Tài liệu luận văn Mối Quan Hệ Giữa Lực Lượng Cảnh Sát Quản Lý Trại Giam Với Gia Đình Phạm Nhân Trong Giáo Dục - Pdf 75

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU THUYẾT

MèI QUAN Hệ GIữA LựC LƯợNG CảNH SáT QUảN Lý TRạI GIAM
VớI GIA ĐìNH PHạM NHÂN TRONG GIáO DụC PHạM NHÂN,
Từ THựC TIễN TRạI GIAM HOàNG TIếN, Bộ CÔNG AN

LUN VN THC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU THUYẾT

MèI QUAN Hệ GIữA LựC LƯợNG CảNH SáT QUảN Lý TRạI GIAM
VớI GIA ĐìNH PHạM NHÂN TRONG GIáO DụC PHạM NHÂN,
Từ THựC TIễN TRạI GIAM HOàNG TIếN, Bộ CÔNG AN
Chuyờn ngnh: Lut Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH

HÀ NỘI - 2020



Khái niệm phạm nhân, gia đình phạm nhân ................................. 10

1.1.1. Khái niệm phạm nhân ........................................................................ 10
1.1.2. Khái niệm gia đình phạm nhân .......................................................... 11
1.2.

Ý nghĩa của gia đình với cơng tác giáo dục phạm nhân trong
trại giam ............................................................................................ 12

1.3.

Trại giam, lực lƣợng Cảnh sát quản lý Trại giam và công
tác giáo dục phạm nhân ................................................................... 14

1.3.1. Trại giam, lực lượng Cảnh sát quản lý trại giam ............................... 14
1.3.2. Công tác giáo dục phạm nhân ............................................................ 15
1.4.

Cơ sở pháp lý, đặc điểm và nội dung, mối quan hệ phối hợp
giữa lực lƣợng Cảnh sát Quản lý trại giam với gia đình
phạm nhân trong cơng tác giáo dục phạm nhân ........................... 19

1.4.1. Cơ sở pháp lý về mối quan hệ giữa Cảnh sát Quản lý trại giam
với gia đình phạm nhân trong giáo dục phạm nhân ........................... 19
1.4.2. Đặc điểm mối quan hệ giữa Cảnh sát Quản lý trại giam với gia
đình phạm nhân trong giáo dục phạm nhân ở trại giam..................... 20


1.4.3. Nội dung mối quan hệ giữa Cảnh sát Quản lý trại giam với gia


Tiếp tục xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ trại giam ................ 54

3.2.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất của đơn vị ............... 56

3.3.

Nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn của cán bộ, chiến sỹ ......... 57


3.4.

Đổi mới cách thức tổ chức họp, sinh hoạt giữa Trại giam
Hồng Tiến với gia đình của những phạm nhân mới đến
trại giam chấp hành án .................................................................... 59

3.5.

Đổi mới cách thức tổ chức Hội nghị gia đình phạm nhân
hàng năm với nội dung thiết thực và phù hợp .............................. 63

3.6.

Tăng cƣờng các hoạt động xã hội hóa một số nội dung của
công tác giáo dục phạm nhân .......................................................... 65

3.7.




DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Thống kê mức án của phạm nhân trong các trại giam trên
cả nước

28

Thống kê về mức án của phạm nhân chấp hành án tại trại
giam Hoàng Tiến

29

Thống kê kết quả thi đua chấp hành án phạt tù năm 2019
của phạm nhân trong các trại giam cả nước

30

Thống kê kết quả thi đua chấp hành án phạt tù của phạm
nhân tại trại giam Hoàng Tiến

30


Bảng 2.10 Thống kê hoạt động tổ chức cho phạm nhân gặp gia đình
và liên lạc điện thoại tại trại giam Hoàng Tiến từ năm
2016 đến các tháng đầu năm 2020

39

Bảng 2.11 Thống kê hoạt động gửi tiền lưu ký cho phạm nhân trại
giam Hoàng Tiến

41

Bảng 2.12 Thống kê về mức án của phạm nhân chấp hành án tại trại
giam Hồng Tiến

47

Bảng 2.13 Thống kê tình hình phạm nhân vi phạm kỷ luật của trại
giam Hoàng Tiến

48

Bảng 2.14 Thống kê phạm nhân dân tộc thiểu số trại giam Hoàng Tiến

48

Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5

1


kiện sinh hoạt của phạm nhân trở nên khó khăn, chất lượng giáo dục phạm
nhân bị ảnh hưởng. Một số phạm nhân vẫn chưa thực sự yên tâm chấp hành
bản án, có thái độ chống đối cán bộ. Tình hình phạm nhân vi phạm nội quy,
vi phạm pháp luật trong trại giam cũng có xu hướng gia tăng, với nhiều thủ
đoạn tinh vi, khó kiểm sốt. Đặc biệt, tình trạng phạm nhân mang vật cấm,
điện thoại di động, ma túy vào trại giam sử dụng trái phép vẫn diễn ra rất
phức tạp, gây mất an ninh, an toàn trại giam và ảnh hưởng xấu đến hiệu
quả của hoạt động quản lý, giáo dục phạm nhân. Thông qua việc sử dụng
trái phép điện thoại di động, phương thức và thủ đoạn vi phạm của phạm
nhân trong trại giam trở nên tinh vi và khó kiểm sốt. Điển hình như năm
2013, một số phạm nhân tại một số trại giam đã sử dụng điện thoại di động
để thông báo cho nhau cách thức tổ chức gây rối giữa các phân trại và đưa
thông tin lên mạng Internet gây hậu quả xấu; xẩy ra một số vụ việc phạm
nhân dùng điện thoại di động trái phép, liên lạc ra bên ngoài để lừa gia đình
phạm nhân khác để chiếm đoạt tiền.
Trong các năm từ năm 2013 đến nay mặc dù các đơn vị Trại giam đã
áp dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn, tuy nhiên tình trạng phạm nhân vi
phạm nội quy vẫn ở mức cao. Trước tình hình đó, Tổng cục VIII (Nay là
Cục C10) đã có nhiều văn bản chỉ đạo các trại giam tiếp tục tăng cường hoạt
động quản lý, giáo dục phạm nhân để phát hiện và ngăn chặn các vi phạm
nhưng hiệu quả đạt được chưa cao. Một trong những nguyên nhân của
những tồn tại này đó là sự phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát Quản lý trại
giam với gia đình phạm nhân cịn hạn chế nên chưa phát huy được sức mạnh
giáo dục phạm nhân từ hai phía. Mặt khác, nhiều gia đình phạm nhân do
thiếu hiểu biết pháp luật, do nhận thức phiến diện nên tạo điều kiện cho
phạm nhân vi phạm hoặc vì vụ lợi mà cố tình tiếp tay cho phạm nhân vi


3


tiền thân là trại giam loại II và hiện nay quy mô giam giữ được phê duyệt là
2.800PN, đơn vị giam giữ nhiều đối tượng phạm nhân cộm cán, cầm đầu,
nhiều phạm nhân có mức án cao. Do đó tình hình phạm nhân trong trại giam
rất phức tạp. Khảo sát cơ bản tình hình thực hiện mối quan hệ giữa lực
lượng Cảnh sát Quản lý trại giam với gia đình phạm nhân tại Trại giam
Hoàng Tiến cho thấy: hoạt động phối hợp đã được tiến hành thực hiện từ
nhiều năm nay và chứng minh được tính cần thiết và hiệu quả của nó trên
các mặt cơng tác từ quản lý đến giáo dục phạm nhân. Tuy nhiên, các hoạt
động phối hợp với gia đình phạm nhân hiện nay chủ yếu được tiến hành khi
có các vụ việc xảy ra, vẫn cịn thiếu tính chủ động và tính hoạch định chiến
lược lâu dài cũng như chưa có một cơ chế phối hợp vận hành thống nhất và
hiệu quả giữa các đội nghiệp vụ.
Những phân tích trên cho thấy việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Mối
quan hệ giữa lực lượng Cảnh sát Quản lý trại giam với gia đình phạm
nhân trong giáo dục phạm nhân, từ thực tiễn Trại giam Hoàng Tiến, Bộ
Cơng an” là vấn đề mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo dục phạm nhân là vấn đề đã được nghiên cứu bởi một số tác giả
Việt Nam, trong đó tiêu biểu là những cơng trình sau:
- Bàn về giáo dục pháp luật, của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh
Mai. Cuốn sách chuyên khảo này đề cập các vấn đề lý luận liên quan đến giáo
dục pháp luật (chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức. Tuy
khơng trực tiếp bàn luận về giáo dục cho đối tượng đặc thù là phạm nhân,
nhưng sách có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu hoạt động giáo dục
với nhóm đối tượng này.

4


hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở các tỉnh
miền núi phía Bắc Việt Nam; các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này. Tác giả
cũng đã khảo sát, đánh giá đặc điểm, tình hình thực trạng giáo dục pháp luật
cho phạm nhân trong các trại giam ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta,
nguyên nhân và các vấn đề đang đặt ra từ đó đề xuất các quan điểm và giải
pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này.
Các cơng trình nghiên cứu kể trên đã cung cấp một lượng tri thức,
thông tin lớn liên quan đến đề tài, là những tư liệu hữu ích cho tác giả trong
việc thực hiện luận văn này.
Mặc dù vậy, các cơng trình kể trên chủ yếu nói đến giáo dục pháp luật
nói chung. Trong khi đó, giáo dục cho phạm nhân khơng chỉ là giáo dục pháp
luật (tuy giáo dục pháp luật là nội dung quan trọng) mà còn là giáo dục ý thức
đạo đức, tư cách … Thêm vào đó, hiện chưa có cơng trình nghiên cứu nào về
giáo dục cho phạm nhân ở Trại giam Hồng Tiến. Vì vậy, luận văn này vẫn
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, khảo sát, đánh giá thực
tiễn, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa lực
lượng Cảnh sát Quản lý trại giam với gia đình phạm nhân phục vụ cơng tác
giáo dục phạm nhân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nhận thức cơ bản về mối quan hệ giữa lực lượng Cảnh sát Quản
lý trại giam với gia đình phạm nhân trong giáo dục phạm nhân ở trại giam.

6


- Làm rõ thực trạng tình hình cơng tác phối hợp giữa lực lượng Cảnh

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài được rút ra từ chính quá trình thực tiễn
cơng tác từ cơ sở (Trại giam Hồng Tiến), do đó, nó sẽ góp phần bổ sung
thêm hệ thống lý luận đối với công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân
trong công tác trại giam thuộc Bộ Công an nhằm phục vụ cho công tác giảng
dạy, học tập và nghiên cứu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Vấn đề mối quan hệ giữa lực lượng Cảnh sát Quản lý trại giam với gia
đình phạm nhân đã và đang cho thấy những hiệu quả nhất định đối với công
tác giáo dục phạm nhân trong các trại giam và Trại giam Hồng Tiến nói
riêng. Q trình nghiên cứu đề tài được tiến hành theo đúng trình tự, phương
pháp. Các số liệu thống kê và kết quả đánh giá trong quá trình nghiên cứu
được thu thập từ chính địa bàn cơ sở. Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài là
khách quan và có tính ứng dụng đối với thực tiễn cơng tác Trại giam Hồng
Tiến. Đây cũng có thể là tài liệu tham khảo có giá trị đối với quá trình tổ chức
hoạt động phối hợp với gia đình phạm nhân tại nhiều đơn vị trại giam khác.

8


7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quan hệ phối hợp giữa lực lượng
Cảnh sát quản lý trại giam với gia đình phạm nhân trong công tác giáo dục

phạm nhân của trại tạm giam hoặc ở nhà tạm giữ thuộc cơ quan thi hành án
cấp huyện. So với người bị tạm giam, tạm giữ thì phạm nhân là người “có
tội”, do đó địa vị pháp lý cũng như các quyền và nghĩa vụ của phạm nhân
cũng được quy định riêng.
Về đặc điểm, phạm nhân nước ta hiện này có thành phần phức tạp: Độ
tuổi từ 14 trở lên, giới tính bao gồm cả nam và nữ, với tội danh, mức án và

10


thành phần xuất thân khác nhau. Tuy nhiên, về đặc điểm chung thì phạm nhân
là người có những đặc điểm tâm lý không phù hợp với những chuẩn mực đạo
đức, có nhận thức lệch lạc về xã hội.
Hiện nay, đa số phạm nhân nước ta đang chấp hành án trong các trại
giam. Mức án của các phạm nhân là rất đa dạng, tùy thuộc vào bản án của
mỗi phạm nhân, nhưng quá trình chấp hành án tại trại giam, tất cả phạm nhân
đều phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để trở thành người có ích
cho xã hội. Họ phải chấp hành chế độ sinh hoạt theo quy định tại luật Thi
hành án hình sự năm 2019 và Nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân (ban hành
theo Thông tư số tư 17/2020/TT-BCA, ngày 18/2/2020 Bộ Công an).
Trong luận văn này, khái niệm phạm nhân được hiểu như định nghĩa
quy định tại Khoản 2, Điều 1, Chương 1, Luật Thi hành án hình sự năm 2019
(đã nêu ở trên), có nghĩa: “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có
thời hạn, tù chung thân”.
1.1.2. Khái niệm gia đình phạm nhân
Trong Tiếng Việt thì “gia đình” là một khái niệm rất quen thuộc. Trong
chương trình học phổ thơng, gia đình được định nghĩa là “một cộng đồng
người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ
hơn nhân, quan hệ huyết thống” [1]. Theo cách hiểu trên thì ba yếu tố tạo nên
gia đình được nhấn mạnh bao gồm: mối quan hệ, tình cảm và trách nhiệm

cơ sở nhân cách của mỗi cá nhân [29].
Trong truyền thống người Việt Nam nói chung, gia đình ln giữ một
vai trị quan trọng, ảnh hưởng tới q trình hình thành nhân cách và chi phối
hành vi của mỗi người. Theo TS. Ngơ Thị Ngọc Anh, gia đình có các chức
năng cơ bản là:

12


Chức năng tái sản xuất con người, chức năng kinh tế, chức năng xã
hội hóa, chức năng tình cảm, chức năng chăm sóc sức khỏe [1].
Cùng quan điểm trên, nhà nghiên cứu Phan Đại Dỗn chỉ rõ: “chức
năng vốn có” và “chức năng có tính xã hội - lịch sử” [15]. Chức
năng vốn có như: tình u, sinh đẻ và ni dưỡng con cái; chức
năng có tính lịch sử thì có thể thay đổi theo thời đại và sự phát triển
xã hội như các chức năng kinh tế, giáo dục, tín ngưỡng… [15].
Như vậy, vai trị của gia đình đối với mỗi cá nhân trong truyền thống
người Việt là rất lớn và mang những nét đặc trưng riêng biệt. Gia đình có ảnh
hưởng đến mỗi người trong suốt cuộc đời, trong mọi hoàn cảnh.
Đối với phạm nhân trong trại giam, mặc dù họ bị quản lý, giam giữ
tách biệt khỏi mơi trường xã hội và ít có thời gian tiếp xúc với người thân
nhưng vai trị của gia đình khơng vì thế mà mất đi. Tuy nhiên, ảnh hưởng
của gia đình đến mỗi phạm nhân là khơng giống nhau, cả về chiều hướng
tác động cũng như mức độ tác động. Đối với đa số phạm nhân, gia đình
ln là chỗ dựa tinh thần to lớn, là niềm tin và hy vọng để họ vượt qua khó
khăn, yên tâm cải tạo. Nhưng cũng có những phạm nhân lại là vì gia đình
mà bi quan, bng xi, chán nản. Thậm chí, ảnh hưởng của gia đình đến
một phạm nhân tại các thời điểm và hồn cảnh khác nhau cũng khơng
giống nhau. Do đó, để hoạt động giáo dục phạm nhân trong các trại giam
đạt được mục tiêu đã đề ra thì lực lượng Cảnh sát Quản lý trại giam cần

trại giam khơng phải để trừng trị mà cịn là giáo hóa. Đây là quy định thể hiện
tư tưởng nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam, bản chất ưu việt của Nhà
nước Việt Nam mới trong giáo dục, cải tạo các loại đối tượng chống lại chính

14


quyền dân chủ nhân dân; tuân thủ hiến pháp, bảo vệ trật tự xã hội; bảo vệ và
giữ vững chính quyền cách mạng. Trải qua 70 xây dựng, phát triển và trưởng
thành, từ những ngày đầu thành lập, các Trại giam thuộc sự quản lý của Cục
Cảnh sát quản lý, Trại giam, Cơ sở giáo dục bắt buộc, Trường giáo dưỡng Bộ Công an (Gọi tắt là Cục V26). Đến năm 2010, Cục V26 được Bộ Công an
quyết định thành: “Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp” (Gọi tắt
là Tổng cục VIII). Đến năm 2018, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về
sắp xếp lại bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Bộ Cơng an đã có
Đề án 106 về xóa bỏ các Tổng cục, thành lập các Cục thì Tổng cục VIII được
chuyển thành: Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc,
trường giáo dưỡng (Gọi tắt là Cục C10). Hiện nay, Cục C10 đang quản lý 54
trại giam phân bố trên toàn quốc; với tổng số cán bộ chiến sĩ 22.831 (Nam:
19.426; Nữ: 3.405); hiện đang quản lý 131.839 phạm nhân (số liệu được tính
đến tháng 12 năm 2019) (Bảng 2.1).
1.3.2. Công tác giáo dục phạm nhân
Giáo dục phạm nhân là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của
lực lượng cảnh sát quản lý trại giam (chủ thể giáo dục) đến phạm nhân (đối
tượng giáo dục) nhằm giáo dục cảm hóa họ trở thành cơng dân lương thiện, có
ý thức chấp hành pháp luật và các quy tác của cuộc sống xã hội, đáp ứng yêu
cầu của xã hội.
Giáo dục, cải tạo phạm nhân là một trong hai nhiệm vụ cơ bản và
xuyên suốt của công tác thi hành án phạt tù do các trại giam tiến hành. Trong
quá trình chấp hành án, phạm nhân không chỉ được quản lý chặt chẽ, và trại
giam không chỉ là nơi giam giữ mà mục đích quan trọng xun suốt, chủ đạo

gồm những thuật ngữ như: “giáo dục chính trị, tư tưởng”, “giáo dục văn hóa”,
“giáo dục lao động” và những quy định cụ thể chi tiết về các hoạt động này.

16


Cũng vào thời điểm trên, công tác nghiên cứu về các biện pháp giáo dục, đặc
điểm tâm lý phạm nhân đã được tiến hành với các tổng kết chuyên đề, một số
báo cáo khoa học, bài viết của các cán bộ Cục quản lý trại giam đăng rải rác
trên các tạp chí của lực lượng Cơng an nhân dân.
Trong những năm 1980, công tác giáo dục được đẩy lên một nấc mới,
cùng với sự tiếp thu những kinh nghiệm của Liên Xô cũ. Hoạt động giáo dục
trong trại giam đã bắt đầu thu hút cả sự tham gia của phạm nhân và gia đình
họ bằng các “Hội đồng tự quản”, “Phong trào thi đua cải tạo”, “Hội nghị gia
đình trại viên”. Về mặt tổ chức, các cơ quan Cục có phòng giáo dục cải tạo.
Ngày 08/3/1993, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua Pháp lệnh thi hành án phạt tù. Đây là văn bản
quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất đến thời điểm đó, chứa đựng
nhiều tư tưởng, quan điểm mới về công tác thi hành án phạt tù, tổ chức thi
hành án phạt tù, quản lý, giáo dục và thực hiện chính sách đối với phạm nhân.
Cùng với nhiều sự thay đổi, lần đầu tiên đã có Phịng nghiên cứu khoa học
được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, quản lý khoa học, đặc
biệt là về các biện pháp quản lý tác động giáo dục phạm nhân.
Cũng vào thời điểm này, các nhà giáo dục, tâm lý của nhiều cơ quan
trong và ngoài ngành Cơng an đã bắt đầu có những cơng trình khoa học
nghiên cứu về tâm lý phạm nhân và các biện pháp tác động giáo dục. Tuy
nhiên, đây mới chỉ là nghiên cứu bước đầu, còn hạn chế rất nhiều về phương
pháp, kết quả nghiên cứu, số lượng và trình độ nghiên cứu. Mặc dù vậy, các
cơng trình nghiên cứu này, cùng với hệ thống giáo trình, bài giảng của khoa
nghiệp vụ giáo dục cải tạo phạm nhân và chế độ giáo dục được quy định trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status