THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM & LÝ THUYẾT
PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ
I/ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1. Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán,
chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó
có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói
đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.Hình
thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (Stock
exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập
trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào
quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.TTCK phi tập trung còn gọi
là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được
tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc giả
và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình
thành theo phương thức thoả thuận.
Như vậy xét về mặt hình thức thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các
hoạt động trao đổi, mua bán và chuyển nhượng chứng khoán, qua đó làm thay
đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
2. Lịch sử hình thành
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là mục tiêu được Đảng và
chính phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu của thập kỉ 90 (thế kỉ 20)
nhằm xác lập một kênh huy động vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế.
Trước định hướng đó, nghị định 28/cp do chính phủ bán hành 07/05/1996
quy định việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
Nhưng sau 2 năm thực hiện chỉ có 10 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, một
kết quả quá khiêm tốn. Do vậy để thúc đầy quá trình cổ phần hoá, ngày
29/06/1998 chình phủ bán hành nghị định 44/1998/NĐ-CP thay thế nghị định
28/CP quy định trong vòng 5-10 năm nữa cổ phần hoá phần lớn các doanh
nghiệp hoạt động trong ngành nghề không phải là ngành kinh tế trọng điểm. Với
ý tưởng tạo ra thị trường chứng khoán để tạo ra môi trường thuận lợi cho quá cổ
linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu
quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng
cao.
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt
động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác,
giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh
chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải
tiến sản phẩm.
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền
kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu
tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh
tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế
vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để
tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra,
Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào
TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh
tế.
4. Nguyên tắc hoạt động
Thị trường chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc
trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai.
Nguyên tắc trung gian: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán
trên thị trường chứng khoán đều đuợc thực hiện thông qua các trung gian, hay
còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của
khách hàng và huởng hoa hồng. Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các
dịch vụ khác nhu cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc đầu
tư...
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông
qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán mới phát hành. Như vậy, thị trường sơ
cấp là kênh huy động vốn cho nhà đầu tư hay nói cách khác nó thực hiện quá
trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoán tiền nhàn rỗi tạm thời trong
dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn. Giá chứng khoán trên
thị trường sơ cấp là do tổ chức phát hành quyết định và thường được in ngay
trên chứng khoán.
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các
chứng khoán đã phát hành. Giá cả trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc
cạnh tranh tự do, giá cả trên thị trường chứng khoán là do cung cầu quyết định.
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục
đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm,
hưởng chênh lệch giá. Hay nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào người
phát hành chứng khoán mà chuyển vận giữa những nhà đầu tư chứng khoán trên
thị trường với nhau.
Như vậy, thị trường thứ cấp không cung cấp dịch vốn cho các doanh
nghiệp, thì có lợi gì? Không có thị trường thứ cấp, thì không có thị trường sơ
cấp: nếu chứng khoán phát hành ra mà không lưu chuyển được trên thị trường
thứ cấp, thì nhà đầu tư cũng không quan tâm đến việc mua, nắm giữ chứng
khoán phát hành (nhất là cổ phiếu, một loại chứng khoán vô thời hạn). Cổ phiếu
của một tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán khi được mua bán nhiều
là phản ánh lòng tin của người đầu tư vào tổ chức đó; do đó khi tổ chức niêm
yết muốn tăng vốn, họ có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu đợt
mới. Vì vậy, thông thường, khi thị trường đang lên (chỉ số giá cổ phiếu đang ở
xu hướng tăng), thì các công ty dễ dàng phát hành với khối lượng lớn. Khi thị
trường đang xuống, thì các công ty rất khó phát hành chứng khoán. Ngược lại,
nếu tổ chức phát hành các cổ phiếu có chất lượng cao ở thị trường sơ cấp thì
giới, tự doanh, quản lí quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty chứng
khoán là người trực tiếp mua bán chứng khoán trên trung tâm giao dịch chứng
khoán ( sở giao dịch chứng khoán )
- Các ngân hàng thương mại: tại một số nước ngân hàng thương mại có thể
sử dụng vốn để tự có để tăng và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư chúng
khoán. Tuy nhiên các ngân hàng chỉ được đầu tư chứng khoán trong những giới
hạn nhất định để bảo vệ ngân hàng trước biến động của giá chứng khoán.
6.5. Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
- Các cơ quan quản lí nhà nước
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu kí và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
7. Hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Chứng khoán là hàng hoá của thị trường chứng khoán. Theo Markowitz: tài
sản tài chính là các chứng từ thể hiện quyền của người sở hữu các tài sản đó đối
với các nguồn thu nhập tương lai của chủ thể phát sinh hành. Như vậy chứng
khoán được coi là một tài sản tài chính.
Trong quá trình phát triển của thị trường, hàng hoá ngày càng đa dạng,
phong phú, và người ta chia chứng khoán thành 4 loại chính sau: cổ phiếu, trái
phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
Cổ phiếu là một chứng khoán vốn xác nhận các quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp của một cổ đông đối với một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài
chính có thời hạn thanh toán vô hạn.
- Cổ phiếu thường: Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia
kiểm soát, theo dõi, quản lí công việc của công ty thông qua cơ chế đại diện và
biểu quyết.
- Cổ phiếu ưu đãi: Cổ đông nắm giữ không được tham gia vào bán bầu
cử, ứng cử vào bán kiểm soát công ty, cổ đông thường nhận mức cổ tức cố định,
Có nhiều cách để thể hiện một danh mục đầu tư nhưng cách thuận lợi nhất
là thể hiện dưới dạng tỉ trọng các tài sản đầu tư trong danh mục. Ví dụ có danh
mục P:
( )
1 2
, ,...,
w w w
n
với
n
1
1
w
i
i=
=
∑
,
w
i
là tỉ trọng của tài sản thứ i.
Phân tích và quản lí danh mục đầu tư là dựa vào thái độ đối với rủi ro
của nhà đầu tư, phân tích biến động chứng khoán từ đó điều chỉnh vị thế các tài
sản trong danh mục. Hai yếu tố quan trọng phải xem xét đó là lợi suất, và độ rủi
ro của danh mục mà nhà đầu tư chấp nhận. Bởi vì có thể với cùng một tài sản
nhưng thái độ với tài sản đó của nhà đầu tư không giồng nhau, hay cùng với
một danh mục nhưng thái độ với rủi ro của từng nhà đầu tư là khác nhau.
Theo luật chứng khoán thì chỉ có công ty quản lí quỹ mới thực hiện nghiệp
vụ quản lí danh mục đầu tư. Tùy theo những thoả thuận với khách hàng, công ty
có thể lập các danh mục đầu tư, công ty sẽ hưởng phí danh mục quản lí, lãi và lỗ
biến đổi không chắc chắn của các tỷ suất lợi nhuận liên quan đến một chứng
khoán hay một tài sản nào đó. Rủi ro danh mục được thể hiện bằng độ biến
động của danh mục đó, thể hiện sự biến động trong tương lai kết quả thu được
của việc đầu tư.
Lợi suất của một tài sản hay của một danh mục thể hiện phần trăm thay
đổi giá trị của tài sản (danh mục) tại thời điểm xem xét với giá trị của tài sản
(danh mục) bán đầu. Lợi suất của tài sản (danh mục) thế hiện đầy đủ các thông
tin và đặc điểm của tài sản (danh mục) và lợi suất của tài sản thì không phụ
thuộc và quy mô của việc đầu tư.
Một danh mục đầu tư là sự kết hợp các vị thế của các tài sản tài chính với
nhau. Điều đó thể hiện một nguyên tắc trong đầu tư tài chình là “ không bỏ tất
cả trứng vào cùng một giỏ”. Sự đa dạng hoá đầu tư sẽ giảm thiểu rủi ro danh
mục bằng cách kết hợp đầu tư nhiều lơại chứng khoán mà các chứng khoán này
có giá hoặc lợi suất biến động không cùng chiều với nhau.
Như vậy rủi ro có thể loại trừ được bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu
tư. Mỗi tài sản tài chính đều tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi ro phi
hệ thống.
- Rủi ro hệ thống là loại rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các tài
sản trên thị trường. Vì thế người ta gọi nó là rủi ro thị trường. Một số nguyên
nhân có thể dẫn đến rủi ro phi hệ thống như là thay đổi trong lãi suất, thay đổi
trong sức mua, thay đổi trong kì vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh
tế...
- Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặc một
nhóm nhỏ các tài sản, nghĩa là loại rủi ro này chỉ liên quan đến từng doanh
nghiệp cụ thể. Một số nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro phi hệ thống này như
năng lực và quyết định quản trị, đình công, nguồn cung ứng nguyên vật liệu,
những tác động về cạnh tranh của nước ngoài, mức độ sử dụng đón bẩy tài
chính và đón bẩy kinh doanh...
Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
Sự kết hợp giữa những tài sản rủi ro này sẽ tạo nên rủi ro cho danh mục.
Giả sử danh mục P có với
n
1
W'U=1
w
i
i=
=
∑
,
w
i
là tỉ trọng của tài sản thứ i.
1
1
....
1
u
=
Với
n
1
1
w
∀ =
Kí hiệu: ma trận hiệp phương sai lợi suất của N tài sản là
1,
1,
ij
i N
j N
V
σ
=
=
=
Với
2
i
σ
là phương sai của lợi suất tài sản i
Do V là ma trận đối xứng không âm nên tồn tại ma trận nghịch đảo
1
V
−
là
ma trận đối xứng và xác định dương.
Lợi suất của danh mục
p
r
=
N
r
=
N
i
i
i I
w r
∈
∑
=W’
R
n
1
W'U=1
w
i
i=
=
∑
Thực chất của bài toán là với một mức lợi suất trung bình xác định trước,
tìm danh mục có rủi ro là nhỏ nhất. Danh mục này gọi là danh mục biên duyên.
Tập các danh mục biên duyên sẽ cho ta một đường biên hiệu quả.
Lời giải
Tìm cực tiểu hàm L(w,
1
,
2
)= W'VW +2
1
0 0
0 0 U'
U 2V
Dễ dàng kiểm tra điều kiện đủ luôn thoả mãn đối với mọi nghiệm nhận đợc
từ điều kiện cần (tính chất của V).
Vì V xác định không âm nên tồn tại V
-1
.
từ (1) ta có: W =V
-1
1
R
+ V
-1
2
U (4)
Thay vào (2) và (3) ta có:
1
R
' V
-1
R
+
2
R
2
p
a b
ac b
r
=
;
2
2
p
c b
ac b
r
=
(5)
Thay nghiệm của (5) vào (4) ta có:W =V
-1
2
p
a b
ac b
r