Tình hình thực tế của Thị trường chứng khoán và các cổ phiếu cụ thể trước và
sau lạm phát
2.1 Tình hình Thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Chỉ số chứng khoán trước lạm phát
Sau khi ra nhập WTO, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những
bước chuyển biến đáng kể. Thị trường chứng khoán VN bắt đầu có những sự
khởi sắc nhất định. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua số lượng các quỹ
đầu tư nước ngoài đăng ký tham gia hoạt động tại thị trường tài chính VN tăng
nhanh. Mức cầu chứng khoán gia tăng đã giúp chỉ số VN Index liên tục tăng
trong 4-5 tháng đầu năm 2006, và đạt mức kỷ lục là 632,69 điểm (ngày
25/4/2006). Sau giai đoạn đó, Thị trường chứng khoán tiếp tục khởi sắc với
những phiên tăng điểm kéo dài và ổn định. Trong giai đoạn đó, những cơn sốt
cổ phiếu đang diễn ra. Giới đầu tư bắt đầu săn lùng những cổ phiếu lần đầu
IPO. Điều này đã đẩy giá chứng khoán tăng mạnh. Những công ty lớn lần đầu
niêm yết được giới đầu tư quan tâm như ACB, FPT … liên tiếp tạo lập kỷ lục về
giá niêm yết.
Tiếp nối thành công của năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp
tục có những bước chuyển mình trong năm 2007. Với những phát triển vượt bậc
về quy mô, chất lượng, thị trường chứng khoán đã và đang chứng minh vị thế và
tầm ảnh hướng đáng phải có của nó với đời sống kinh tế đất nước. Nền kinh tế
bước vào năm 2007 tràn đầy tín hiệu lạc quan. Việc tổ chức thành công hội nghị
cấp cao APEC, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cùng với tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm tạo cơ sở cho niềm tin về tương
lai phát triển của kinh tế đất nước.
Niềm tin được thể hiện mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán. Giới đầu
tư nước ngoài liên tục huy động vốn và chuyển tiền vào Việt Nam chuẩn bị cho
những kế hoạch giải ngân dài hơi với quy mô lớn. Nhà đầu tư và các công ty
trong nước cũng tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực tài chính chứng khoán –
chính xác, tài chính và chứng khoán trở thành một dạng “mốt”.
Thị trường chứng khoán chính thức có một bước nhảy vọt cả về số lượng
các công ty niêm yết, chất lượng hàng hóa và quy mô giao dịch. Làn sóng các
với nhà đầu tư. Chỉ có mất mát từ thị trường mới có thể tác động được vào
những quan niệm như: Thị trường chứng khoán là cỗ máy in tiền, cứ mua là lãi,
đầu tư là công việc nhàn hạ, dễ dàng, thậm chí nhiều người còn coi Thị trường
chứng khoán như sòng bạc. Từ mức đỉnh 1170,67 điểm thị trường rơi xuống
mức đáy 905,53 ngày 24/4.
Khi mà nhiều người, thậm chí là các chuyên gia đã nghĩ đến sự sụp đổ,
bong bong vỡ hay hiệu ứng domino thì thị trường chứng minh điều ngược lại.
Thị trường và những người tham gia vào nó đã trưởng thành. Đợt giảm giá chỉ
là điều chỉnh mà không có đổ vỡ. Khi giá nhiều mã cổ phiếu giảm khoảng 30%
cũng là cơ hội đầu tư quay trở lại. Được tiếp thêm sức mạnh sau kì nghỉ lễ 30/4
và 1/5, thị trường bắt đầu tăng giá trong tháng năm. Thị trường giai đoạn này
tăng trở lại khá nhanh nhưng không lập lại được mức đỉnh cũ, chỉ đạt 1113,19
điểm ngày 23/5.
Bị ảnh hưởng bởi đợt đấu giá Bảo Việt, thị trường lại một lần nữa đi
xuống. Tuy nhiên, trong xu thế giảm giá kéo dài của toàn thị trường lại xuất
hiện những con cá hồi bơi ngược dòng. Tiêu điểm thời gian này là giao dịch của
cá cổ phiếu “hiếm” như BMC, TCT, SGH,LBM. Các cổ phiếu này có đặc điểm
chung là số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường ít, phần nào được kiểm soát.
Khi có các thông tin tốt về kết quả sản xuất hay những lợi thế về tài nguyên, đất
đai, giá lập tức được đẩy lên. Số lượng đặt mua có thể đạt đến triệu đơn vị,
trong khi đó số lượng bán ra chỉ nhỏ giọt từng chút một như một động tác để
đẩy giá lên kịch trần. Sau gần 3 tháng đến ngày 23/8 VN Index lại rơi xuống
887,62 điểm.
Thị trường tiếp tục cho thấy sức đẩy ở mức 900 điểm. Như được hồi sức
sau ngày nghỉ lễ 2/9, VN-Index quay lại con đường chinh phục đỉnh cao. Tuy
nhiên, dẫn đạo xu hướng không còn là bluechip mà là các cổ phiếu nhỏ, các cổ
phiếu sàn hà Nội và các cổ phiếu mới niêm yết. VN Index quay trở lại 1106,6
điểm ngày 3/10.
Việc giá cổ phiếu các công ty mới niêm yết tăng mạnh như động lực đưa
các công ty đã có dự định niêm yết nhanh chóng lên sàn. Nhưng khi thời gian
Trong khi đó, có dự báo của một tổ chức uy tín nước ngoài lại chưa được
phổ biến rộng rãi. Đó là dự báo khá lạc quan của bộ phận nghiên cứu Ngân
hàng Stanard Chartered. Ngân hàng toàn cầu này đưa ra dự báo lạm phát của
Việt Nam có thể lên tới 20% trong quý 2/2008, nhưng ngay sau đó sẽ giảm
nhanh và kết thúc năm ở dự báo 14%. Xa hơn, Stanard Chartered lạc quan khi
dự tính tỷ lệ trên chỉ còn 7,5% trong quý 1 và quý 2/2009 (thấp hơn nhiều so với
năm nay). Nhìn lại hai dự báo trên, có một điểm chung là lạm phát vẫn diễn
biến phức tạp và có thể tăng mạnh trong quý 2 tới. Đây là một bất lợi đối với
khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán.
Còn trên thực tế, thị trường này vừa khép lại một tuần giảm mạnh cả về
điểm số, giá chứng khoán và khối lượng giao dịch. Tại sàn Tp.HCM, chỉ còn 3,5
triệu đơn vị, bằng phân nửa khối lượng những phiên gần đây và có giá trị 148 tỷ
đồng.
Chỉ số VN-Index qua phiên này chính thức về mốc 500 điểm, giảm 7,61
điểm, còn 500,33 điểm. HASTC-Index chỉ còn 154,23 điểm, giảm 3,19 điểm.
Đúng như dự đoán. Thị trường chứng khoán đã xuống mức “đáy” 366 điểm vào
ngày 20/6. nếu xét diễn biến thị trường thời gian qua theo các con số thống kê
thì VN - Index đang có xu hướng tăng, tuy có xen kẽ với những phiên giảm. Cụ
thể, tính từ 20/6 đến nay, chu kỳ diễn biến của VN - Index đã qua các đoạn như
sau:
Đoạn một, tăng từ 366 lên 489 điểm, từ ngày 20/6 đến ngày 17/7, tăng
123 điểm trong 19 phiên, bình quân 1 phiên tăng 6,47 điểm.
Đoạn hai, giảm từ 489 điểm xuống 429 điểm từ ngày 17/7 đến ngày 25/7,
giảm 60 điểm trong 6 phiên, bình quân 1 phiên giảm 10 điểm.
Đoạn ba, tăng từ 429 điểm lên 451 điểm từ ngày 25/7 đến ngày 31/7, tăng
22 điểm trong 4 phiên, bình quân 1 phiên tăng 5,5 điểm.
Đoạn 4, giảm từ 451 điểm xuống 430 điểm từ ngày 31/7 đến ngày 5/8,
giảm 21 điểm trong 3 phiên, bình quân 1 phiên giảm 7 điểm.
Đoạn 5, tăng từ 430 điểm lên 562 điểm từ ngày 5/8 đến ngày 27/8, tăng
132 điểm trong 16 phiên, bình quân 1 phiên tăng 8,25 điểm.
2000. Tại thời điểm niêm yết, vốn điều lệ của Công ty là 150 tỷ đồng. Vốn điều
lệ hiện tại là 287.142.140.000 đồng.
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, lắp ráp, thiết kế, lắp đặt, sửa chữa và các dịch vụ về ngành
điện, điện tử, cơ khí và điện lạnh.
- Kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu các loại hàng tư liệu sản xuất,
tư liệu tiêu dùng, các thiết bị lẻ, thiết bị hoàn chỉnh của ngành cơ điện lạnh.
- Mua bán và dịch vụ bảo trì máy móc cơ giới nông nghiệp gồm: xe máy
thiết bị làm đường, thiết bị đào, san lấp, thiết bị xây dựng, thiết bị công nông
lâm nghiệp, máy phát điện và động cơ điện.
- Đại lý ký gởi hàng hóa.
- Xây dựng dân dụng và công nghiệp
- Kinh doanh nhà ở (xây dựng, sửa chữa nhà để bán hoặc cho thuê).
- Phát triển và khai thác bất động sản.
- Hoạt động đầu tư tài chính vào các ngân hàng, công ty cổ phần.
- Dịch vụ cơ điện cho các công trình công nghiệp, thương mại và dân
dụng. Sản xuất máy điều hoà không khí Reetech, sản phẩm gia dụng, tủ điện và
các sản phẩm cơ khí công nghiệp.
REE là một trong hai cổ phiếu đầu tiên của Việt Nam được niêm yết và
giao dịch trên thị trường chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại số
lượng cổ phiếu đang lưu hành là 80,415,924, trong đó số nhà đầu tư nước ngoài
đang sở hữu là 26,771,313 (33.29%). Là một cổ phiếu đầu tiên được niêm yết
trên thị trường nên cổ phiếu của REE có những lợi thế nhất định so với các loại
cổ phiếu cùng ngành ngề hoạt động.
b) Tình hình giá cổ phiếu của REE trước khi lạm phát:
Là công ty chuyên sản xuất và tiêu tụ các sản phẩm về thiết bị điện nên
nhìn chung tình hình và khả năng tăng trưởng của công ty khá ổn định và vững
chắc. Trong năm 2006 và đầu năm 2007 là khoảng thời gian mà giá cổ phiếu
của REE lên tới mức đỉnh điểm và có mức ổn định nhất. Khoảng thời gian từ
30-01-2007 đến 30-03-2007 chứng kiến sự ổn định và một mức giá lý tưởng của
các giao dịch trong đó có REE. Khi VN-index lên trên 500 điểm thì cũng là lúc
giá của REE đạt giá cao nhất trong thời kỳ lạm phát và cũng đạt khối lượng giao
dịch lớn nhất trong giai đoạn này. Cụ thể: ngày 06-09-2008 giá đạt 52.500đồng/
cổ phiếu và khối lượng giao dịch gần 190000 cổ phiếu.
Biểu đồ cụ thể được biểu diễn dưới đây:
Biểu đồ 2.1.3 – Cổ phiếu REE từ 31/1 đến 30/5/2008
Biểu đồ 2.1.4 – Cổ phiếu REE từ 6/5 đến 30/9/2008
Chỉ số giá của REE trước và trong thời kỳ lạm phát được cụ tổng
quát bằng biểu đồ sau từ năm 2007 tới hết quý II/2008.
Biểu đồ 2.1.5 – Cổ phiếu REE từ năm2007 đến hết quý II năm 2008
Giá và khối lượng mua bán cổ phiếu REE trong 1 năm vừa qua trên
HOSE: