CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
LỜI MỞ ĐẦU
Qua hơn 10 năm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo tinh
thần nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), nền kinh tế
nứơc ta đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vào việc đẩy mạnh
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong cơ chế quản lý
mới. Thuế thực sự trở thành công cụ quản lý sắc bén của Nhà nước đối
với mọi thành phần kinh tế. Yên cầu chủ yếu đặt ra cho thuế là phải bao
quát hết các nguồn thu để nguồn thu từ thuế trở thành nguồn thu chủ yếu
cho ngân sách Nhà nước. Thuế phải có tác dụng khuyến khích, giải phóng
mọi tiềm năng đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành
phần kinh tế, tăng cường năng suất lao động, đảm bảo công bằng xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu trên, trong những năm qua, hệ thông pháp luật
thuế đã từng bước được ban hành, bổ sung và sửa đổi phù hợp với công
cuộc cải cách kinh tế và đổi mới công tác quản lý nhà nước. Nhà nước ta
đã thực hiện chính sách thuế bình đẳng và thống nhất giữa các thành phần
kinh tế, đã điều chỉnh hợp lý giữa các nguồn thu quan trọng từ nội bộ nền
kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước và góp phần thúc đấy
sản xuất, lưu thông hành hoá phát triển.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Luật thuế giá trị gia tăng và
thuế thu nhập doanh nghiệp đã được Quốc hội thông qua và được áp dụng
từ ngày 01/01/1999 nhằm khắc phục của luật thuế doanh thu, tạo môi
trường thuận lợi cho đầu tư trong và ngoài nước, bảo hộ hợp lý và khuyến
khích sản xuất trong nước, đặc biệt là đối với hàng xuất khẩu.
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Qua hơn lăm năm thực hiện hai luật thuế mới, ngành thuế đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vu thu ngân sách. Tổng số thuế thu các năm đều
vượt mức kế hoạch năm trong toàn quốc , các khu vực kinh tế và các sắc
thuế chủ yếu cũng đều hoàn thành và vựơt mức dự toán thu.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
1.1. T ổng quan về VAT .
1.1.1. VAT.
Thuế VAT được áp dụng lần đầu tiên tại Pháp năm 1954. Sau đó
được triển khai rộng rãi sang các nước khác. Dựa trên nội dung của thuế
VAT, mỗi nước xây dựng cho mình một luật thuế riêng phù hợp với điều
kiện kinh tế của mỗi quốc gia và hầu hết đã thu được kết quả tốt , cải
thiện được tình hình tài chính của đất nước. Đến nay, Thuế VAT đã
được khẳng định là một sắc thuế ưu việt, được áp dụng hầu hết các nước
trên thế giới.
Ở Việt Nam, chính sách thuế trước đây chưa phù hợp với thông lệ
quốc tế, làm cản trở quá trình mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong
khu vực và trên thế giới. Để khắc phục và tạo tiền đề để đưa nước ta bước
sang giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước, mở rộng
hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã cải cách
thuế bước 2 nhằm phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam một cách rõ ràng, cụ thể, sâu sắc và hoà nhập
với kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Vậy thuế GTGT là gì?
Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu
dùng hàng hoá( nói cách khác là đánh trên phần giá trị chênh lệch giữa giá
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
4
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
“ đầu ra” và giá đầu vào do các cơ sở SXKD tạo ra trong quá trình sản
xuất, kinh doanh dịch vụ).
- Thuế GTGT là loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá
thanh toán của hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập
đóng góp cho Nhà nước thông qua việc trả tiền mua hàng của người tiêu
thuế đã thu ở khâu trước, Nhà nước khuyến khích sản xuất hàng
xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu cạnh tranh trên thị
trường quốc tế, các nước thường quy định từ 2 đến 3 mức thuế
tuỳ theo tính chất của từng loại hàng hoá dịch vụ. Ở nước ta,
thuế GTGT được điều chỉnh còn lại 3 mức thuế (trước đây là 4
mức) là: 0%, 5%, và 10%.
- Có hai cách xác định GTGT:
+ Theo phương pháp trực tiếp: theo phương pháp này
GTGT được xác định bằng tiên lương cộng lại với lợi nhuận, phương
pháp này chính xác nhưng xác định khó.
+ Phương pháp gián tiếp: theo phương pháp này GTGT
được xác định bằng giá trị hàng bán ra trừ đi giá trị mua vào tương ứng.
Trên thực tế, cách này dễ xác định, được dùng tính thuế GTGT mặc dù nó
thiếu chính xác.
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
1.1.2.Vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế ở nước ta.
- Đảm bảo nguồn thu to lớn, ổn định cho NSNN, thể hiện.
Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh hoạc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Đối tượng
chịu thuế là tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được sản xuất, cung ứng dịch
vụ trong nước hay nhập khẩu đều là đối tượng chịu thuế GTGT. Như vậy,
diện đánh thuế GTGT rất sâu rộng, vì vậy thuế GTGT có khả năng đem
lại nguồn thu lớn cho NSNN.
Do đặc điểm nền kinh tế Việt Nam, hiện nay có nhiều thành
phần kinh tế cùng song song tồn tại và hoạt động, nhận thức về pháp luật
và sự am hiểu về chính sách thuế chưa cao, mặt khác còn nhiều việc thực
hiện mở sổ sách kế toán, sử dụng hoá đơn chưa nghiêm dẫn đến khó xác
định căn cứ tính thuế. Vì vậy nước ta sử dụng cả hai phương pháp tính
của nền kinh tế nước ta hiện nay, Mục đích của việc áp dụng thuế GTGT
nhăm kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để dần dần lạnh
mạnh quan hệ thị trường, tạo môi trường bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi phát huy hết thế
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
mạnh về lao động, kỹ thuật, tiền vổn trong nước, duy trì công bằng xã
hội, đảm bảo nguồn thu ổn đinh cho NSNN.
1.1.3.Thất thu thuế sự cần thiết phải chống thất thu thuế GTGT
trong giai đoạn hiện nay.
Bất kì quốc gia nào, thuế luân luân đóng một vai trò quan trọng
đối với đời sống kinh tế xã hội, là nguồn thu chủ yếu của NSNN và là
công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh
cũng như phân phối, tiêu dùng thúc đẩy kinh tế phát triển đúng hướng,
đảm bảo công bằng xã hội. ở nước ta hiện nay, thuế đã trở thành nguồn
thu chủ yếu của NSNN. Số thu từ thuế đã chiếm trên 90% tổng thu
NSNN. Và hệ thống thuế hiện hành đã đem lại kết quả thu vào NSNN
ngày càng tăng qua các năm, đáp ứng về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên
ngày càng tăng của NSNN, giảm tỷ lệ bội chi, góp phần kiềm chế lạm
phát, ổn định giá cả, phát huy được tác phong quản lý, điều tiết vĩ mô nền
kinh tế , đã toạ được môi trường bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh lành
mạnh giữa các thành phần kinh tế, trong nền kinh tế thị trường, góp phần
mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Song bên cạnh những thành tựuđã đạt được, còn có một số hạn
chế nhát định dẫn đến tình trạng thất thu thuế lớn. để thấy rõ vấn đề này,
ta đi xem xét các vấn đề cụ thể:
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
9
không đảm bảo điều hoà lợi ích giữa nhà nước, thị trường và mỗi người
dân.
Ngoài ra thất thu thuế còn ảnh hưởng nghiêm trong tới hiệu lực
của các luật thuế, gây sự thiếu tin tưởng, làm giảm ý thức chấp hành pháp
luật thuế của các ĐTNT. Từ đó làm ảnh hưởng đến vai trò quản lý thống
nhất của nhà nước.
Nhận thức được vai trò quan trọng của thuế trong nền kinh tế thị trường
hiện nay và hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng thất thu thuế, nhiệm vụ
tăng cường qunả lý và chống thất thu thuế là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu
không những đòi hỏi sự nỗ lực của riêng ngành thuế và các ngành các cấp
có liên quan mà còn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp đó với
nhau.
Tuy nhiên, tình trạng thất thu thuế còn diễn ra nghiêm trọng với
mọi sắc thuế, ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế.
Thuế GTGT là một sắc thuế được áp dụng ở Việt Nam từ năm
1999 tức là đã được 7 năm, tuy nhiên đó vãn chưa phải là quãng thời gian
dài để hoàn thiện. Chính vì thế mà vẫn còn nhiều điều bất cập trong chính
sách. Hơn nữa sự hiểu biết của người dân về luật thuế mới vẫn còn thấp,
nghiệp vụ vủa cán bộ thuế chưa cao nên trong những năm qua vẫn còn tồn
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
tại hiện tượng thất thu thuế ở mức độ cao. Đặc biệt chú ý là thành phần
kinh tế cả thể.
Đa phần các hộ kinh tế cả thể thực hiện mua bán hàng hoá, dịch vụ
bằng tiền mặt, chưa thực hiện tốt chế độ kế toán, việc sử dụng hoá đơn
chứng từ trong mua bán hàng hoá chưa đầy đủ do đó công tác kiểm tra,
kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn. Các hộ này
thường tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để trốn thuế như: không đăng ký nộp
thuế, khai man doanh số , sử dụng hoá đơn giả…
đó thương nghiệp là ngành phát triển mạnh nhất. Đến nay, toàn quận đã
có 4 chợ lớn là: chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Hoà Bình chợ Trương Định và có
rất nhiều tụ điểm buân bán tập trung ở các phố lớn như:phố Huế, Phùng
Khắc Khoan, Trần Nhân Tông…
Từ năm 1999, thực hiện theo sự phân công quản lý đối tượng nộp
thuế (ĐTNT), khi áp dụng hai luật thuế mới, ĐTNT thuộc sự quản lý của
chi cục thuế quận Hai Bà Trưng có sự thay đổi. Các ĐTNT áp dụng thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ được chuyển về Cục thuế thành phố
quản lý, Vì vậy ĐTNT trên địa bàn chi cục quản lý giảm đi rất nhiều. Hơn
nữa, hầu hết ĐTNT này thuộc khu vực kinh tế tập thể như: các công ty
TNHH, các công ty cổ phần, DN tư nhân, hợp tác xã, tổ sản xuất … là
những khu vực đem lại số thu lớn nhất cho chi cục thuế quận Hai Bà
Trưng lên số thu của chi cục thuế bị giảm đi nhiều so với những năm
trước đó. Và từ năm 1999 đến nay chi cục chỉ quản lý những đối tượng
kinh doanh là hộ kinh doanh công thương nghiệp ngoài quốc doanh, các
loại thuế nhà đất, tiền thuê đất theo chỉ thị 245/TTG của thủ tướng Chính
phủ, thuế sử dụng đất nhà nước, phí, lệ phí , thu khác. Tuy nhiên, khối
lượng công việc, nhiệm vụ của chi cục vẫn phải thực hiện rất lớn và phức
tạp.
Trước yêu cầu mà nhiệm vụ quản lý trên địa bàn quận, chi cục
thuế đã kịp thời sắp xếp lại bộ máy tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
việc thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Hiện nay toàn chi cục có 258
cán bộ, cán bộ có trình độ đại học chiếm 15% còn lại là trình độ trung cấp
và sơ cấp.
Mô hình tổ chức của chi cục thuế quận Hai Bà Trưng gồm:
- 01 đồng chí Chi cục trưởng: là chủ tài khoản, phụ trách chung
kế hoạch thu thuế, phụ trách đội thanh tra, đội hành chính- tổ
bảo việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi cục. Thực tế hoạt động cho
thấy cách thức tổ chức quản lý của chi cục là tương đối hợp lý phù hợp
với tình hình quản lý thu thuế. Kết quả là, mặc dù còn bỡ ngỡ với hai luật
thuế mơi nhưng từ năm 2000 đến nay nam nào chi cục cũng hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Tuy vậy cán bộ thuế trong toàn chi cục vẫn tiếp tục
học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm đê
đáp ứng với tình hình quản lý thu thuế của chi cục và đòi hỏi thách thức
mới.
2.1.2. Tình hình quản lý thuế ở chi cục thuế thời gian qua.
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế
nước ta, các khu vực kinh tế và nhất là khu vực kinh tế cá thể đã đem lại
một nguồn thu quan trọng và ngày càng tăng cho ngân sách Nhà nước.
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Với đặc điểm phát triển kinh tế xã hội, quận Hai Bà Trưng là
quận có số thu trọng điểm của thành phố Hà Nội, trong đó thuế công
thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh chiếm một tỷ trọng lớn và ngày
càng tăng qua các năm. Nếu so sánh trong thành phố Hà Nội thì số thu từ
khu vực ngoài quốc doanh của quận Hai Bà Trưng lớn thứ hai, chỉ sau
quận Hoàn Kiếm. Trên phạm vi Chi cục quản lý thì thuế ngoài quốc
doanh chiếm một tỷ trọng lớn nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số thuế.
Số thu từ khu vực này ngày một tăng qua các năm. Cụ thể:
Thuế ngoài quốc doanh qua các năm.
Đơn vị: 1000đ
Năm 2004 Năm 2005
Tuyệt đối Tỷ trọng Tuyệt đối Tỷ trọng
Thuế NQD
198.568.00
0
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
5 Thuế khác 2.399.000
Cộng 122.836.000
Việc quản lý nguồn thu từ khu vực kinh tế cá thể là một công việc
hết sức khó khăn do đặc điểm của khu vực này là số cơ sở sản xuất kinh
doanh đông, phân tán, ý thức chấp hành luật pháp của các đối tượng còn
thấp… mà luật thuế GTGT tuy áp dụng được vài năm nhưng vẫn còn mới,
nên khó tránh khỏi hiện tượng thất thu thuế GTGT ở khu vực này, đòi hỏi
chi cuch thuế hải có những biện pháp hữu hiệu tăng cường chống thất thu
thuế.
2.2.T ình hình thất thu và chống thất thu thuế GTGT trên địa
bàn quận Hai Bà Trưng.
2.2.1.Tình hình thất thu trong việc quản lý ĐTNT.
Theo quy định của pháp luật, tất cả các đối tượng muấn đứng ra tổ
chức hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải đăng kí kinh doanh và đăng
ký nộp thuế. Song trên thực tế, đối tượng tổ chức sản xuất kinh doanh
thuộc mọi thành phần xã hội và nhất là ở khu vực cá thể cứ có vốn, có địa
điểm là họ có thể đứng ra kinh doanh, buôn bán nên sự hiểu biết của nhiều
người về chính sách thuế còn thấp, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, xu hướng chạy theo lợi nhuận là
phổ biến. Vì vậy mà hiện tượng kinh doanh mà không đăng ký dinh
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
doanh, đăng ký nộp thuế còn diễn ra rất nhiều và nếu không kiểm soát
chặt chẽ sẽ dẫn đến thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý ĐTNT, ngay
từ đầu mỗi năm, Chi cục thuế đã chỉ đạo cho các đội thuế phường, chợ tạo
đơn xin nghỉ nhưng vẫn kinh doanh) đều bị xử phạt theo pháp luật. Tuy
nhiên, cho dù việc thực hiện quản lý ĐTNT có nhiều tiến bộ nhưng vẫn
còn một số nguyên nhân khác dẫn đến bỏ sót ĐTNT, gây thất thu cho
NSNN.
Tuy việc rà xoát ĐTNT để cấp mã số thuế được tiến hành khá tốt
song do địa bàn quận có nhiều hộ SXKD nhỏ, không thường xuyên, có
tính mùa vụ, sự biến động ngành nghề, địa đIểm, thời gian kinh doanh lại
diễn ra không thường xuyên nên bỏ sót hộ quản lý và ghi thu là việc khó
tránh khỏi.
Để thấy rõ tình hình thất thu về số hộ, ta nghiên cứu bảng sau:
Tình hình quản lý ĐTNT ở chi cục Hai Bà Trưng
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Qua các năm
Năm
Số hộ
kinh
doanh
Số hộ quản
lý thuê
% quản
lý/kinh
doanh
Số hộ
ghi thu
% ghi
thu/quản
lý
2004
doanh.
Trong tổng số thuế GTGT thất thu, số thất thu từ hộ nghỉ giả
thường khá cao. Ta có thể ước tính số thuế GTGT thất thu do nghỉ giả
thông qua bảng sau:
Ước tính số thuế GTGT thất thu do hiện tượng “nghỉ giả”
Chỉ tiêu Năm 2005
Số hộ ghi thu bình quân tháng 16.540
Số hộ nghỉ kinh doanh bình quân tháng 337
Tỷ lệ nghỉ giả 2,1%
Lương Văn Chính - Tài chính công 44
23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Số hộ nghỉ giả bình quân tháng 32
Số thuế GTGT ghi thu bình quân hộ/năm 1.367.660
Số thuế GTGT ghi thu bình quân hộ/tháng 115.940
Số thuế GTGT thất thu do nghỉ giả bình quân/tháng 3.452.350
Số thuế GTGT thất thu do nghỉ giả bình quân/năm 37.617.860
Qua việc phân tích đánh giá tình hình thất thu do quản lý ĐTNT
chưa tốt, ta có thể rút ra nhận xét: mặc dù chi cục thuế đã có nhiều cố
gắng song nhìn chung tình hình bỏ sót ĐTNT, hiện tượng “ghỉ giả” còn
phổ biến gây ra một khối lượng thất thu khá lớn, chi cục thuế đã tìm hiểu
nguyên nhân:
- Về mặt chủ quan:
+ Trong công tác quản lý, còn có cán bộ chưa nhận thức đúng
trách nhiệm của mình, chưa đI sâu đI sát tình hình biến động trên địa bàn
mình phụ trách. Vì vậy chưa theo dõi được sát tình hình các hộ sản xuất
mới ra SXKD, chuyển địa đIểm kinh doanh, thay đổi tên chủ…
+ Đội thuế, cán bộ thuế còn nể nang, chưa cương quyết trong
việc xử lý sai phạm.
Lương Văn Chính - Tài chính công 44