Lời cảm ơn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Quí
Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
những kiến thức về quản lý giáo dục trong quá trình
học tập và nghiên cứu chơng trình đào tạo Thạc sỹ
Quản lý giáo dục; Thầy Đặng Quốc Bảo đã tận tâm
hớng dẫn cụ thể trong suốt thời gian nghiên cứu
viết luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn:
- Trờng Đại học s phạm HN,
- Dự án phát triển và đào tạo giáo viên THCS,
- Học viện Quản lý giáo dục Bộ GD&ĐT,
- Vụ Giáo dục Mầm non Bộ GD&ĐT,
- Sở Giáo dục và Đào tạo - Hà Nội;
- ủy ban nhân dân, Phòng Giáo dục Quận Hai Bà
Trng;
- ủy ban nhân dân các phờng, các nhà trờng thuộc
Hệ thống giáo dục mầm non Quận, đã giúp đỡ cho
nhiều ý kiến giá trị, nhiệt tình cung cấp số liệu và
có những chỉ dẫn quý báu cho tác giả.
Tác giả
Phạm Thị Tâm
1
Bảng chữ viết tắt
XH Xã hội
XHH Xã hội hóa
XHHGD Xã hội hóa giáo dục
XHHCTGD Xã hội hóa công tác giáo dục
HTGD Hệ thống giáo dục
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GDMN Giáo dục mầm non
25
1.4. Mục tiêu - Nguyên tắc - Nội dung xã hội hóa giáo dục
mầm non.
32
1.4.1. Mục tiêu xã hội hóa giáo dục mầm non.
32
1.4.2. Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục mầm non.
36
1.4.3. Nội dung xã hội hóa giáo dục mầm non.
39
1.5. Quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non.
42
1.5.1. Kế hoạch hóa - Chu trình kế hoạch hóa.
43
1.5.2. Tổ chức thực hiện
43
1.5.3. Chỉ đạo, chỉ huy, điều phối
43
1.5.4. Kiểm tra
44
1.5. Thông tin
44
Chơng 2: Phân tích thực trạng xã hội hóa giáo dục
mầm non trên địa bàn Quận Hai Bà Trng HN
46
2.1. Khái quát về giáo dục của Quận Hai Bà Trng
46
2.2. Thực trạng giáo dục mầm non ở Quận Hai Bà Trng
48
2.2.1. Giáo dục mầm non ở Hà Nội
giáo dục mầm non Quận Hai Bà Trng trong sự nghiệp đổi
mới giáo dục hiện nay
71
3.2. Các biện pháp tăng cờng xã hội hóa giáo dục mầm non
trên địa bàn Quận Hai Bà Trng.
72
3.2.1. Tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo
dục mầm non và xã hội hóa giáo dục mầm non cho mọi lực lợng
chính trị, xã hội của Quận.
73
3.2.2. Phát huy sứ mạng của trờng mầm non vào đời sống cộng
đồng, vào việc nôi dạy trẻ thơ đúng phơng pháp khoa học.
76
3.2.3. Huy động cộng đồng tham gia tích cực vào việc nâng cao
chất lợng sự nghiệp giáo dục mầm non và trờng mầm non trên địa
bàn Quận Hai Bà Trng
80
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế phối hợp nhà trờng và cộng đồng, phối
hợp ngành giáo dục và cơ quan hữu quan để thực hiện xã hội hóa
83
4
giáo dục mầm non trên địa bàn Quận Hai Bà Trng
3.2.5. Tổng kết kinh nghiệm tiên tiến về xã hội hóa giáo dục mầm
non và có phơng thức nhân điển hình
85
3.3. Kiểm chứng sự nhận thức tính cấp thiết và khả thi của
các biện pháp nêu ra.
Kết luận và khuyến nghị 89
Danh mục và tài liệu tham khảo
Phần Mở đầu
giáo dục mầm non cần phải gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại
hiệu quả cao. Phát triển giáo dục luôn đi liền với xã hội hoá giáo dục. Đối với
giáo dục mầm non, xã hội hoá để phát triển luôn là quy luật tồn tại và phát
triển.
Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xã hội hoá
giáo dục mầm non là một trong những nhân tố hàng đầu để thực hiện phát
triển giáo dục mầm non có chất lợng, phục vụ cho mục tiêu hình thành nhân
cách trẻ em, tạo điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục ở các bậc học khác.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và Văn kiện Đại hội
lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ : Chăm lo phát triển mầm non, thực hiện
Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm
non là một quy luật và khâu then chốt để thực hiện chuẩn hóa, hiện đại
hóa, thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta đến năm 2020 là: Xây
dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình.
6
Song hiện nay, xã hội hoá giáo dục mầm non trên thực tế cha phát huy
đợc thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức cha thật
tinh tế, toàn diện. Có quan điểm cho rằng xã hội hoá giáo dục mầm non chỉ
đơn thuần là sự đa dạng hoá các hình thức tham gia của nhân dân và xã hội
mà ít chú trọng tới nâng mức hởng thụ từ giáo dục của ngời dân. Vì vậy, có
nơi công tác xã hội hoá giáo dục mầm non chỉ đơn thuần về mặt huy động tài
chính, huy động cơ sở vật chất, Nhà nớc khoán cho dân, ít quan tâm đến sức
dân. Trái lại có nơi lại thụ động trông chờ vào sự bao cấp chủ yếu của Nhà n-
ớc.
Tình hình này cũng có ở Hà Nội. Vấn đề đặt ra là phải lámau sắc hơn
về lý luận và thực tiễn ở từng địa bàn dân c để tăng cờng công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu Biện pháp thực hiện
xã hội hoá giáo dục đối với ngành học mầm non trên địa bàn Quận Hai
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục thực tiễn.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn có dung lợng 95 trang bao gồm Phần mở đầu (Đề cập một số
vấn đề chung của đề tài) và phần kết quả nghiên cứu.
Phần kết quả nghiên cứu đợc bố trí thành ba chơng:
- Chơng 1. Trình bày "Cở sở lý luận của vấn đề nghiên cứu".
- Chơng 2. Phân tích "Thực trạng xã hội hoá giáo dục mầm non ở địa
bàn quận Hai Bà Trng Hà Nội".
8
- Chơng 3. Đề xuất "Các biện pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm
non ở địa bàn quận Hai Bà Trng - Hà Nội đáp ứng yêu cầu Đổi mới giáo
dục".
Chơng I
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Sơ lợc về vấn đề nghiên cứu
9
Nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục mầm non đã đợc sự quan
tâm ở nớc ta trên cả hai phơng diện lý luận và thực tiễn.
Năm 1998, trong khuôn khổ của Đề án xã hội hóa giáo dục và đào
tạo, Vụ Giáo dục mầm non - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá những
thành tựu và hạn chế, thiếu sót của hơn mời năm qua và xác định mục tiêu,
nhiệm vụ xã hội hóa đối với giáo dục mầm non.
Đứng trớc những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lợc
phát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh
thần Nghị quyết Trung ơng 2 (Khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX. Ngày 25/6/2002 Thủ tớng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị
bàn về công tác giáo dục mầm non. Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ
bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục
mầm non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non.
Quán triệt chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về xã hội hoá giáo dục trên
mục tiêu này.
Công trình của Nguyễn Thị Thanh Tâm Những biện pháp nâng cao
chất lợng đội ngũ quản lý ngành học mầm non tỉnh Nghệ An cũng nêu đặc
thù xã hội hoá giáo dục vào hoạt động bồi dỡng cán bộ quản lý nhìn từ đặc
thù một tỉnh miền trung.
Các công trình đã nêu cung cấp nhiều kiến giải cho hoạt động này,
song hiện nay vẫn cần các kiến giải đặt trong bối cảnh của tinh thần Luật
giáo dục ban hành năm 2005.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục
11
Có hai cách tiếp Phạm trù giáo dục thờng đợc tiếp cận theo hai phơng
diện:
Thứ nhất: Tiếp cận theo quá trình giáo dục- theo tiếp cận này thì Giáo
dục là quá trình đào tạo con ngời một cách có mục đích nhằm chuẩn bị cho
con ngời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó đợc thực
hiện bằng cách tổ chức tuyển chọn và lĩnh hội các kinh nghiệm lịch sử xã hội
của loài ngời.
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tợng nào đó, làm cho đối tợng ấy
dần dần có đợc những phẩm chất và năng lực nh yêu cầu đã đặt ra. Giáo dục
nảy sinh cùng phát triển xã hội loài ngời, trở thành một chức năng sinh hoạt
không thể thiếu đợc và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của
xã hội.
Giáo dục là một bộ phận của đời sống xã hội, hoạt động giáo dục luôn
luôn phát triển trong mối tơng tác biện chứng, qua lại với các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội, nh quá trình kinh tế, văn hoá, xã hội tuy nhiên xã hội
muốn duy trì và phát triển đợc nhất thiết phải thực hiện chức năng giáo dục.
Giáo dục luôn luôn đợc coi là chức năng quan trọng bậc nhất, mang
tính tất yếu, đợc thực hiện thông qua các dạng hoạt động thực tiễn ở mức độ,
của xã hội để hoàn thành những mẫu ngời của từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Giáo dục vừa có vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã
hội vừa chịu sự quy định của trình độ phát triển chung của nền kinh tế- xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Nhấn mạnh vai trò to lớn của giáo dục trong phát triển kinh tế xã hội;
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" và "Đầu t cho giáo
dục là đầu t cho phát triển". Ông Ph. Mayer - Tổng giám đốc UNESCO còn
13
nhấn mạnh: Trong thế kỷ 21, nớc nào đầu t vào giáo dục thì nớc đó có khả
năng cạnh tranh mạnh nhất. Tuy nhiên thành công của giáo dục còn phụ
thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác. Một trong những yếu tố quan trọng
nhất là quản lý giáo dục, đặc biệt đối với nớc ta trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
1.2.2. Giáo dục mầm non
a) Khái niệm giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non đã đợc nghiên cứu một cách có hệ thống ở nớc ta
trong suốt tiến trình phát triển nền giáo dục cách mạng. Theo cách tiếp cận
nội dung thì giáo dục mầm non là một phân hệ của Hệ thống Giáo dục và
Đào tạo Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dỡng chăm sóc giáo dục từ 3
tháng tuổi đến 6 tuổi.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một.
(Luật Giáo dục năm 2005, Điều 21- 22)
Theo cách tiếp cận hệ thống thì Giáo dục mầm non có vị trí là phân hệ
đầu tiên trong Hệ thống giáo dục quốc dân. Phân hệ này có nhiệm vụ thực
hiện sự hài hoà giữa chăm sóc và giáo dục phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý của trẻ mầm non từ 3 tháng đến sáu tuổi.
Sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non đợc
các bậc cha mẹ.
- Có đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non và đội ngũ giáo viên có
đủ trình độ, phẩm chất, năng lực đảm nhận công việc trong lĩnh vực quản lý
và thực hiện chơng trình giáo dục mầm non.
15
- Các điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động chăm sóc-
giáo dục trẻ không ngừng đợc cải thiện theo hớng thiết thực, phù hợp tại chỗ.
Đồng thời phải huy động đợc các nguồn lực từ cộng đồng để đảm bảo các
điều kiện về cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non.
- Những nơi khó khăn, cha có điều kiện, trẻ phải đợc hởng sự chăm
sóc- giáo dục tại gia đình từ các bậc cha mẹ đợc trang bị kiến thức khoa học
về nuôi dạy trẻ. Trong các cơ sở GDMN, trẻ đợc chăm sóc-giáo dục kết hợp
chặt chẽ giữa gia đình - nhà trờng - xã hội.
Các chính sách về giáo dục mầm non nhằm hớng tới khuyến khích
phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập, hớng tới công bằng cho mọi trẻ
em: phân bổ ngân sách nhà nớc, chế độ chính sách cho giáo viên ngoài biên
chế khu vực nông thôn, cơ chế thực hiện chính sách,
Nhiệm vụ của giáo dục mầm non và điều kiện để thực hiện nói trên đặt ra
cho cơ quan quản lý giáo dục mầm non phải có nỗ lực rất lớn để tìm kiếm
các giải pháp quản lý chỉ đạo thích hợp mà xã hội hoá giáo dục mầm non là
một trong những hớng cơ bản nhất đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thành công.
c) Vai trò của giáo dục mầm non
Giáo dục muốn phát triển bền vững thì phải đầu t vào chơng trình
chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần
của chiến lợc cơ bản. Sở dĩ nh vậy, vì cũng nh trớc khi xây dựng toà nhà, ta
cần xây cho nó một cái nền tảng bằng đá vững chắc để có toàn bộ công trình
kiến trúc đó. Trớc khi một em bé vào trờng tiểu học cũng cần cho nó một nền
tảng tơng tự. Chính gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hoá cộng đồng
là những nhân tố tạo nên nền tảng đó. Do đó từ lúc lọt lòng đến lúc lên 6
tuổi, trẻ em cần đợc sự đầu t hỗ trợ phát triển thể chất, tinh thần và hiểu biết
cách mạng và truyền thống "Lấy dân làm gốc" trong quá trình dựng nớc và
giữ nớc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa một cách sáng tạo truyền thống
17
vẻ vang ấy tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi giai đoạn cách mạng. Từ khi nắm
quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, trong mọi chủ trơng của mình
Đảng ta luôn luôn lấy dân làm gốc, coi trọng việc thờng xuyên bồi dỡng sức
dân, đồng thời với việc giác ngộ, huy động và tổ chức lực lợng to lớn của
toàn dân vào việc thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng nhằm đem lại no ấm,
hạnh phúc cho nhân dân làm đờng lối chính trị quan trọng nhất của mình. Đ-
ờng lối dựa vào dân đợc đúc kết trong câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ Tịch:
"Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Trong thực tiễn cách mạng, sự vận động và phát triển của đờng lối này
ngày càng đạt tới trình độ cao hơn cả về lý luận và thực tiễn. Tới Đại hội VIII
thì xuất hiện thuật ngữ "Xã hội hoá". Thuật ngữ "Xã hội hoá" trong bối cảnh
phát triển của nớc ta ở thời kỳ Đổi mới đợc dùng để chỉ "cách" thực hiện chủ
trơng của Đảng bằng con đờng giác ngộ, vận động và tổ chức sự tham gia
tích cực, tự nguyện của mọi lực lợng xã hội, của toàn dân vào sự nghiệp
chung đồng thời cũng tăng cờng trách nhiệm của Đảng và Nhà nớc đối với
mọi mặt của đời sống nhân dân.
b) Xã hội hóa giáo dục
Thuật ngữ Xã hội hoá giáo dục đợc dùng phổ biến ở Việt Nam vào
thập kỷ 90 của thế kỷ trớc. Khái niệm này nội dung vừa đợc tiếp cận từ giáo
dục học và đợc tiếp cận từ chính trị học.
Thứ nhất: Khái niệm chỉ sự tăng cờng chú ý, hởng ứng, quan tâm của
xã hội đóng góp vật chất và tinh thần cho sự nghiệp giáo dục.
Thứ hai: Khái niệm chỉ sứ mệnh của ngành giáo dục, của nhà trờng
làm cho ngời học đợc thích ứng nhanh với đời sống xã hội (xã hội hoá cá
nhân).
Ngời ta thờng biểu đạt xã hội hoá giáo dục bằng công thức có mối liên
hệ tơng tác hai chiều, thông qua tiếng Anh là EFA=AFE
Đó là việc huy động nhân lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trình
chăm sóc giáo dục trẻ thơ (dới 6 tuổi) và đa mục tiêu giáo dục mầm non vào
đời sống cộng đồng để trẻ trong lứa tuổi này Phát triển cơ thể cân đối khoẻ
mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy
giáo, cô giáo và ngời trên, yêu quí anh chị em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn,
hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học
Trong hoàn cảnh nớc ta cha phải mọi trẻ em trong lứa tuổi mầm non
đều đợc ra lớp thì giáo dục mầm non phải phấn đấu giúp các bậc cha mẹ
(Hoặc ngời nuôi dỡng các em) có kiến thức, và thái độ đúng đắn trong việc
nuôi dỡng các em theo mục tiêu mà Luật Giáo dục đề ra.
Công tác xã hội hóa là:
- Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục
và vị trí, vai trò của giáo dục mầm non đối với việc xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực, chính là giai đoạn đầu tiên hết sức quan trọng để tạo ra
nguồn lực con ngời.
- Xây dựng, huy động và tổ chức cộng đồng trách nhiệm của từng ngời
dân, của từng gia đình, tập thể và các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, của
các đoàn thể quần chúng, của các tổ chức kinh tế, xã hội đối với việc phát
triển giáo dục mầm non và đối với việc xây dựng môi trờng giáo dục lành
mạnh ở mọi lúc mọi nơi: môi truờng này trớc hết là sự kết hợp giữa các trờng
mầm non với gia đình để giúp trẻ phát triển, là việc giúp các gia đình có
những kiến thức cần thiết để chăm sóc, nuôi dỡng và giáo dục trẻ ở ngay tại
gia đình.
- Đa dạng hoá các loại hình và hình thức giáo dục mầm non, củng cố
các trờng công lập hiện có và mở rộng các loại, dân lập, t thục. Tuỳ theo
hoàn cảnh của địa phong có thể có nhiều hình thức học tập khác nhau nh: 1
20
buổi, 2 buổi/ ngày, cả ngày và phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ để nuôi
dạy ở nhà nếu có điều kiện.
- Huy động và tổ chức các lực lợng xã hội tham gia trực tiếp hoặc
- Tổ chức việc chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên về mọi mặt, trình
độ, chất lợng chuyên môn, tinh thần và vật chất tôn vinh nghề nghiệp để giáo
viên không ngừng nâng cao chất lợng chăm sóc- giáo dục trẻ đồng thời tạo
ta lực lợng nòng cốt duy trì và phát triển cuộc vận động xã hội hoá giáo dục
mầm non.
- Huy động và tổ chức lực lợng xã hội thực hiện đa dạng hoá nguồn
lực đầu t cho giáo dục mầm non.
- Huy động nguồn nhân lực: làm cho lực lợng lao động xã hội và cá
nhân trong cộng đồng mang sức lực và tài năng của mình tham gia vào mọi
hoạt động của giáo dục mầm non, từ việc tích cực tạo điều kiện đa trẻ đến
lớp, đóng góp xây dựng trờng sở, làm đồ chơi, su tầm tranh ảnh cho nhà tr-
ờng đến việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào vịêc biên soạn chơng
trình tài liệu, phổ biến kiến thức đến các gia đình
+ Huy động vật lực: Nhằm tăng cờng cơ sở vật chất cho trờng, lớp
mầm non. Chẳng hạn, giành đất đai thuận lợi cho việc xây dựng trờng, lớp,
sân chơi, đóng góp ngày công xây dựng, sửa chữa trờng lớp, hỗ trợ các thiết
bị đồ dùng đồ chơi phục vụ cho dạy và học cho nhà trờng.
+ Huy động nguồn tài chính: Đối tợng huy động nguồn tài chính trong
cuộc vận động xã hội hoá giáo dục mầm non bao gồm: Nhà nớc và các cơ
quan chức năng của Nhà nớc (giữ vai trò chủ đạo, nồng cốt), các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các đoàn thể và hội quần
chúng, các gia đình và cá nhân đóng góp trên cơ sở tự nguyện, công khai, dân
chủ. Để thực hiện chủ trơng này, cần khắc phục 2 khuynh hớng, Một là - ỷ
lại, chỉ trông chờ vào ngân sách của nhà nớc mà không chịu đóng góp; hai là
- kêu gọi nhân dân và mọi lực lợng đóng góp, lạm thu quá khả năng của ngời
dân.
22
- Tăng cờng nguồn thông tin: Đảm bảo dân chủ trong các hoạt động;
công khai trong các khâu thu và chi Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra dới sự quản lý thống nhất của Nhà nớc.
Ngời còn dạy: Mẫu giáo tốt là mở đầu một nền giáo dục tốt.
Ngay trong những ngày chiến tranh ác liệt chống đế quốc Mỹ, Chính
phủ đã đề ra Nghị quyết số 140/CP ngày 15/7/1971 nói về tầm quan trọng
của công tác giáo dục trẻ thơ. Nghị quyết này nhấn mạnh Việc nuôi nấng và
dạy dỗ trẻ em trong thời kỳ trứng nớc có tác dụng quyết định khá lớn đối với
sự hình thành và phát triển thế hệ tơng lai của dân tộc và có ý nghĩa rất sâu
sắc đối với tiền đồ đất nớc ta.
Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã có lời nói đầy tâm huyết ngày
7/9/1973:
Nếu hiện nay ta cha có Chủ nghĩa xã hội cho khắp mọi ngời thì làm
sao hãy có Chủ nghĩa xã hội cho trẻ em - Phải nh vậy mới đúng. Đây là ý lớn
của Bác Hồ, của Bộ Chính trị, của Nhà nớc ta.
Bớc vào thời kỳ đất nớc thống nhất, cả nớc đi lên Chủ nghĩa xã hội, Bộ
Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết về cải cách giáo dục
(NQ14) đã có sự khẳng định: Càng làm tốt công tác giáo dục mầm non thì
càng có điều kiện thuận lợi để tạo sự đồng thuận, để đạt chất lợng cao trong
việc giáo dục phổ thông và mở rộng sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Bớc vào thời kỳ đổi mới, giáo dục mầm non tiếp tục đợc khẳng định là
một công việc quan trọng của sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo.
Hội nghị TW2 của Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII
định hớng cho chiến lợc giáo dục và đào tạo với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc đã ghi rõ: Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển giáo dục
24
mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ
cho các gia đình.
Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX đã cụ
thể hoá thành các chỉ tiêu cho phát triển giáo dục mầm non đến năm 2010:
Mở rộng hệ thống trờng lớp giáo dục mầm non trên mọi địa bàn dân c, đặc
biệt ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, nông thôn. Tăng tỷ lệ trẻ trớc 3 tuổi đi
nhà trẻ 12% năm 2000 lên 15% vào năm 2005 và 18% vào năm 2010; trẻ từ