mạnh bệnh
thường. Tuy nhiên, người già trên 65 tuổi và trẻ em, cũng như những người đang mắc
• Phụ nữ có ý định mang thai trong mùa cúm.
• Trẻ em trên sáu tháng và dưới hai tuổi.
Hiệu quả của chủng ngừa cúm phụ thuộc vào tính trùng khớp của dòng vaccine
cúm và dòng virus cúm đang lưu hành. Hiệu quả chủng ngừa cũng phụ thuộc vào tuổi
người được chủng ngừa, tình trạng miễn dịch và tiếp xúc trước đây với virus cúm. Dù
hiệu quả không đạt được 100% (tại Hoa Kỳ, hiệu quả đạt được là 70 - 90% ở người
khỏe mạnh nếu được chủng ngừa vaccine cúm có tính trùng khớp của dòng vaccine
với dòng virus cúm đang lưu hành) nhưng chủng ngừa cúm vẫn là phương pháp quan
trọng nhất trong việc phòng cúm. Chủng ngừa cúm hàng năm được khuyến cáo cho
những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm và những người tiếp xúc gần với
những người dễ bị biến chứng do cúm. Dù các thuốc chống virus có thể là sự bổ sung
hữu ích cho chủng ngừa cúm, nhưng không được xem là thay thế cho chủng ngừa.
Ngoài những đối tượng được khuyến cáo đặc biệt kể trên, tất cả những ai nếu
không có chống chỉ định đều có thể chủng ngừa cúm hàng năm, nhất là trong thời đại
mà sự di chuyển xa của con người đã dễ dàng, còn đại dịch cúm thì luôn đe dọa.
Chủng ngừa cúm chỉ cần một lần tiêm mỗi năm, trẻ em từ sáu tháng đến chín
tuổi cần tiêm hai lần trong năm đầu tiên chủng ngừa cúm.