Khoá luận tốt nghiệp 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nền kinh tế Việt Nam đang khởi
sắc, vững bước đi lên sánh vai cùng các nước, cùng hoà vào xu thế hội nhập
chung của thế giới. Hơn 20 năm mở cửa, hội nhập và phát triển kinh tế đất
nước tuy là quãng đường không dài nhưng nó đánh dấu bước ngoặt trọng đại,
những biến chuyển, đổi thay sắc nét. Mục tiêu phát triển kinh tế của chúng ta là
tốc độ cao và ổn định. Để làm được điều này cần phải có một lượng vốn tương
đối lớn đảm bảo cho quá trình trên được thực hiện một cách thông suốt, chính
vì lẽ đó mà thị trường chứng khoán ra đời như một tất yếu khách quan. Xây
dựng và phát triển thị trường chứng khoán là mục tiêu đã được Đảng và chính
phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 - thế kỷ 20 nhằm huy
động một kênh dẫn vốn mới cho đầu tư và phát triển, tạo ra một bước phát triển
mới cho thị trường tài chính Việt Nam nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói
riêng.
Việc khai trương đưa Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh đi vào hoạt động (từ tháng 7/2000) và Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội (tháng 3 năm 2005) đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình
cải cách kinh tế ở Việt Nam, khẳng định quyết tâm phát triển kinh tế thị trường
của Đảng và Chính phủ trong tiến trình đổi mới. Sau 7 năm đưa thị trường
chứng khoán Việt Nam vào hoạt động, với mục tiêu ban đầu là đưa vào vận
hành một trung tâm chứng khoán tập trung với qui mô thích hợp, phát triển từ
thấp đến cao và không gây mất ổn định kinh tế xã hội, thị trường chứng khoán
Việt Nam đã bắt đầu thể hiện vai trò của mình.
Khoá luận tốt nghiệp 2
Trong quản trị tài chính hiện đại, nghiệp vụ quản lý rủi ro giữ một vị trí
trung tâm, nó là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động đầu tư tại các tổ chức
tài chính. Tuy vậy, lĩnh vực này chỉ mới thực sự phát triển từ thập kỷ 90 trở lại
đây nhờ sự phát triển vượt bậc của công nghệ - kỹ thuật, đặc biệt là sự xuất
hiện của các công cụ tính toán với tốc độ cao đã cho phép giải quyết các bài
Nội dung chương này đưa ra một số dạng của mô hình Garch và các chỉ
báo kỹ thuật giúp cho nhà quản lý, người đầu tư có được những công cụ để
nhận định chính xác hơn mức độ rủi ro của thị trường.
Chương 3: Áp dụng mô hình phân tích rủi ro vào thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Chương 2 đã trình bày các công cụ toán về mặt lý thuyết còn trong
chương này sẽ tập trung vào ứng dụng các công cụ đó cho thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Khoá luận tốt nghiệp 4
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1 VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Những lý luận chung
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của thị trường tài
chính là một tất yếu khách quan. Thông qua việc dẫn chuyển vốn, thị trường tài
chính có vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong
nền kinh tế, trên cơ sở đó làm tăng năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh
tế. Thị trường tài chính trực tiếp cải thiện mức sống cho cả những người có vốn
và những người cần vốn. Hoạt động trên thị trường tài chính có những tác động,
hiệu ứng trực tiếp tới hiệu quả đầu tư của các cá nhân, của các doanh nghiệp, ảnh
hưởng tới hành vi của người tiêu dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền
kinh tế.
Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng
khoán (TTCK) được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua
bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ
thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn
định trước.
Hình thức sơ khai của thị trường này đã xuất hiện cách đây hàng trăm
năm. Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước
phương Tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại
các loại chứng khoán”.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá và có khả năng chuyển
nhượng hay bút toán ghi sổ, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư). Nó cho phép
chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc
quyền sở hữu trong một thời hạn nào đó. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau
giữa các loại chứng khoán và tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Các giao dịch
mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary
Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock
Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over – The Counter
Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future
Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng
khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển
từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hóa thông
thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc
biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử
dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể
hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng
khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường
chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng
hoá.
Các loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán cũng rất đa dạng như: cổ
phiếu, trái phiếu (trái phiếu công ty và trái phiếu Chính phủ), các loại chứng
khoán phái sinh.
Khoá luận tốt nghiệp 7
- Cổ phiếu:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài
sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn
thanh toán là vô hạn.
quyết bằng bao nhiêu lần một cổ phiếu thường trong Đại hội cổ đông hay quyết
định những vấn đề quan trọng của công ty. Tuy nhiên cổ đông có cổ phiếu ưu đãi
biểu quyết phải nắm giữ cổ phiếu này trong một thời gian nhất định, không được
chuyển nhượng, trao đổi.
Cổ phiếu ưu đãi tài chính tương tự như cổ phiếu thường nhưng có một số
hạn chế như cổ đông sở hữu cổ phiếu này không được tham gia bầu cử, ứng cử
vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty. Nhưng bù lại, họ được hưởng
ưu đãi về tài chính theo một mức cổ tức riêng biệt có tính cố định hàng năm,
được ưu tiên chia cổ tức và được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty sau
khi thanh lý, giải thể trước cổ phiếu thường.
Thị giá của cổ phiếu ưu đãi phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu
kho bạc và tình hình tài chính của công ty.
Việc đầu tư vào cổ phiếu không chỉ đơn giản là nhận được cổ tức mà
quan trọng hơn chính là chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trường (lãi vốn). Khi cổ
Khoá luận tốt nghiệp 9
phiếu của công ty được nhiều người mua chứng tỏ thị trường tin tưởng vào hiện
tại và khả năng phát triển của công ty trong tương lai và ngược lại.
- Trái phiếu:
Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
phải trả cho người nắm giữ chứng khoán đó một khoản tiền xác định, vào những
thời hạn cụ thể và theo những điều kiện nhất định. Trái phiếu là chứng khoán nợ,
người mua trái phiếu là trái chủ, là chủ nợ của các tổ chức phát hành, có quyền
đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có
quyền tham gia vào hoạt động của tổ chức phát hành. Trái phiếu có thể phát
hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ.
Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và các loại chứng khoán Chính
phủ.
- Các loại chứng khoán phái sinh (derivatives):
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng
khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán phái
một thị trường không hiệu quả, vì khả năng dự đoán cho thấy rằng không phải tất
cả các thông tin trên thị trường đã được phản ánh trong giá chứng khoán. Trên
cơ sở này, nhận định giá chứng khoán đã phản ánh toàn bộ thông tin trên thị
trường gọi là Giả thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis –
EMH).
Khoá luận tốt nghiệp 11
Thông thường, dựa trên sự khác nhau của khái niệm “tất cả thông tin”
trên thị trường được phản ánh vào giá chứng khoán, người ta phân ra ba cấp độ
của EMH.
EMH cấp thấp: giả định giá cả chứng khoán đã phản ánh các thông tin
có thể thu thập thông qua nghiên cứu số liệu giao dịch như biến động giá, khối
lượng, lãi suất trong quá khứ. EMH cấp độ này cho thấy việc phân tích xu hướng
là không có giá trị gì. Số liệu chứng khoán trong quá khứ được công bố rộng rãi
và không mất tiền mua. Nếu những số liệu này có thể đưa ra các dấu hiệu tin cậy
về xu thế giá chứng khoán trong tương lai thì tất cả các nhà đầu tư đã sử dụng
dấu hiệu này. Cuối cùng, các dấu hiệu này sẽ mất giá trị vì chúng đã được phổ
biến trên toàn thị trường.
EMH cấp trung: tất cả các thông tin công khai trên thị trường liên quan
đến triển vọng của một công ty luôn được phản ánh trong giá chứng khoán.
Những thông tin này bao gồm: các thông tin trong quá khứ, các số liệu cơ bản
của dây chuyền sản xuất của công ty, chất lượng quản lý, cơ cấu bảng tổng kết
tài sản, các bằng sở hữu sáng chế, dự đoán thu nhập và các phương thức kế toán.
Nếu nhà đầu tư có thể có các thông tin này từ nguồn công cộng thì thông tin đó
đã được phản ánh trong giá chứng khoán.
EMH cấp cao: Giá chứng khoán của công ty luôn phản ánh mọi thông
tin liên quan đến công ty, thậm chí ngay cả các thông tin chỉ có người nội bộ
công ty được biết. Cấp độ này của EMH tương đối cực đoan. Nhiều học giả cho
rằng các quan chức của công ty được tiếp cận các thông tin quan trọng, có đủ
thời gian để kiếm lời từ việc mua bán theo các thông tin đó. Những người nội bộ
công ty, họ hàng, người thân hay bạn bè của họ nếu giao dịch dựa trên các thông
100
200
300
400
500
600
1 13 25 37 49 61 73 85 97 109 121 133
(Nguồn TTGDCK Tp.HCM)
Đây là giai đoạn đầu của quá trình phát triển thị trường chứng khoán ở
Việt Nam. Trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/07/2000 chỉ có 2 loại cổ phiếu
giao dịch là REE (công ty cổ phần cơ điện lạnh) và SAM (công ty cổ phần Cáp
và Vật liệu viễn thông). Đến phiên giao dịch thứ 4, có thêm 3 loại cổ phiếu mới
được niêm yết là công ty cổ phần giấy Hải Phòng – HAPACO (HAP), (công ty
cổ phần kho vận giao nhận ngoại thương Sài Gòn – Transimex (TMS) và công ty
cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (LAF).
Trong giai đoạn này có một số đặc điểm chính sau:
- Biên độ dao động giá được điều chỉnh: Ở phiên thứ nhất là 5%, đến
phiên thứ 2 được điều chỉnh còn 2%, và đến ngày 13/06/2001 lại là
7%
- Lượng hàng hoá trên thị trường Niêm yết còn quá ít.
Khoá luận tốt nghiệp 14
- Nhà đầu tư trên thị trường chưa có những hiểu biết đầy đủ, đúng đắn
về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Thông tin của các công ty niêm yết nói riêng và của thị trường chứng
khoán nói chung còn thiếu tính minh bạch, chính xác và kịp thời.
- Ngày 02/04/2001 (phiên giao dịch thứ 102) giới đầu tư nước ngoài
chính thức gia nhập TTCK Việt Nam.
Việc Ủy ban chứng khoán Nhà nước liên tục điều chỉnh biên độ dao
động giá (2 lần trong vòng chưa đầy 1 năm) đã có những tác động rất khác nhau
đến xu hướng biến động của thị trường. Lần đầu tiên từ 5% xuống còn 2%. Với
0
100
200
300
400
500
600
1 10 19 28 37 46 55 64 73 82 91 100
(Nguồn: TTGDCK Tp.HCM)
Khoá luận tốt nghiệp 16
Ngày 25/06/2001 đánh dấu mức kỷ lục của chỉ số Vn-Index từ khi thị
trường chứng khoán Việt Nam ra đời. Sau đó là sự xuống dốc không phanh của
chỉ số giá Vn-Index ở giai đoạn tiếp theo.
Sự sụt giảm giá mạnh này có thể do các nguyên nhân sau:
- Sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của UBCKNN, Ủy ban có
thông báo “mỗi nhà đầu tư được mua tối đa 10.000 cổ phiếu/phiên”,
trên mỗi cổ phiếu nhà đầu tư chỉ được đặt một lệnh mua với số lượng
tối đa là 2.000 đơn vị.
- Thông tin về việc nhà đầu tư mua chứng khoán thì phải nắm giữ
chứng khoán đó trong vòng ít nhất 6 tháng mới được phép bán.
- Thị trường vàng, bất động sản, ngoại hối tăng giá đã thu hút đầu tư
vào lĩnh vực này trong khi TTCK kém hấp dẫn hơn.
- Ủy ban chứng khoán Nhà nước quyết định điều chỉnh biên độ dao
động giá từ 7% về 2%(ngày 10/10/2001)
- Nhà đầu tư chưa có hiểu biết sâu về chứng khoán và TTCK.
Sau khi UBCKNN không thành công trong việc “xì hơi quả bóng giá
chứng khoán” bằng công cụ biên độ dao động giá (từ 2% lên 7%) có lẽ công cụ
khống chế lượng mua cổ phiếu là phương thức “làm dịu” cơn sốt cổ phiếu này.
Thông báo có hiệu lực từ ngày 22/06/2001.
1.1.3.3 Giai đoạn 3: Thời kỳ từ 11/3/2002 đến 24/10/2003 (từ 180.73
điểm xuống 130.9 điểm)
Đồ thị 1.4: Chỉ số Vn-Index giai đoạn 3
0
50
100
150
200
250
1 34 67 100 133 166 199 232 265 298 331 364 397
(Nguồn: TTGDCK Tp.HCM)
Sau một thời gian các cổ phiếu niêm yết liên tục rớt giá, thị trường tiếp
tục đi xuống và có phần trầm lắng. Trong giai đoạn này có các đặc điểm sau:
- Lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tăng (trên 8,2%/năm). Thị trường
vàng, thị trường bất động sản ngày càng trở lên hấp dẫn.
- Đấu thầu hàng trăm tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, phát hành trái phiếu
Chính phủ ra thị trường quốc tế (500 triệu USD).
- Nhà đầu tư thiếu thông tin về các tổ chức niêm yết và thị trường, “tù
mù” về biên độ dao động giá.
- Kể từ ngày 20/5/2003, TTGDCK đã thực hiện giảm lô giao dịch từ
100 cổ phiếu xuống 10 cổ phiếu, áp dụng lệnh ATO, tăng số lần khớp
lệnh lên 2 lần/phiên và giảm tỷ lệ ký quỹ xuống 70%.
Khoá luận tốt nghiệp 19
- Bộ Tài chính vừa ra quy định, nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức nước
ngoài bị đánh thuế chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt Nam bằng 5% số
thu nhập từ TTCK Việt Nam.
Giai đoạn này của TTCK Việt Nam được giới phân tích gọi là “Thị
trường ngủ gật”. Thật vậy, sau một chuỗi các can thiệp của UBCKNN nhằm kìm
hãm giá chứng khoán thì dư âm của những tác động đó vẫn còn kéo dài đến thời
pháp lý và tình hình giao dịch trên thị trường.
- Ban hành Nghị định 144/CP, sau một thời gian dài chờ đợi Thủ tướng
Chính phủ chính thức ban hành vào cuối tháng 11/2003. Nó được
xem là một bước tiến lớn nhằm tạo ra hành lang pháp lý an toàn,
thông thoáng và phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường.
- Biên độ dao động giá là 5%
- Cuối tháng 1/2004 Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển Ủy ban
chứng khoán nhà nước (SSC) về Bộ Tài chính.
- Công bố chiến lược phát triển TTCK đến năm 2010
- Tình hình giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài tăng mạnh, nhất là
sau khi có Quyết định 146 của Chính phủ cho phép nâng tỷ lệ nắm
Khoá luận tốt nghiệp 21
giữ của người nước ngoài tại một tổ chức niêm yết từ 20% lên 30%.
Đến nay, tất cả các cổ phiếu trên sàn đều có sự tham gia sở hữu của
các nhà đầu tư nước ngoài, với tỷ lệ nắm giữ cao nhất là 30% và thấp
nhất là 0,31%.
- Sự ra đời Công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tiên là Công ty quản lý
quỹ đầu tư chứng khoán VFM. Đây là liên doanh giữa Công ty
Dragon Capital (chiếm 30% vốn) và ngân hàng Sacombank (chiếm
70% vốn). Theo kế hoạch, trong đợt đầu VFM sẽ huy động tối thiểu
từ 100 tỷ lên 150 tỷ đồng để thành lập quỹ VietFund 1 (VF1). Tiền
mà các quỹ huy động được sẽ được đầu tư vào thị trường chứng
khoán tối đa 60%
- Hiệp hội kinh doanh chứng khoán (VASB) đã chính thức được thành
lập trong tháng 12/2003. Việc ra đời hiệp hội này được xem là cần
thiết trong bối cảnh lúc đó, giúp tạo thêm cầu nối cho các công ty
chứng khoán cũng như các doanh nghiệp có được tiếng nói chung, tạo
thêm sức mạnh cho hoạt động kinh doanh chứng khoán và niềm tin
cho công chúng đầu tư.
- Tổ chức tuần lễ chứng khoán, đây được xem là sự kiện có quy mô tổ
- Thị trường chứng khoán đang bị thao túng bởi bàn tay của các nhà
đầu cơ cổ phiếu. Họ là những nhà đầu tư lớn, có kinh nghiệm và khả
năng tài chính dồi dào nên dễ dàng giữ giá để mua vào.
Khoá luận tốt nghiệp 23
- Thị trường chứng khoán vẫn chưa thực sự khuyến khích các nhà đầu
tư nước ngoài. Ủy ban chứng khoán nhà nước và Bộ Tài chính chưa
muốn mở rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài.
Đến giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài đã mua hết tỷ lệ 30%
của mình. Việc nới rộng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài
không những thu hút được thêm luồng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt
Nam, mà còn tác động tích cực đến thái độ của nhà đầu tư trong nước
đến TTCK.
- Cổ phiếu các công ty cổ phần chưa tham gia niêm yết trên sàn giàu
tiềm năng hấp dẫn các nhà đầu tư như Vinamilk, Bảo Minh…
- Giá xăng dầu thế giới tiếp tục tăng cao, ngành xăng dầu trong nước
cũng đã có những điều chỉnh nhất định. Điều này tác động không nhỏ
đến chi phí sản xuất kinh doanh của các công ty hoạt động trong các
lĩnh vực liên quan đến xăng dầu.
- Hàng hoá trên thị trường còn hạn chế và kém chất lượng. Các công ty
cổ phần còn e dè trong việc quyết định niêm yết cổ phiếu trên sàn
giao dịch.
- Thông tin về hoạt động của các công ty niêm yết còn chưa minh bạch,
chưa đầy đủ. Còn nhiều công ty báo cáo chậm và bưng bít thông tin.
Các thông tin đến với nhà đầu tư chủ yếu là tin đồn, thiếu tính chính
xác.
Khoá luận tốt nghiệp 24
1.1.3.6 Giai đoạn 6: Thời kỳ từ 26/8/2005 đến 25/4/2006 (từ 249.74 điểm
lên 632.69 điểm)
Đồ thị 1.7: Chỉ số Vn-Index giai đoạn 6
tỷ trọng gần bằng nửa TTCK Việt Nam, cổ phiếu VNM có tầm ảnh
hưởng lớn gần như quyết định đến xu thế của thị trường. Thật không
quá khi nói rằng VNM đang “bơm sữa vào TTCK Việt Nam”. Từ khi
giao dịch lần đầu ngày 19/1/2006 giá cổ phiếu VNM là 53.000đ/cổ
phiếu hiện nay đã là 102.000đ/cổ phiếu. Cùng với sự tăng trưởng này,
VNM đóng vai trò như một đầu tàu kéo chỉ số giá Vn-Index đi lên.
- Trong thông báo ngày 2/2/2006, các nhà phân tích của Merrill Lynch
đã xếp cổ phiếu của Việt Nam trong nhóm “cổ phiếu nên mua trong
10 năm”. Ngay sau thông báo này của công ty Merrill Lynch về
TTCK Việt Nam, giá cổ phiếu của các công ty niêm yết đã gia tăng
nhanh chóng.
- Tài khoản chứng khoán tăng gấp đôi. Hiện toàn quốc có khoảng
52.000 tài khoản đầu tư chứng khoán đã được mở, dự kiến đến cuối
năm nay con số này có thể tăng 3 lần.