TÌNH HÌNH THU CHI QUỸ BHXH TẠI BHXH QUẬN HAI BÀ TRƯNG. - Pdf 76

Tình hình thu chi quỹ BHXH tại BHXH quận hai bà trng.
I. vài nét về bhxh quân hai bà trng.
1.Vài nét về BHXH quận Hai Bà Trng.
a. Quá trình thành lập và phát triển BHXH quận Hai Bà Trng.
Năm1995, sự nghiệp BHXH đã đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động
theo quy định của Bộ lao động đợc cụ thể hoá bằng điều lệ BHXH ban hành kèm
theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ.
Sáu tháng đầu năm 1995, bộ phận BHXH quận Hai Bà Trng còn nằm trong
phòng LĐTB-XH, sáu tháng cuối năm 1995 đã đợc hợp nhất với sự nghiệp BHXH
do liên đoàn lao động quận chuyển giao và theo quyết đinh của giám đốc BHXH
Thành Phố Hà Nội, BHXH quận Hai Bà Trng đợc thành lập và chính thức đi vào
hoạt động từ ngày 01/08/1995, lấy trụ sở làm việc tại 38 Lê Đai Hành - quận Hai
Bà Trng - Hà Nội (Hiện giời lấy trụ sở chính tại 434A Phố Trần khát Chân Quận
Hai Bà Trng Hà Nội làm trụ sở chính ). BHXH quận có t cách pháp nhân, có
con dấu riêng, tài khoản riêng
BHXH quận Hai Bà Trng là một trong những đơn vị BHXH trực thuộc
BHXH thành phố Hà Nội, nằm trong hệ thống BHXH Việt Nam và chịu sự quản
lý theo nghành dọc nh quy định của Pháp Luật.

Nh vậy BHXH quận Hai Bà Trng cũng nh BHXH các quận huyện khác là đơn
vị trực thuộc nhỏ nhất của BHXH Việt nam, hoạt động dới sự hớng dẫn và chỉ đạo
trực tiếp của BHXH Thành Phố Hà Nội.
Quận Hai Bà Trng là một quận rộng lớn với diện tích tự nhiên là 132 km
2
, đ-
ợc chia thành 25 phờng với số dân khoảng 345.000 ngời và đợc phân bố tơng đối
đều. Tính đến tháng 12/2003 thì trên địa bàn quận có tới 1.014 đơn vị với 88.322
lao động đăng ký đóng BHXH. Trong đó:
Khối doanh nghiệp TW: Có 232 đơn vị với số lao động là43.508 ngời.
Khối doanh nghiệp Thành phố: Có 62 đơn vị với số lao động là 13.853 ngời.
Khối doanh nghiệp quận: Có 5 đơn vị với số lao động là 527 ngời.

bộ đều có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với
nghành.
Giám đốc
Phó gám đốc
Bộ phận chính sách Bộ phận thu Bộ phận kế toán Bộ phận cấp thẻ
Phó giám đốc
Với 30 cán bộ viên chức, BHXH quận Hai Bà Trng không chia thành các
phòng ban cụ thể mà chia thành 4 bộ phận có chức năng và nhiệm vụ riêng biệt.
Đó là các bộ phận:
Bộ phận chính sách.
Bộ phận kế toán.
Bộ phận thu.
Bộ phận cấp và sử đổi thẻ.
Cả 4 bộ phận đều đợc đặt dới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc và các phó
giám đốc. Sự phân công của công việc đợc thể hiện theo chức năng và nhiệm vụ
của mỗi ngời, mỗi bộ phận và đợc thể hiện qua sơ đồ:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức BHXH quận Hai Bà Trng.
Trong đó:
- Giám đốc: Là thủ trởng cơ quan BHXH quận Hai Bà Trng và chịu trách
nhiệm về toàn bộ các mặt về hoạt động, công tác BHXH trên địa bàn quận, phụ
trách công tác tổ chức, đối ngoại, tổng hợp.
- Phó giám đốc: Có nhiệm vụ thờng trực hỗ trộ cho giám đốc, thay thế giám
đốc điều hành mọi công việc khi giám đốc đi vắng. Phó giám đốc trực tiếp phụ
trách bộ phận thu BHXH.
- Bộ phận chính sách: Có nhiệm vụ chính là theo dõi, hớng dẫn và giải quyết
mọi vấn đề về chính sách BHXH đã ban hành trong điều lệ BHXH cho các đối t-
ợng tham gia. Cụ thể, bộ phận chính sách giải quyết các vấn đề sau:
+ Thống kê, lu trữ tài liệu, hồ sơ theo yêu cầu nghiệp vụ, đảm bảo khi cần lấy
đợc dễ dàng.
+ Hớng dẫn giải đáp các chế độ chính sách về BHXH.

+ Hàng tháng, hàng quý tổ chức kiểm tra việc chi trả lơng hu và trợ cấp cho
các loại đối tợng, ngăn chặn những thiếu sót và sai trái trong nghiệp vụ.
+ Cuối mỗi tháng kế toán phải khoá sổ và làm báo cáo kế quả chi trong
tháng.
+ Hàng quý, hàng năm kế toán phải làm báo cáo tổng hợp quyết toán để gửi
lên cơ quan cấp trên theo đúng quy định của Nhà nơc.
- Bộ phận cấp phát và sửa đổi thẻ:
Bộ phận cấp phát và sửa đổi thẻ có nhiệm vụ nhận hồ sơ từ ngời sử dụng lao
động gửi lên để làm thẻ BHXH cung nh thể BHYT thông qua cán bộ thu. Từ đây,
cán bộ cấp phát và sửa đổi thẻ xem xét và trình lên BHXH thành phố để BHXH
thành phố làm thẻ cho ngời lao động. Khi có sự sai lệch về những thông tin cần
thiết ghi trên thẻ mà sai lệch ấy có thể do các bên thì cán bộ làm công tác này
phải làm công văn gửi lên BHXH thành phố để sửa đổi. Vì đây là thẻ BHXH,
BHYT nên nó có thể ảnh hởng trực tiếp tới quyền lợi của ngời lao động vì vậy đòi
hỏi cán bộ làm công tác này phải đòi hỏi chính xác và có trình độ chuyên môn.
Ngoài ra, cán bộ làm công tác này còn kết hợp với cán bộ thu để giải quyết một số
trờng hợp có liên quan tới quá trình hởng BHYT.
Cả bốn bộ phận trên đều đặt dới sự lãnh đạo của gián đốc và phó giám đốc.
Giám đốc, phó giám đốc có vai trò trực tiếp chỉ đạo, phân công công tác cho cán
bộ trong cơ quan. Tất cả các giấy tờ cần có dấu xác nhận của BHXH quận thì đều
phải thông qua Giám đốc hoặc phó giám đốc cơ quan xét duyệt.
Tại BHXH quận Hai Bà Trng luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữ tập thể cán bộ
công nhân viên. Mỗi cán bộ đều có thể lam việc ở các mặt khác nhau nh cán bộ
làm ở bộ phân chi cũng có thể giải thích và giải quyết các chế độ chính sách. Tuy
nhiên, tất cả các hoạt động trên đều phải chịu sự giám sát của ban lãnh đạo cùng
xem xét và giải quyết nhờ đó mà công việc tại BHXH quận thờng đợc giải quyết
tốt.
*. Nhiệm vụ của BHXH Hai Bà Trng.
- Cũng giống nh các cơ quan BHXH quận, huyện khác trong thành phố.
BHXH quận Hai Bà Trng trực thuộc BHXH thành phố Hà Nội, có trách nhiêm

để chi trả. Để làm tốt công việc này đòi hỏi phải có tính trung thực và tinh thần
hợp tác của các đơn vị cơ sở cũng nh cán bộ quản lý của cơ quan BHXH.
+) Hớng dẫn các đơn vị làm thủ tục tham gia BHXH, mức đóng BHXH cho
các đơn vị cơ sở. Hàng tháng chủ sử dụng lao động phải trích 15% tổng quỹ lơng
và ngời lao động phải trích 5% tiền lơng để đóng BHXH. ( cộng thêm 3% tông
quỹ lơng cho BHYT kể từ ngày 01/01/2003)
+) Đối chiếu mức đóng BHXH và báo tăng theo tháng, quý từ đó quản lý đối
tợng một cách chính xác, kịp thời hơn. Cơ quan dựa vào kết quả của các năm trớc
để từ đó xây dựng kế hoạch cho năm sau.
+) Hớng dẫn các đơn vị làm thủ tục thanh toán các chế độ ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
+) Cơ quan cử cán bộ giám sát cơ sở, đôn đốc đóng BHXH theo đúng điều
lệ BHXH.
+) Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, kiên quyết đốc thu và khắc
phục tình trạng nợ đọng quỹ. Đối với các đơn vị ngoài quốc doanh thì tăng cờng
tuyên truyền vận động tham gia BHXH.
Để có thể thực hiện tốt đợc những nhiêm vụ đợc giao trên BHXH quân Hai
Bà Trng đã đợc sự giúp đỡ, tạo điều kiện hợp tác của nhiều cơ quan khác nhau
trên địa bàn quận nh: Phòng lao động thơng binh xã hội, phòng tài chính kho bạc
Nhà nớc, cơ quan công an, uỷ ban nhân dân phờng để chi trả lơng hu và trả trợ
cấp đợc kịp thời, an toàn và đầy đủ, mang lại lợi ích thiết thực cho ngời lao động.
c. Kết quả hoạt động của BHXH quận những năm qua.
Sau khi thành lập, BHXH quận Hai Bà Trng chính thức đi vào hoạt động dới
sự chỉ đạo chặt chẽ của BHXH thành phố Hà Nội. Tuy bớc đầu còn gặp nhiều khó
khăn nhng BHXH quận đã đạt đợc một số kết quả đáng khen ngợi. Là đơn vị luôn
luôn đứng đầu về phong trào thi đua các quận, huyện của BHXH thành Phố Hà
Nội.
Năm 1996: Bằng khen của UBND Thành Phố.
Năm 1997: Bằng khen của BHXH Việt Nam.
Năm 1998: Bằng khen của BHXH Việt Nam và của UBND quận.

Số tờ
khai
(tờ
Số lao
động đ-
ợc cấp
sổ
(ngời)
Tiền lơng hu
và hởng trợ
cấp
(nghìn đồng)
6/1995 57.081 354 16.533 - - - -
1996 58.304 382 47.121 42.925 5.227 427 110.863.945
1997 60.452 452 50.690 43.290 42.838 10.070 144.044.447
1998 63.478 567 57.953 43.440 42.838 24.531 146.283.504
1999 67.133 586 59.864 43.820 49.107 39.034 150.928.120
2000 69.713 693 76.287 44.437 56.798 50.109 186.057.971
2001 72.045 745 95.144 45.336 64.086 62.706 224.604.440
2002 77.109 886 98.858 45.885 73.560 70.013 231.808.589
2003 88.322 1.014 157.900 46.627 78.050 75.325 352.306.000
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm BHXH quận Hai Bà Trng.
Qua bảng số liệu cho thấy: Số lao động đóng BHXH tăng đều qua các năm
nếu từ năm 1995 chỉ có 57.084 ngời thì đến năm 2003 đã là 88.320 ngời tăng
54,72% trong 8 năm vừa qua, tơng ứng số tiền thu BHXH tăng lên từ 16.533 triệu
đồng năm 1995 thì đến năm 2003 đã nên đến 157.990 triệu đồng. Đây thực sự là
kết quả đáng khích lệ đối với BHXH quận Hai Bà Trng.
Để có đợc kết quả trên là do BHXH quận đã sắp xếp cán bộ phù hợp với
năng lực và điều kiên thực tế. Tập thể cán bộ đoàn kết và lỗ lực phấn đấu. BHXH
Hai Bà Trng đợc BHXH thành phố trực tiếp chỉ đạo hớng dẫn, đồng thời có sự

Để thực hiện đợc những nhiêm vụ trên, BHXH quận Hai Bà Trng phải tiếp
tục tự hoàn thiện, nâng cao uy tín chất lợng phục vụ. Bên cạnh đó, BHXH quận
phải luôn luôn đổi mới để phù hợp với chiến lợc phát triển kinh tế thị trờng hiện
nay. Nền kinh tế phát triển sẽ thu hút nhiều lao động, thu nhập cũng đợc nâng cao
điều đó cho phép mở rộng đối tợng tham gia BHXH. Đây là yếu tố quan trọng góp
phần công bằng và giữ vững trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, phải thu hút thêm
đối tợng tham gia BHXH, phát triển BHXH đối với khối ngoài quốc doanh, các
hợp tác xã
II. Tình hình thu chi quỹ BHXH ở việt nam.
1. Giai đoạn từ trớc cách mạng tháng 8 đến trớc năm 1995.
Từ khi nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đợc thành lập, Chính phủ Việt
Nam đã ký và ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHXH.
Sau khi hoà bình lặp lại ở miền Bắc, thực hiện theo hiến pháp năm 1959 Hội
đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân
viên chức Nhà nớc kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12 1961. Các chế độ
BHXH bao gồm 6 loại trợ cấp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nhgề
nghiệp, mất sức lao động, tử tuất.
Theo điều lệ tạm thời, quỹ BHXH đợc chính thức thành lập thuộc ngân sách
Nhà Nớc. Các cơ quan doanh nghiệp Nhà nớc chỉ nộp một tỷ lệ phần trăm so với
tổng quỹ lơng. Công nhân viên chức Nhà nớc không phải đóng cho quỹ BHXH.
Thời kỳ từ năm 1962 đến quý II năm 1964: Trong giai đoạn này Tổng công
đoàn Việt nam (nay là Tổng liên đoàn lao động Việt nam) chịu trách nhiệm quản
lý 6 chế độ BHXH nói trên.
Thời kỳ từ quý II năm 1964 đến Nghị định 12/CP(26/01/1995). Ngày
20/03/1963 Chính phủ ra nghị định 31/CP giao trách nhiệm quản lý BHXH cho
hai tổ chức: Tổng liên đoàn lao động Việt nam tổ chức và thực hiện 3 chế độ ngắn
hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Bộ Nội Vụ (nay là
Bộ lao động và thơng binh xã hội) quản lý và thực hiện 3 chế độ dài hạn còn lại.
Ngày10/04/1964 Hội đồng Chính phủ ra quyết định 62/CP giao nốt trách nhiệm
quản lý một phần quỹ BHXH cho Bộ nội vụ.

Thực thu
(đồng)
Tỷ lệ
so với
chi(%)
Thực cấp
(đồng)
Tỷ lệ
so với
chi (%)
1964 4.418.000 4.418.000 100 0
1965 7.326.000 4.586.000 63 2.740.000 37
1966 9.719.000 5.680.000 58 4.039.000 42
1967 11.379.000 5.979.000 53 5.400.000 47
1968 14.976.000 6.765.000 45 8.202.000 55
1969 18.670.000 7.699.000 41 10.971.000 59
1970 26.768.000 7.955.000 30 18.813.000 70
1971 43.954.000 863.600 2 35.323.000 80
1972 51.104.000 7.978.000 16 43.117.000 84
1973 57.425.000 9.016.000 16 48.409.000 84
1974 62.477.000 9.885.000 16 52.592.000 84
1975 69.174.000 10.705.000 15 58.469.000 85
1976 74.340.000 12.521.000 17 61.819.000 83
1977 82.053.000 13.749.000 17 68.304.000 83
1978 91.585.000 19.192.000 21 72.393.000 79
1979 115.059.000 20.560.000 18 94.499.000 82
1980 146.389.000 23.125.000 16 123.246.000 84
1981 285.171.000 30.796.000 11 254.375.000 89
1982 502.667.000 40.611.000 8 462.006.000 92
1983 902.669.000 40.632.000 6 848.037.000 94

doanh nghiệp Nhà nớc). Thêm vào đó giai đoạn này đất nớc có chiến tranh nên
nhiều đơn vị sản xuất phải sơ tán về nơi an toàn hơn, từ đó làm cho đối tợng tham
gia BHXH ít đi dẫn đến giảm thu và bội chi ngân sách BHXH.
Giai đoạn 1980-1986 phần cấp bù của ngân sách Nhà nớc là quá lớn do nhng
năm 1980 tình hình kinh tế nớc ta gặp nhiều khó khăn, do bội chi ngân sách Nhà
nớc ngày càng tăng nên đã có tác động tiêu cực trong việc thực hiện thu BHXH,
mức thu BHXH hàng năm giảm xuống. Cụ thể năm 1981 phần trăn thu so với chi
chỉ đạt khoảng 10,8% và tiếp tục giảm mạnh đến năm 1987 chỉ còn 2,34%, đây là
con số quá thấp phản ánh tình trạng thâm hụt một cách chầm trọng trong nghành
BHXH.
Để khắc phục tình trạng trên, năm 1986 nhà nớc đã sửa lại tỷ lệ đóng BHXH
do Bộ LĐTB-XH quản lý từ 1% nên 8% tổng quỹ lơng của các doanh nghiệp nhà
nớc. Nhờ sự điều chỉnh này mà hàng năm nguồn thu của quỹ BHXH có tăng nên
đáng kể so với tổng chi và phần nào làm giảm ghánh nặng cho ngân sách Nhà n-
ớc. Nếu nh năm 1987 NSNN phải cấp bù tới 97,66% so với tổng chi phí thì năm
1988 con sốp này giảm xuống chỉ còn 70.69% và tiếp tục giảm xuống còn 67,4%
vào năm 1989. Tuy vậy con số này vẫn còn quá cao song cũng là dấu hiệu đáng
mừng cho nghành BHXH.
Thời kỳ 1990-1994 phần ngân sách Nhà nớc cấp bù cho quỹ BHXH lai dần
dần tăng nên có thể năm 1993 ngân sách Nhà nớc cấp bù tới 87,87%. Sự gia tăng
này là do trong thời kỳ này Nhà nớc ra một số Quyết định tính lại hệ số quy đổi
thời kỳ công tác làm cho ngời về hu, mất sức lao động tăng nhanh, thậm chí có
ngời thời gian công tác gần bằng tuổi đời, điều này cho thấy sự bất hợp lý trong
việc đóng góp và hởng thụ làm mất tính chất vốn có của BHXH, đồng thời thể
hiện sự đan xen giữa chính sách BHXH và chính sách BHXH khác.
2. Giai đoạn 1995 đến nay.
Trớc sự đổi mới mạnh mẽ về nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội, một thực tế
khách quan đặt gia là công tác BHXH cũng cần có những đổi mới, điều chỉnh cho
phù hợp với giai đoạn mới. Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP và kèm theo
điều lệ BHXH đã làm cho BHXH Việt Nam có sự thay đổi lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status