Tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 32

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI:
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GVHD: Nguyễn Hoàng Dũng
Nhóm thực hiện: 1Ko2
Lớp: 210810703
Thành phố Hồ Chí Minh – 3/2010
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1Ko2
1. Nguyễn Công Bính (MSSV: 08103231)
2. Bùi Đinh Quang Huy (MSSV: 08112181)
3. Trịnh Thị Hương (MSSV: 08110871)
4. Phạm Thị Phương (MSSV: 08108841)
5. Lâm Thị Thu Trang (MSSV: 08113711)

PHẦN MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh huy động vốn trung và dài hạn
rất có hiệu quả của nền kinh tế. Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường, với rất nhiều nỗ lực rút ngắn khoảng cách trên con đường hội nhập, vì vậy
sự ra đời và phát triển của TTCK ở nước ta là hết sức cần thiết và là yếu tố quan
trọng cho sự phát triển của nước nhà góp phần tạo ra cơ chế huy động vốn linh
hoạt giữa những người sử dụng vốn với những người có tiền nhàn rỗi, cung cấp
giá cả cho giao dịch, tạo ra tính thanh khoản cao cho chứng khoán, giúp điều tiết
và bình ổn thị trường.
Mọi hoạt động mua bán chứng khoán trên TTCK tập trung đều phải thông
qua một tổ chức trung gian, đó là các công ty chứng khoán (CTCK). Sự lớn lên

1.2.1.2 Chức năng
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho khách
hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
- Nối liền những người bán và những người mua: đem đến cho khách hàng tất
cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
- Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành người
bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời.
- Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (điển hình là sợ hãi và tham lam), để
giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo.
- Đề xuất thời điểm bán hàng.
- 5 -
Chức năng tự doanh chứng khoán
Khái niệm
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán
cho chính mình.
Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đích của hoạt động tự doanh của các CTCK nhằm thu lợi nhuận cho
chính mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường,
pháp luật các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải
đáp ứng yêu cầu về vốn và con người.
Những yêu cầu đối với CTCK trong hoạt động tự doanh
 Tách biệt quản lý
- Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi
giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động.
- Các CTCK phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ tự
doanh. Các nhân viên này phải hoàn toàn tách biệt với bộ phận môi giới.
- Bên cạnh đó, các CTCK còn phải đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách
hàng với các tài sản của chính công ty.
 Ưu tiên khách hàng
- CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp

- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức
bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối
được hết chứng khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết
chắc chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng
khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng
(POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch
giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng
được gọi là hoa hồng chiết khấu.
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp
dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các
nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các
cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ
đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ
- 7 -
đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ
chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và
chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo
lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số
chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra
công chúng. Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và
chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương
thức bảo lãnh thông dụng nhất.
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức
bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không
cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng
khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát
hành phần còn lại.
- Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này,
tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất
định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.

trong hoạt động này, khách hàng ủy thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu
tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận.
- 9 -
Chương 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
Hoạt động môi giới
Mạng lưới, quy mô hoạt động của CTCK ngày càng được mở rộng, với 80
chi nhánh, 42 phòng giao dịch đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố
lớn như Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng. Cùng với
sự phát triển mạng lưới hoạt động, số lượng tài khoản giao dịch tại các CTCK
cũng tăng mạnh. Năm 2009 số tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK đạt
800.000 tài khoản. Tăng 1,5 lần so với năm 2008. Cùng với sự gia tăng khối lượng
giao dịch, các CTCK đã thực hiện trên 5.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát
hành. Tính đến cuối năm 2009 đã có gần 80 CTCK hoạt động có lãi trong năm
2009. Quy mô vốn hoạt động của các CTCK ngày càng được nâng cao. Tính đến
cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các CTCK là 24.855 tỷ đồng, tăng 9,4% so
với năm 2008. Ta có 10 công ty chứng khoán lớn nhất đã chiếm tới gần 50% thị
phần môi giới cổ phiếu trong nước; trong đó dẫn đầu là SSI với 8,53%, thứ hai là
VCBS với 6,11%. Đối với mảng môi giới cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài, 10
công ty lớn nhất nắm trên 87% thị phần; trong đó SSI đứng đầu với 36,91% thị
phần, gấp đôi thị phần của thành viên đứng thứ hai là BVSC với 18,64% thị phần.
Trong mảng môi giới chứng chỉ quỹ, SSI tiếp tục đứng đầu khi nắm 10,42% thị
phần môi giới trong nước và 48,03% thị phần môi giới nước ngoài. Mảng môi giới
trái phiếu, VCBS đứng đầu khi nắm 27,92% thị phần môi giới trong nước và
65,78% thị phần môi giới nước ngoài…
Top 10 công ty chứng khoán môi giới cổ phiếu lớn nhất trên HNX qúy III/2009:
STT Tên CTCK Thị phần môi giới cổ phiếu (%)
1 Thăng Long 8,13%
2 Sacombank 4,76%
3 FPT 4,41%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status