Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nhìn lại lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt,
mười mấy năm mở cửa, hội nhập, phát triển kinh tế đất nước tuy là quãng
thời gian không dài nhưng đó là cả một chặng đường lịch sử. Nó đã đánh
dấu những bước ngoặt trọng đại, những biến chuyển, đổi thay sắc nét. Mở
cửa và hội nhập, đó là phải nắm bắt và đi theo xu thế của thời đại- xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức thương mại thế
giới WTO, của khối thị trường chung Châu Âu, của các khối thị trường
chung khác. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế
với tốc độ nhanh nhưng phải đạt hiệu quả cao. Để làm được điều này buộc
các quốc gia phải có một lượng vốn tương đối lớn nhằm đảm bảo quá trình
trên được thực hiện thông suốt. Cũng chính vì những lý do trên mà cần phải
có cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư cụ thể là từ những người có
vốn nhàn rỗi không có cơ hội đầu tư hoặc không biết đầu tư vào đâu sang
những người có cơ hội sinh lời nhưng lại thiếu vốn. Thị trường chứng khoán
là một bộ phận của thị trường tài chính ra đời như một tất yếu khách quan để
cơ chế đó được thực hiện.
Xây dựng và phát triển TTCK là mục tiêu đã được Đảng và Chính
phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 - thế kỷ 20 nhằm
huy động một kênh vốn mới cho đầu tư và phát triển, tạo ra một bước phát
triển mới cho thị trường tài chính Việt Nam nói chung và nền kinh tế Việt
Nam nói riêng.
Trong thị trường chứng khoán, các công ty chứng khoán với vai trò
rất quan trọng là một định chế tài chính trung gian nhằm thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán, nơi mà nghiệp vụ chuyên môn cao,
đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò
trung gian môi giới mua- bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một
số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát hành, đã-đang và sẽ
tích cực thực hiện nhiệm vụ của mình trong thị trường chứng khoán. Nhờ có
1
áp dụng những chiến lược đầu tư hiện đại, kiến thức, công cụ phân tích
chuyên nghiệp vào việc lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán nhằm tạo ra
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lợi tức tối đa với mức rủi ro được giảm thiểu nhờ đa dạng hoá đầu tư. Do
những đòi hỏi cao về trình độ và quy mô lớn về vốn, nghiệp vụ này rất thích
hợp với các tổ chức đầu tư tài chính. Những nhà đầu tư nhỏ lẻ, vốn ít và
kinh nghiệm hạn chế, nếu muốn tận dụng hiệu quả của nghiệp vụ quản lý
danh mục đầu tư nên đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư trung gian như
quỹ đầu tư chứng khoán, danh mục đầu tư do công ty chứng khoán cung cấp
để tạo được lợi thế quy mô vốn.
Lý thuyết và thực tiễn của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đã
được đúc kết qua nhiều năm phát triển của thị trường chứng khoán tại nhiều
nước. Việc nghiên cứu khai thác những kiến thức này nhằm áp dụng có
chọn lọc vào thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam sẽ bước đầu giúp
ích cho việc đẩy mạnh phát triển loại nghiệp vụ này, góp phần vào sự phát
triển một thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và hiệu quả. Đó chính
là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài “Áp dụng các công cụ toán tài chính
vào việc quản lý danh mục đầu tư và ứng dụng trong thị trường chứng
khoán Việt Nam”.
Trong quá trình học tập tại trường kết hợp với thời gian thực tập tại
Công ty Cổ phần Chứng Khoán Bảo Việt, được sự giúp đỡ hết sức tận tình
của các thầy cô và của công ty nói chung, Phòng Nghiệp vụ 2 nói riêng, em
đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc công ty cùng tập thể cán
bộ, nhân viên toàn công ty và đặc biệt cảm ơn các cán bộ, chuyên viên
Phòng Nghiệp vụ 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực
tập, để em có thể tìm hiểu về các nghiệp vụ của công ty, được tiếp cận với
thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Em cũng xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Quang Dong -
Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng
khoán (TTCK) được hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các giao dịch
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mua bán, trao đổi các chứng khoán - các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa
các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những
quy tắc ấn định trước.
Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng
khoán, tuy nhiên quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển
chung của TTCK hiện nay, đó là:
“Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao
đổi các loại chứng khoán”.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ,
nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức
phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa
các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Các giao dịch
mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary
Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock
Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over - The Counter
Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn
(Future Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu
của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của
tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá
thông thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng
hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và
giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là
thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó,
giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của
vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền
phát hành) đối với một chủ thể khác (người cho vay - người sở hữu trái
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phiếu). Trái phiếu quy định trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi của tổ chức phát
hành cho người sở hữu trái phiếu khi đến thời điểm đáo hạn.
Trái phiếu công ty là loại trái khoán dài hạn, do các công ty phát hành
với lãi suất khá cao, giúp công ty huy động khối lượng vốn lớn trong một
thời gian ngắn. Ngoài ra, trái phiếu công ty còn có khả năng chuyển đổi và
một số loại có thể chuyển thành cổ phiếu. Do vậy, trái phiếu công ty là một
công cụ được lưu hành rộng rãi trên thị trường vốn.
- Các loại chứng khoán chính phủ: Là các công cụ vay nợ do Chính
phủ phát hành như: Trái phiếu Chính phủ; Tín phiếu kho bạc; Công trái
quốc gia... Đặc điểm chung là rủi ro phá sản của các loại trái khoán này là
rất nhỏ, coi như là không có rủi ro.
- Các loại chứng khoán phái sinh (derivatives): quyền chọn mua và
quyền chọn bán (call – put option), hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,…
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều
kiện kinh tế - chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên
thế giới, Việt Nam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán với
những đặc thù riêng biệt. Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu
bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)
tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000, và thực hiện phiên giao dịch
đầu tiên vào ngày 28/07/2000 (tên viết tắt của TTGDCK TpHCM là
HoSTC). Năm năm sau đó, thị trường giao dịch Bảng II – Sàn giao dịch
chứng khoán (SGDCK) Hà Nội (HaSTC) ra đời, đánh dấu bước ngoặt cho
sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn đầu
phát triển, quy mô và chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế và cũng do các đặc
thù riêng nên sự can thiệp của Chính Phủ vào thị trường còn lớn. Quy mô thị
- Cổ phiếu là loại tài sản có tác dụng giảm biến động lợi tức của danh
mục cao nhất bởi độ biến động của tài sản này không trùng khớp về chu kỳ
hay thời gian với các loại tài sản khác.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cổ phiếu là loại tài sản được đầu tư phổ biến nhất cho các nhà đầu
tư tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên do biến động cao về thu nhập và giá, nên
rủi ro của đầu tư cổ phiếu cũng cao.
- Lợi ích của đầu tư cổ phiếu thông thường bao gồm: thanh khoản
cao, tăng trưởng dài hạn, lợi ích về thuế. Rủi ro bao gồm: biến động giá,
không ổn định về thu nhập cổ tức, rủi ro phá sản, và rủi ro kinh tế khác, các
rủi ro ngoại hối và thanh toán khác nếu cổ phiếu là bằng ngoại tệ và nước
ngoài.
Trái phiếu
Trái phiếu là chứng khoán nợ, là chứng từ ghi nhận người nắm giữ có
được quyền đòi quyền lợi của chủ nợ khi đến hạn.
- Trái phiếu là loại tài sản quan trọng thứ 2 sau cổ phiếu đối với
nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái
phiếu công trình, trái phiếu công ty, trái phiếu bảo đảm và không bảo đảm,
các trái phiếu cơ cấu, trái phiếu bất động sản v.v...
- Đầu tư trái phiếu trong danh mục đầu tư chủ yếu là rủi ro thấp,
người đầu tư nâng cao tính đa dạng tài sản để giảm rủi ro, lợi tức cao hơn là
các đầu tư tiền tệ ngắn hạn. Rủi ro gắn liền với các chứng khoán nợ này là
rủi ro lãi suất, kỳ hạn và độ cong (convexity), rủi ro ngoại hối, rủi ro tín
dụng/phá sản.
Các loại chứng khoán khác
- Trái phiếu chuyển đổi là một loại chứng khoán nợ có đặc tính cổ
phần, do đó là một tài sản hấp dẫn về tính linh hoạt trong đầu tư, có rủi ro
phức tạp và cơ hội kiếm lời cũng cao, phù hợp với những nhà đầu tư chuyên
nghiệp, hiểu rõ về bản chất của loại chứng khoán này.
không vượt quá mức chấp nhận đã định trước.
Công ty (người) quản lý danh mục đầu tư (portfolio manager): là công
ty chuyên nghiệp chịu trách nhiệm đối với danh mục đầu tư chứng khoán
của các cá nhân hoặc tổ chức đầu tư. Công ty được hưởng phí quản lý danh
mục đầu tư và có quyền tự quyết định việc lập danh mục đầu tư cho khách
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng trong khuôn khổ và hạn chế thoả thuận với khách hàng. Rủi ro, lợi
nhuận cũng như thua lỗ của danh mục đầu tư đều do khách hàng được
hưởng hoặc gánh chịu trong phạm vi đã thoả thuận với công ty quản lý danh
mục đầu tư.
Bản chất của quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là định lượng mối
quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng thu được từ danh mục đó.
Tóm lại, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là: “Quá
trình quản lý tài sản của một định chế hoặc của một cá nhân đầu tư bao gồm
từ việc định giá, phân tích chứng khoán, lựa chọn đầu tư, theo dõi các kết
quả đầu tư và phân bổ vốn đầu tư, và đánh giá kết quả đầu tư”.
Việc phân bổ tài sản là việc lựa chọn một tỷ lệ đầu tư trong danh mục
phân bổ cho các loại tài sản chính nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn cao
nhất với một mức rủi ro thấp nhất có thể. Tuy nhiên trong quá trình đầu tư,
người quản lý có thể thay đổi các tỷ lệ đã định này nhằm tận dụng cơ hội
xuất hiện tại thời điểm đó nhằm đạt được mức lợi tức cao hơn nữa. Ví dụ,
nếu người quản lý nhận định rằng triển vọng đối với cổ phiếu là khả quan
hơn đối với trái phiếu trong thời gian tới, người quản lý có thể tăng đầu tư
cổ phiếu và giảm đầu tư trái phiếu trong danh mục của mình. Đồng thời,
trong cùng một loại tài sản, người quản lý có thể lựa chọn các chứng khoán
có lợi tức mong đợi lớn hơn mức trung bình của loại tài sản đó.
2.2. Vai trò của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đối với nhà đầu tư
Nếu thị trường là hiệu quả thì câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà đầu tư
trong thực tế phải tốn công sức trong việc chọn lựa cổ phiếu cho danh mục
tích thị trường và chứng khoán, qua đó chúng ta đánh giá hai mặt rủi ro và
lợi nhuận ước tính (hay còn gọi là lợi nhuận kỳ vọng hoặc mong đợi) của tất
cả các chứng khoán có thể đầu tư. Nhiệm vụ thứ hai là việc lựa chọn thiết
lập một danh mục đầu tư tối ưu bao gồm nhiều loại chứng khoán khác nhau
(đa dạng hóa đầu tư). Trong các phần sau, tôi sẽ tập trung vào nhiệm vụ thứ
hai, đó là: lựa chọn từ các cơ hội đầu tư khả thi những cơ hội đầu tư có cặp
quan hệ “rủi ro-lợi nhuận kỳ vọng” là tốt nhất và phù hợp với mục tiêu đặt
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ra. Tóm lại, đó chính là việc giải quyết bài toán rủi ro-lợi nhuận kỳ vọng của
danh mục đầu tư.
1.1. Lý thuyết thị trường hiệu quả
Một trong những ứng dụng đầu tiên của máy vi tính trong kinh tế học
là dùng để phân tích các chuỗi số liệu qua thời gian. Các nhà kinh tế theo
học thuyết chu kỳ kinh tế nhận thấy việc quan sát các biến số kinh tế có thể
lý giải và qua đó dự đoán sự phát triển kinh tế qua các giai đoạn thăng trầm.
Thông thường, giá chứng khoán cũng được coi là một đối tượng nghiên cứu.
Giả thiết chứng khoán phản ánh các triển vọng của công ty, thì những biến
động có chu kỳ của nền kinh tế sẽ có thể được thể hiện trong các biến động
của giá cả chứng khoán đó. Nhận định này đã được Maurice Kendall kiểm
tra trong năm 1953. Ông ta đã phát hiện một điều ngạc nhiên là không thể
dự đoán được biến động giá chứng khoán. Giá cả thay đổi ngẫu nhiên, giá cả
có thể lên xuống bất kỳ trong bất kỳ ngày giao dịch nào. Sau nhiều tranh cãi
về sự diễn giải kết quả nghiên cứu này trên thị trường chứng khoán, người ta
thấy rằng sự biến động ngẫu nhiên của giá chứng khoán chính là bằng chứng
của một thị trường hoạt động tốt, hiệu quả, chứ không phải là hiện tượng bất
thường của chứng khoán.
Giá chứng khoán biến động dựa vào các thông tin mới (không dự
đoán được) cũng biến động theo chiều hướng không dự đoán được.Đây
chính là cốt lõi của lập luận rằng giá chứng khoán là một chuỗi ngẫu nhiên
trọng có đủ thời gian để kiếm lời từ việc mua bán theo thông tin đó. Những
người nội bộ công ty, họ hàng, người thân hay bạn bè của họ nếu giao dịch
dựa trên các thông tin nội bộ đều bị coi là vi phạm pháp luật.
Cần lưu ý, một nguyên tắc cơ bản trong lựa chọn danh mục đầu tư là
đa dạng hoá. Thậm chí cứ cho rằng giá chứng khoán là đúng với giá trị, mỗi
một chứng khoán vẫn còn chứa đựng những rủi ro riêng có của mỗi công ty,
những rủi ro này có thể được triệt tiêu thông qua việc đa dạng hoá. Do đó,
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một danh mục đầu tư được lựa chọn tốt sẽ phải là một danh mục đầu tư
được đa dạng hoá để hạn chế hoàn toàn các rủi ro cá thể, chỉ còn lại rủi ro
thị trường mà nhà đầu tư mong đợi.
1.2. Rủi ro của người đầu tư, rủi ro danh mục đầu tư và phân tán
rủi ro nhờ đa dạng hoá
Một giả định cơ bản nhất của lý thuyết danh mục đầu tư là những
người đầu tư đều mong muốn đạt được mức lợi suất đầu tư tối đa ứng với
mỗi mức rủi ro của danh mục. Lý thuyết này cũng giả định rằng về cơ bản
các nhà đầu tư không muốn gặp rủi ro, có nghĩa rằng nếu phải lựa chọn giữa
hai loại tài sản cùng đem lại một mức lợi suất đầu tư như nhau thì họ sẽ
chọn loại tài sản có rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là
tất cả những người đầu tư đều có mức ngại rủi ro như nhau mà còn tùy thuộc
vào độ chấp nhận rủi ro của mỗi người trong mối tương quan với lợi suất
đầu tư mà họ có thể nhận được. Từ đó, thuyết tài chính đưa ra một quan
điểm được chấp nhận chung là bất cứ một nhà đầu tư hợp lý nào cũng đều
có một mức ngại rủi ro nhất định khi đầu tư.
Thông thường, một người bình thường chỉ chấp nhận đầu tư những tài
sản có rủi ro khi mức đền bù rủi ro là dương. Một nhà đầu tư ngại rủi ro là
người luôn phải đặt ra cho mình một mức lợi suất hợp lý đối với một tài sản
rủi ro với điều kiện tỷ lệ lợi nhuận này có thể bù đắp đủ cho những rủi ro mà
người đó phải đối mặt. Nếu nhà đầu tư đánh giá rủi ro trong đầu tư đó càng
danh mục đầu tư không có rủi ro, nghĩa là khi yếu tố phương sai bằng
không, thì giá trị hữu dụng của nó sẽ bằng với tỷ suất lợi nhuận ước tính:
σ
2
= 0 → U = E(r) [danh mục đầu tư không có rủi ro]
Công thức này đưa ra một tiêu chuẩn cho việc đánh giá các
danh mục đầu tư.
Để phân tích hành vi ra quyết định đầu tư, theo cách tiếp cận về giá trị
hữu dụng trên, có thể so sánh những giá trị hữu dụng với tỷ suất lợi nhuận
trong trường hợp đầu tư không có rủi ro khi tiến hành chọn lựa giữa một
danh mục đầu tư có rủi ro và một danh mục đầu tư an toàn. Giá trị hữu dụng
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của một danh mục đầu tư còn được gọi theo cách thức của thống kê học là
tỷ lệ “ tương đương chắc chắn” (ký hiệu là CE) của danh mục đầu tư :
CE = U= E(r) - 0.5A. σ
2
.
Tỷ lệ “tương đương chắc chắn” của một danh mục đầu tư là mức tỷ
suất lợi nhuận đạt được chắc chắn của một danh mục đầu tư không rủi ro
được nhà đầu tư chấp nhận và được xem như là có mức độ hấp dẫn tương
đương để so sánh với danh mục đầu tư có rủi ro.
Nói cách khác, một danh mục đầu tư có rủi ro được xem là hấp dẫn
nếu mức lợi suất tương đương chắc chắn (CE) của nó vượt quá mức lợi suất
của một danh mục đầu tư không rủi ro được sử dụng làm chuẩn để so sánh
(thông thường, người ta dùng lãi suất tín phiếu kho bạc của Chính phủ như
là danh mục đầu tư không rủi ro để so sánh).
Trên thực tế là trong thế giới đầu tư không chỉ gồm những nhà đầu tư
ngại rủi ro, dù họ là đa số phổ biến và đại diện cho những người có tâm lý
suy lý bình thường trong xã hội. Về lý thuyết, để phân tích cho đầy đủ các
đối với những người đầu tư thích rủi ro, danh mục đầu tư không rủi ro sẽ có
khả năng bị họ bác bỏ. Tuy nhiên, thuyết tài chính cho rằng người đầu tư
phần lớn là những người đầu tư thông thường nên đều ngại rủi ro và do
vậy mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận được xây dựng trên cơ cở tâm lý
của số đông này.
1.2.2. Lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư
a, Lợi suất danh mục: Lợi suất đầu tư ước tính của một danh mục
đầu tư là bình quân gia quyền (theo tỷ trọng vốn đầu tư vào từng loại tài sản,
ký hiệu W) của lợi suất thu được từ mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư
đó. Điều này đồng nghĩa với lợi suất ước tính của một danh mục đầu tư là
trung bình trọng số của các lợi suất ước tính thu được từ mỗi loại chứng
khoán trong danh mục đầu tư đó.
E (r
p
) = W
1
E(r
1
) + W
2
E(r
2
) + ........+W
n
E(r
n
) =
∑
=
n
vốn khác nhau tạo thành một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên
toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn nhỏ lại.
Trong thực tế đã có rất nhiều trường hợp khi thêm một tài sản có tính
rủi ro vào danh mục đầu tư lại sẽ làm giảm được rủi ro của toàn danh mục
đầu tư.
Về lý thuyết người ta đã chứng minh rằng: Các chứng khoán có xu
hướng rủi ro trái ngược với xu hướng rủi ro ban đầu là những yếu tố làm
giảm thiểu rủi ro có hiệu quả.
Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định thước đo rủi ro của từng
chứng khoán khi đưa chúng vào danh mục đầu tư và cũng là điểm mấu chốt
để xây dựng lý thuyết mô hình CAPM.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mỗi một chứng khoán đều tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và
rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là yếu tố do thị trường gây ra làm ảnh
hưởng đến tất cả các chứng khoán có trên thị trường. Do vậy, rủi ro hệ thống
là yếu tố khó có thể tránh được một khi nó đã xảy ra. Ngược lại, rủi ro phi
hệ thống xuất phát từ chính công ty phát hành chứng khoán đó, do vậy có
thể lường tránh được bằng biện pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư. Khi một
chứng khoán được đưa vào một danh mục đầu tư thì rủi ro của nó sẽ tương
tác với các chứng khoán khác trong danh mục để tạo nên rủi ro của cả danh
mục. Mức độ rủi ro của toàn danh mục cao hay thấp sẽ tuỳ thuộc vào sự
tương tác này.
Nếu trong danh mục càng có nhiều chứng khoán thì sự tương tác bù
trừ càng lớn và càng có nhiều khả năng giảm thiểu rủi ro. Hình vẽ sau đây
thể hiện quan hệ tương tác bù trừ này.
Đồ thị trên thể hiện quan hệ giữa số lượng chứng khoán trong danh
mục với mức độ rủi ro của danh mục đó. Rủi ro tổng thể của danh mục bằng
tổng của rủi ro hệ thống và phi hệ thống. Khi trong danh mục bổ sung thêm
chứng khoán (n càng lớn) thì các chứng khoán càng có nhiều cơ hội tương
khái niệm chỉ một tập hợp các tài sản tài chính của nhà đầu tư. Mối quan hệ
của portfolio và các chứng khoán đơn lẻ là hiệu quả của từng chứng khoán
sẽ phản ánh vào hiệu quả hoạt động nói chung của portfolio đang xét. Tuy
nhiên, đối với nhà đầu tư chứng khoán, lợi suất tổng thể của cả portfolio mới
là quan trọng bậc nhất.
2.1. Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz
Ý tưởng đa dạng hoá rủi ro là một ý tưởng đã tồn tại từ rất lâu. Tuy
nhiên phải đến năm 1952, Harry Markowitz mới đưa ra một mô hình chính
thức trong việc lựa chọn danh mục đầu tư, trong đó phản ánh nguyên tắc về
đa dạng hoá rủi ro, từ đó mở đường để ông nhận giả Nobel về kinh tế vào
năm 1990. Mô hình của ông chính là bước đầu tiên của quản lý danh mục
đầu tư: xác định một hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp các
danh mục này sẽ có một đường cong biên hiệu quả các danh mục chứng
khoán rủi ro, thường gọi là đường cong biên hiệu quả.
Danh mục P có N tài sản với tỷ trọng:
),...,,(
21 N
wwww =
Vectơ lợi suất các tài sản:
),...,,(
21 N
rrrR =
Lợi suất danh mục:
),(.
'
1
WRrwR
N
k
kkP
phương sai, hệ số đồng phương sai, chúng ta có thể tính toán được một danh
mục đầu tư có rủi ro tối thiểu cho mỗi một mức lợi tức dự tính. Phép tính
này có thể được thực hiện dễ dàng sử dụng các hàm Solver của chương trình
Excel.
Bảng 1. Đường cong biên rủi ro tối thiểu:
Int'l Conditioned Unhedged EF
0%
1%
2%
3%
4%
5%
6%
7%
8%
0% 2% 4% 6% 8% 10%
Standard Deviation
Expected Return
Short-Sales
No Short Sales
Equally w eighted
portfolio
Để định lượng mức độ biến thiên của các chứng khoán trong danh
mục đầu tư được đa dạng hóa, ta dùng công thức tính hệ số tương quan
(correlation coefficient, ký hiệu là ρ):
22
Short sales:
Bán khống
Equally-
2
) = +1 : mối tương quan dương tuyệt đối.
Công thức cho cả danh mục đầu tư:
N
P
P
σσσ
σ
ρ
...
21
2
=
Hệ số tương quan của cả danh mục P dương thể hiện lợi nhuận của
các chứng khoán có trong danh mục có quan hệ cùng chiều nhau, và hệ số
tương quan dương càng lớn thì các chứng khoán đó càng có dao động giống
nhau. ρ
P
= +1 nghĩa là các chứng khoán trong danh mục hoàn toàn có dao
động giống nhau.
Hệ số tương quan ρ
P
âm chỉ sự dao dộng ngược chiều của các chứng
khoán trong danh mục. ρ
P
càng lớn nghĩa là các chứng khoán trong danh
mục có dao động ngược chiều nhau càng nhiều. Khi nó đạt giá trị -1, các
chứng khoán trong danh mục quan hệ hoàn toàn ngược chiều nhau.
Khi ρ
P
N
i
i
i
i
x
x
w
1
( )
Ni ,1=
=> danh mục cần tìm:
( )
**
2
*
1
*
,...,,
N
wwwP =
Bảng 2. Danh mục MVP:
MVP
Đoạn cong từ S đến MVP chỉ ra rằng nếu ta càng thêm tỷ trọng của
tài sản rủi ro vào danh mục thì lợi suất ước tính của danh mục sẽ tăng thêm
trong khi độ lệch chuẩn giảm đi. Điều này được giải thích bởi hiệu quả của
đa dạng hóa đầu tư. Lợi nhuận của hai tài sản có mối quan hệ ngược chiều
nhau nên khi thêm một tỷ lệ nhỏ tài sản rủi ro vào danh mục là tạo ra rào
chắn rủi ro cho danh mục. Đoạn cong từ chứng khoán S đến MVP luôn luôn
xuất hiện trong trường hợp hệ số tương quan <0. Trong trường hợp hệ số
Chú ý rằng tất cả các chứng khoán riêng lẻ đều nằm ở phía bên phải
đường cong biên. Điều này có nghĩa là các danh mục đầu tư chỉ có một
chứng khoán riêng lẻ đều không hiệu quả. Việc đa dạng hoá đầu tư sẽ tạo
được các danh mục có lợi tức cao hơn và rủi ro thấp hơn.
Tất cả các danh mục nằm ở phần trên của đường cong biên (kể từ
đỉnh của đường cong) là các danh mục được kết hợp rủi ro - lợi tức tốt nhất
và là những ứng cử viên của Danh mục đầu tư tối ưu. Phần đường cong biên
này được gọi là đường cong biên hiệu quả. Với bất kỳ danh mục nằm trên
phần dưới của đường cong biên, sẽ có danh mục khác có cùng mức rủi ro
mà lại có lợi tức lớn hơn nhiều. Do vậy phần dưới của đường cong biên
không có hiệu quả, sẽ bị bỏ qua khi nghiên cứu.
Lựa chọn giữa các danh mục đầu tư khả thi thì các danh mục đầu tư
tốt nhất luôn nằm trên đường cong biên hiệu quả. Phương pháp lựa chọn
trên do Markowitz khởi xướng, do vậy được gọi là mô hình lựa chọn
25