Chỉ số IQ và phương pháp xác định IQ - Pdf 75

Chỉ số IQ và phương pháp xác định IQ
ThS. Lý Minh Tiên
P.Trưởng khoa Tâm lý Giáo dục
Trường Đại học Sư PhạmTP.HCM
DÀN BÀI:
1. IQ là gì?
2. Phương pháp đo IQ.
- Một chút bàn luận.
- Công thức tính IQ.
- Minh họa các câu test đo IQ.
3. Những điều nói thêm về IQ.
4. Giới thiệu trang web để tự kiểm tra IQ.
-------------
IQ LÀ GÌ?
IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là “Intelligence Quotient”, thường dịch
là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh. Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí
tuệ của người đó. Ta có thể hình dung khả năng đó qua câu chuyện sau đây:
Edidon cần tính dung tích một bóng đèn hình quả lê, ông giao nhiệm vụ đó cho trợ lý
Chapton (tốt nghiệp đại học y khoa Toán). Hơn một tiếng đồng hồ, Chapton loay hoay mãi với các
công thức dày đặc mà vẫn chưa tính ra. Edidon đi qua, nói: “Có gì phức tạp lắm đâu!”. Ông mang
chiếc bóng đèn ra vòi, hứng đầy nước và nói với Chapton: “Anh đổ nước vào ống đó, xem dung
tích là bao nhiêu. Đó là dung tích của bóng đèn”.
Từ câu chuyện trên ta thấy người thông minh là người có khả năng vượt trội về mặt trí tuệ
so với nhiều người khác. Việt Nam cũng có nhiều câu chuyện về người thông minh và có lẽ chỉ số
IQ không hề xa lạ với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những người làm công tác y tế và giáo
dục. Về khái niệm, hầu hết mọi người đều có được ý niệm trực giác về trí thông minh. Có nhiều từ
dùng để chỉ những khác biệt về mức độ thông minh: sáng dạ, lanh lợi, thông minh, tài tình, khôn
ngoan, láu lỉnh, chậm hiểu, tối dạ, ngu đần, đần độn v.v…Mấy năm gần đây, một số chương trình
quảng cáo trên truyền hình về thực phẩm cũng thường nhắc đến chỉ số IQ, đến quan hệ giữa thông
minh và trí não. Điểm cần nhấn mạnh trước tiên là chỉ số IQ không phải bất biến. Ngoài yếu tố
dinh dưỡng hợp lý, tùy thuộc hoàn cảnh giáo dục, môi trường giao tiếp và môi trường văn hóa cộng

năng lực nhận thức chung, bẩm sinh.
Định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu đề nghị là coi trí thông minh như một nhóm khả
năng được biểu hiện và đánh giá qua điểm số mà những trắc nghiệm trí tuệ đo được. Định nghĩa là
thuận lợi cho việc nghiên cứu có liên quan đến một thuật ngữ rất trừu tượng là “trí thông minh”,mở
ra hướng đo đạc, lượng hóa các khả năng trí tuệ, những từ đó cũng nổi lên một số vấn đề. Bởi vì
hiện nay có nhiều trắc nghiệm khác nhau, các trắc nghiệm không đo lường cùng một cái gì như
nhau. Bên cạnh các trắc nghiệm phi ngôn ngữ có thể dùng chung cho nhiều quốc gia, nhiều dân tộc
khác nhau, những trắc nghiệm có sử dụng ngôn ngữ đều chịu ảnh hưởng khá mạnh vào một nền
văn hóa. Mặt khác, khi xây dựng trắc nghiệm thường người ta phải hướng đến mục đích của việc
đo lường, nghĩa là phải phân tích lý luận về cái cấu thành nên trí thông minh. Về điểm này thường
có các quan niệm khác nhau:
- Nhà tâm lý học người Pháp, A.Binet cho rằng trong cấu trúc trí tuệ có những năng lực
như: chú ý, tưởng tượng, phán đoán và suy lý.
- Nhà bác học người Anh, C. Spearman (1863 – 1945) qua nghiên cứu nhiều trắc nghiệm
dựa trên phương pháp toán học, đã kết luận rằng có một nhân tố chung ảnh hưởng đến tất cả các
trắc nghiệm được nghiên cứu. Bên cạnh đó ông còn chỉ ra những nhân tố riêng, chỉ tồn tại đối với
mỗi trắc nghiệm. Quan niệm của Spearman đã được đưa vào trong tâm lý học, như là thuyết hai
nhân tố (factors) của trí thông minh, đó là nhân tố G (general) và S (special).
- Nhà tâm lý học người Mỹ, L.L.Thurstone (1887 – 1955) đưa ra phương pháp phân tích đa
nhân tố (1947). Ông cho rằng trí thông minh gồm 7 nhân tố:
V = sữ lĩnh hội ngôn từ (vebal comprehension).
W = hoạt bát ngôn ngữ (word fluency)
N = khả năng vận dụng tài liệu chữ số (Number).
S = năng lực không gian (space)
M = trí nhớ )memory).
P = tri giác (perceptual).
R = khả năng suy luận (reasoning).
- J.P.Guilford cho trí tuệ gồm 120 năng lực, chia làm 3 mặt: tiến trình, chất liệu, kết quả.
- Gần đây, qua kết quả nghiên cứu, các nhà tâm lý học Trung Quốc cho rằng trí thông minh
bao gồm khả năng quan sát, khả năng của trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng tượng, kỹ năng thực hành

Wechsler trong các trắc nghiệm trí tuệ dùng cho trẻ em và cho người lớn đã sử dụng điểm IQ
chuyển hóa. Đây là loại điểm IQ chuyển đổi từ điểm số bài trắc nghiệm của một người sang loại
thang đo tiêu chuẩn, dựa trên lý thuyết cho rằng những điểm số trắc nghiệm của một dân số người
được phân bố bình thường, và thang này có điểm trung bình = 100 độ lệch tiêu chuẩn = 15. Công
thức tính:
IQ = 100 + 15 Z
Z là điểm biến đổi từ điểm số bài trắc nghiệm theo công thức Z =
X
-
µ
, trong đó µ và σ

σ
lần lượt là điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn các bài làm của nhóm đông người chọn làm đại
diện cho dân số.
Thí dụ: Khảo sát bằng test RAVEN (60 câu hỏi) trên một nhóm khoảng 2000 học sinh đại
diện cho các học sinh lớp 8 TPHCM thu được điểm trung bình µ = 35,5 độ lệch tiêu chuẩn σ =
11,4. Học sinh Tuấn, lớp 8 làm bài test này đạt 48 điểm. Vậy IQ của Tuấn là bao nhiêu?
Giải: Đổi điểm của Tuấn ra Z = (48 – 35.5)/11.4 – 1.096
Suy ra IQ = 100 + 15 x 1.096 = 116
Dưới đây là bảng giải thích ý nghĩa từng nhóm điểm IQ và biểu diễn bằng đồ thị (các vùng
dưới đường cong bình thường tính trên dân số rất lớn):
Bảng 1. Giải thích các loại IQ
Khoảng điểm IQ Mô tả ý nghĩa Tỷ lệ % trong dân số
40 – 55 Rất kém 0.13%
55 – 70 Chậm phát triển tâm thần 2,14%
70 – 85 Kém thông minh 13,59%
85 – 115 Trí tuệ bình thường 68,26%
115 – 130 Thông minh 13,59%
130 – 145 Trí thông minh cao (có tài) 2,14%

cạnh bị làm sai lạc.
Nào, bây giờ bạn hãy thử hoàn thành 3 câu hỏi ngay dưới đây.
Làm trong 60 giây
1. 2 con vịt và 2 con chó có tổng số chân là 14
Đúng Sai
2. Một cái bánh có thể cắt thành hơn 7 miếng chỉ với 4 nhát cắt theo đường thẳng xuyên
qua tâm cái bánh.
Đúng Sai
3. Hai trong các số sau đây có tổng đến 13.
1, 6, 3, 5, 11
Đúng Sai
Đáp án: Câu 1: Sai; Câu 2: Đúng; Câu 3: Sai
Dựa trên ý nghĩa vừa trình bày, mỗi câu trắc nghiệm IQ được soạn theo nhiều hình thức
khác nhau phục vụ cho một ý đồ riêng, nhằm đo lường một cái gì đó của trí tuệ. Như đã trình bày
trong phần lý luận trên, quan niệm trí thông minh là sự phối hợp của nhiều thành tố giúp cho việc
xây dựng bài trắc nghiệm thành dễ dàng hơn. Các câu hỏi sẽ hướng vào đo lường các kỹ năng trong
từng thành tố. Ví dụ:
Ngôn ngữ
Toán học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status