TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI:
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHXH:
Con người muốn tồn tại và phát triển cần phải được đáp ứng các nhu cầu tối
thiểu: ăn, mặc, ở, nhưng để thoả mãn được các nhu cầu này con người cần phải lao
động, tạo ra những sản phẩm cần thiết đáp ứng cho các nhu cầu đó. Trong suốt cuộc
đời, mọi hoạt động của con người không phải lúc nào cũng suôn sẻ, họ có thể gặp phải
những khó khăn hay những rủi ro trong cuộc sống, làm mất khả năng lao động, giảm
hoặc mất thu nhập. Đặc biệt khi nền sản xuất hàng hoá phát triển, cùng với quá trình
công nghiệp hoá đã tạo điều kiện cho Chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển mạnh mẽ,
đội ngũ công nhân lao động làm thuê cũng tăng lên; cuộc sống của họ chủ yếu phụ
thuộc vào thu nhập do việc làm thuê đem lại. Tuy nhiên, NLĐ lại bị giới chủ bóc lột hết
sức nặng nề và đối xử không công bằng: giờ làm việc kéo dài, cường độ lao động rất
cao, tiền công lại bị trả rất thấp, thu nhập không đủ để đảm bảo những nhu cầu cần
thiết, khiến họ thường xuyên phải đối mặt với các hiện tượng: ốm đau, tai nạn lao động.
Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp
đỡ lẫn nhau tạo lập các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế
và vận động mọi người tham gia. Đây chính là mầm mống đầu tiên cho sự ra đời của
một hệ thống BHXH.
Kể từ đó hệ thống BHXH trên thế giới đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
-Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu
tiên tại Cộng hoà liên bang Đức
-Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức và Bỉ
-Năm 1883 Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH
-Năm 1894 và năm 1896 Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu tiên về các
tổ chức tương tế
-Năm 1935, Mỹ ban hành đạo luật đầu tiên về ASXH, trong đó BHXH là hạt
nhân
-Ngày 10/12/1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc Tuyên ngôn nhân quyền, trong
đó có đoạn: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên xã hội có quyền hưởng
Nam;
-Quyết định 606/1995/QĐ – TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ và
việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;
-Nghị định số 93/1998/NĐ – CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa
đổi, bổ sung một số Điều lệ BHXH;
-Luật BHXH được Quốc hội khoá XI tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006 thông
qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 quy định chi tiết về chế độ, chính sách, quyền và
trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia BHXH,…Kể từ
đây, Luật BHXH đã trở thành lang pháp lý hoàn chỉnh nhất cho hoạt động của hệ hống
BHXH, chính vì vậy quyền lợi của NLĐ cũng được đảm bảo nhất.
Trên đây là một số mốc quan trọng trong việc thực hiện BHXH. Có thể nhận
thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta coi BHXH là một trong những chính sách xã hội hàng
đầu nên luôn cố gắng hoàn thiện hê thống BHXH một cách tốt nhất cho phù hợp với
điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
1.1.2. Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH:
1.1.2.1. Khái niệm BHXH:
BHXH ra đời và phát triển khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở Châu
Âu, chính vì vậy có thể nói, BHXH có một lịch sử khá lâu đời, có nhiều thay đổi về
chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới.
BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình
họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm,…làm giảm hoặc mất
thu nhập. Tuy nhiên, do tính chất lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH
cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và cho đến nay, BHXH vẫn là vấn đề còn
nhiều tranh luận.
Theo khái niệm mà ILO đưa ra thì BHXH được hiểu là: “sự tổ chức bảo đảm bù
đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ
nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử
dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các
bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn
kinh tế cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.
- Lịch sử phát triển của BHXH đã chỉ ra rằng: có một số cách thức tổ chức thực
hiện để bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ
nghề nghiệp, như: NLĐ cùng giúp đỡ nhau, Nhà nước thực hiện thông qua ngân sách và
hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung thông qua sự đóng góp của các bên tham
gia.
1.1.2.2. Bản chất của BHXH:
- BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát triển
của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và
phát triển. Vì vậy, có thể cho rằng sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát
triển của một nền kinh tế: một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém
không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống
BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày
càng phong phú hơn.
- Mối quan hệ bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra
giữa ba bên: bên tham gia BHXH – bên BHXH – bên được BHXH. Bên tham gia
BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật, gồm: NLĐ,
hoặc NSDLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. NLĐ tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính
mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông NLĐ; NSDLĐ có trách nhiệm đóng góp
BHXH cho NLĐ mà mình thuê mướn. Bên BHXH là bên nhận tiền đóng góp BHXH
của các bên tham gia. Bên BHXH thường là một cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập
ra và bảo trợ. Bên được BHXH là bên nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu
cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi ro được bảo hiểm
gây ra. Bên được BHXH là: NLĐ và gia đình họ.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nghiên trái với chủ quan của con người như: ốm
đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp,... hoặc có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn
toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,..Các rủi ro đó có thể xảy ra cả trong hoặc ngoài
quá trình lao động.
- Phần thu nhập bị giảm hoặc mất đi của NLĐ khi gặp phải rủi ro sẽ được thay
thế hoặc bù đắp một phần từ nguồn quỹ tài chính tập trung do các bên tham gia cùng
nhau hơn, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội và tăng
chất lượng cuộc sống của chính NLĐ.
-Đối với Người sử dụng lao động:
Thực tế trong quá trình lao động sản xuất, giữa NLĐ và NSDLĐ luôn xảy ra
những xung đột nhất định về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…và khi những
rủi ro xảy ra, nếu có không có sự trợ giúp của BHXH thì dễ dẫn đến những xung đột và
tranh chấp giữa hai giới chủ - thợ. Vì vậy, BHXH góp phần điều hoà, hạn chế những
mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường làm việc ổn định cho NLĐ và
tạo sự ổn định trong công tác quản lý cho NSDLĐ. Từ đó nâng cao khả năng sản xuất
của doanh nghiệp.
Hơn nữa NSDLĐ muốn ổn định phát triển sản xuất kinh doanh chẳng những
phải đầu tư vào máy móc, trang thết bị,…mà còn phải chăm lo đến đời sống của NLĐ
mà họ thuê mướn. Nhưng trong cuộc sống, luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra bất
cứ lúc nào đối với NLĐ, và khi đó NSDLĐ sẽ không có người làm thuê cho mình, do
đó quá trình sản xuất, kinh doanh sẽ bị gián đoạn rồi dẫn đến năng suất giảm và cuối
cùng là giảm thu nhập của NSDLĐ. Nhưng khi có sự tham gia của BHXH, có sự trợ
giúp về mặt tài chính thì NLĐ nhanh chóng được phục hồi những thiệt hại xảy ra,
nhanh chóng quay lại với công việc, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
-Đối với Nhà nước:
+ BHXH là một bộ phận quan trọng giúp Ngân sách Nhà nước giảm chi đến mức
tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó khăn trong cuộc sống của NLĐ và gia đình họ
khi gặp phải những rủi ro.
+ BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước, ổn định trật tự xã hội:
BHXH giúp điều hoà, hạn chế những mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời tạo
ra môi trường làm việc thuận lợi cho NLĐ. Bởi lẽ, nếu những mâu thuẫn giữa NLĐ và
NSDLĐ chưa được giải quyết thì có thể dẫn tới những cuộc đình công, thậm chí là
những cuộc bãi công, đến lúc đó, quá trình sản xuất bị ngừng trệ, không có sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội; bên cạnh đó, Chính phủ còn phải đối mặt với hàng
loạt vấn đề như: giữ vững an toàn xã hội, đảm bảo các nhu cầu của người dân…
+ Quỹ BHXH chẳng những dùng để chi trả trợ cấp cho NLĐ khi gặp phải rủi ro
BHXH sẽ giúp cho NLĐ có một cuộc sống ổn định hơn và NSDLĐ có kết quả sản xuất
kinh doanh tốt nhất.
Đối với NLĐ, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và không hoàn toàn
hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết là do lỗi của bản thân. Vì thế, nếu
muốn được BHXH tức là muốn được nhiều người hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của
mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết đã. Điều
đó có nghĩa là bản thân NLĐ phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho
mình.
-BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành Quỹ
BHXH độc lập và tập trung.
Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm của các bên tham gia vào BHXH đó là việc
đóng phí BHXH. Nhờ có sự đóng góp mà phương thức riêng có của BHXH là dàn trải
rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và
chiều ngang. Hơn nữa, nó còn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm
và quyền lợi, góp phần hạn chế những hiện tượng nhiễu trong hệ thống hoạt động mang
lại nhiều lợi ích cho mọi người có liên quan .
-Phải lấy số đông bù số ít:
Cách làm riêng của BHXH là mọi người đóng góp cho bên nhận BHXH (cơ
quan BHXH chuyên nghiệp) tồn tích dần thành một quỹ tài chính độc lập và tập trung
dùng để chi trả trợ cấp cho NLĐ khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập theo các
chế độ xác định. Như vậy, trong số đông người tham gia đóng góp BHXH chỉ những
NLĐ mới được hưởng trợ cấp. Trong những NLĐ, chỉ những NLĐ bị ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động hay tuổi già có đủ điều kiện cần thiết mới thực sự được hưởng trợ cấp.
Vì thế số tiền họ nhận được từ trợ cấp lớn hơn rất nhều so với số tiền mà họ đã đóng
góp.
-Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu
BHXH.
Trong BHXH, cả ba bên tham gia, NSDLĐ, NLĐ, Nhà nước đều nhận được
nhiều lợi ích, nhưng những lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống
nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúc mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, trong nghiên cứu
động trong hoạt động để có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm lẫn nhau.
-BHXH phải được phát trển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế -
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.