Phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non trên địa bàn quận Nam Từ Liêm Hà Nội - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các
đồng chí cán bộ quản lý, thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
II đã giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo và tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Đào
Lan Hương, người thầy tâm huyết đã tận tình giúp đỡ tôi từ những bước đi
đầu tiên xây dựng ý tưởng nghiên cứu, cũng như luôn hướng dẫn, động viên
và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện Luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục
và Đào tạo quận Nam Từ Liêm và các đồng chí hiệu trưởng, giáo viên trong
Quận, đã cung cấp các số liệu quí báu, động viên và tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi trong quá trình viết luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học Viên

Đỗ Thị Thanh Tâm

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi xin cam đoan rằng
mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông
tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Học viên


GD&ĐT
GVMN
GV
QLGD

Chữ viết dầy đủ
Cán bộ quản lý
Chăm sóc giáo dục
Đội ngũ giáo viên
Kinh tế xã hội
Giáo dục
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên mầm non
Giáo viên
Quản lý giáo dục


DANH MỤC CÁC BẢNG

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI được 15 năm với bao biến cố
thăng trầm xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cách mạng khoa
học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão tạo ra một nền văn minh hậu
công nghiệp. Đây là thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của toàn cầu hoá và
hội nhập, thời đại của nền kinh tế tri thức…
Trong bối cảnh đó, đất nước ta đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới

hội cũng như tâm lý giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số: 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày
22 tháng 1 năm 2008 ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp GVMN.
Chuẩn nghề nghiệp GVMN vừa là căn cứ để các cấp quản lí phát triển đội ngũ
GVMN trong giai đoạn mới, vừa giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề
nghiệp của mình, từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng
cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân.
1.2. Quận Nam Từ Liêm trước đây là huyện Từ Liêm cũ là một vùng
ven đô, có gần một nghìn năm gắn bó với sự phát triển thăng trầm của Thăng
Long - Đông Đô - Hà Nội, có truyền thống hiếu học, có nhiều học sinh giỏi
đạt giải Quốc gia và Quốc tế. Song thực tế đội ngũ giáo viên của Quận vẫn
còn nhiều bất cập, nhất là đội ngũ GV các trường MN. Hiện nay, vẫn còn
nhiều GV có năng lực, nghiệp vụ kỹ năng sư phạm hạn chế, khả năng tiếp cận
với đổi mới còn chậm, một số GV có tuổi đời cao, một số GV khó thay đổi
trong nếp nghĩ, cách làm nên hiệu quả công việc chưa cao. Công tác quản lý
và phát triển đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp còn mang tính hình
thức, chưa có chiến lược cụ thể và chưa xác định đầy đủ nội dung của công
việc này... Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn
nghề nghiệp thiếu tính hệ thống, đồng bộ… Những điều này đã làm hạn chế
7


chất lượng và hiệu quả giáo viên mầm non nói riêng và giáo dục nói chung ở
địa phương.
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát
triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non trên địa bàn quận Nam Từ
Liêm - Hà Nội” để nghiên cứu với mong muốn tìm ra biện pháp nhằm thúc
đẩy phát triển đội ngũ giáo viên trong tương lai.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp

non của hiệu trưởng trường mầm non.
- Chất lượng đội ngũ được xem xét theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên
mầm non.
6.2. Địa bàn nghiên cứu
- Trên địa bàn Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội có nhiều loại hình cơ sở
giáo dục mầm non như trường mầm non công lập, trường mầm non ngoài
công lập, nhóm lớp mầm non ngoài công lập, nhóm trẻ gia đình. Đề tài này sẽ
nghiên cứu trên 11 trường mầm non công lập.
6.3. Đối tượng khảo sát
Đề tài được nghiên cứu trên:
+ 16 CBQL gồm hiệu trưởng, hiệu phó, tổ trưởng chuyên môn cán bộ quản
lý và chuyên viên phụ trách MN của Phòng GD - ĐT Quận Nam Từ Liêm.
+ 110 giáo viên của 11 trường MN trong Quận.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu lý luận,
các văn bản có tính pháp quy về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
9


- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
7.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:

Theo Bernd Meier: “Người giáo viên cần phải có các năng lực nòng cốt
như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực
đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp...” [32].
Nhìn tổng quát có thể thấy chức năng của giáo viên ngày nay đã được
mở rộng hơn trước, cả về năng lực tổ chức dạy học, năng lực phát triển
11


chương trình cũng như phạm vi các mối quan hệ xã hội.
Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực của một ngành,
một lĩnh vực.
Những năm cuối của thập niên 60 của thế kỷ 20, các khái niệm “Nguồn
vốn con người”, “Nguồn lực con người” xuất hiện ở Hoa Kỳ, sau đó thịnh
hành ở các nước khác trên thế giới. Vào những năm 70, 80 với sự phát triển
tiếp nối của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải thưởng Nobel kinh tế Gary
Backer, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên cũng được ông giải quyết với tư
cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Tuy nhiên nội
dung và cách thức giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ
thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và mỗi giai đoạn lịch sử.
Christian Batal trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực
nhà nước” đã đưa ra một lý thuyết tổng thể về phát triển nguồn nhân lực. Ông
cho rằng, bức tranh của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu
kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu quả của nguồn nhân lực.
Paul Hersey và Ken Blanc Harsey trong cuốn sách “Quản lý nguồn nhân
lực” đề cập đến cách tiếp cận ứng dụng các khoa học về hành vi, xem đó là
những công cụ quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của
các hoạt động. Công trình này cung cấp một cách khá toàn diện và đầy đủ
thông tin về quản lý nguồn lực trên cơ sở trình bầy một cách bao quát và
chuyên sâu những nội dung cơ bản của quản lý phát triển nguồn nhân lực, đi
từ khoa học hành vi đến các phương pháp lãnh đạo cụ thể như lãnh đạo theo

các kỹ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên
gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra các quyết
sách giáo dục ở mọi cấp độ. (3) Phát triển chu kỳ nghề nghiệp gồm 5 cấp độ:
Khởi động nghề nghiệp; ổn định gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối
quan tâm mới; trở nên chuyên nghiệp; chuẩn bị nghỉ hưu.
13


Trong nghiên cứu về “Quá trình cải cách giáo dục ở Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa thời kỳ 1978 - 2003” đặc biệt nhấn mạnh: Muốn phục hưng dân
tộc phải dựa vào giáo dục mà muốn phục hưng giáo dục phải dựa vào đội ngũ
giáo viên. Quan tâm và chú ý đến đội ngũ giáo viên là một quan điểm hoàn
toàn đúng đắn và phù hợp, bởi chính giáo viên là những người chịu trách
nhiệm trực tiếp về sự thành bại của công tác giáo dục. Vì thế những người
làm công tác quản lý giáo dục ý thức rất rõ vai trò của giáo viên. Vì vậy,
Trung quốc những năm qua rất chú ý ưu tiên xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ
giáo viên đề ra những chính sách động viên toàn diện khả năng của đội ngũ
này bởi họ chính là nhân tố trực tiếp tác động đến sự thành bại của sự nghiệp
cải cách giáo dục.
Nhìn chung các nước trên thế giới xem đội ngũ giáo viên là một trong
năm điều kiện cơ bản để phát triển giáo dục. Đó là: Môi trường kinh tế của
giáo dục; chính sách và các công cụ thể chế hóa giáo dục; cơ sở vật chất - kỹ
thuật và tài chính cho giáo dục; đội ngũ giáo viên và người học; nghiên cứu
giáo dục, lý luận giáo dục và thông tin giáo dục.
Kinh nghiệm một số nước về bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên
Trong vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên thì bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên được các nước đặc biệt quan tâm. Năm 1998, tại Hội nghị UNESCO tổ
chức tại Nepal về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định “Bồi dưỡng và
phát triển đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Các trường sư phạm ở Úc, New Zealand, Canada,... đã thành lập các cơ

ngừng của người GV [31. 2011].
Phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp
Cải cách giáo dục, cải cách quản lý giáo dục của các nước trên thế giới,
đặc biệt ở các nước phát triển đang diễn ra có khuynh hướng chuấn hóa, hoặc
dựa vào chuẩn. Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ chuẩn cho giáo dục ở
15


nước mình: Chuẩn chất lượng giáo dục; chuẩn nhà trường; chuẩn cán bộ quản
lý giáo dục; chuẩn giáo viên. Trong bộ chuẩn cho giáo viên có chuẩn trình độ
đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp...Trong chuẩn nghề nghiệp một
số nước đã tiến hành xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên từng ngành
học, cấp học, môn học.
Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng chuẩn. Ủy ban quốc gia
chuẩn nghề dạy học được thành lập năm 1987, đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để
các bang vận dụng: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học; (2)
Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ
với các môn học khác; (3) Giáo viên phải có trách nhiệm với giảng dạy, quản
lý, kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; (4) Giáo viên phải thường xuyên
suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; (5) Giáo viên phải là
thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp,
hợp tác với cha mẹ học sinh. Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang của Hoa
Kỳ xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên ở bang mình.
Úc xây dựng khung quốc gia về chuẩn nghề dạy học, có 4 lĩnh vực: (1)
Kiến thức nghề nghiệp; (2) Thực hành nghề nghiệp; (3) Giá trị nghề nghiệp;
(4) Quan hệ nghề nghiệp.
Anh xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên có 3 lĩnh vực có liên quan
đến nhau đó là: Đặc trưng nghề nghiệp; kiến thức và sự am hiểu nghề; kỹ
năng nghề nghiệp, mỗi lĩnh vực có các tiêu chuẩn. Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên:

mức độ yêu cầu khác nhau. Những yêu cầu này xuất phát từ thực tiễn nhằm nâng
cao chất lượng dạy học và là yêu cầu phấn đấu không ngừng của giáo viên.
Nhìn chung chuẩn nghề nghiệp đều đòi hỏi năng lực, phương pháp giáo
dục, đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên.

17


1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên, gần đây đã có nhiều luận
văn, luận án đề cập đến. Luận án “Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên
THCS trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” của Lê Khánh
Tuấn đã nghiên cứu và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên
THCS ở Thừa Thiên Huế. Luận án “Phát triển đội ngũ giáo viên tin học theo
quan điểm chuẩn hóa, xã hội hóa” của tác giả Vũ Đình Chuẩn cũng đã nghiên
cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng
chuẩn hóa... Ngoài ra trong thời gian qua cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết, hội thảo về giáo dục nói chung và xây dựng phát triển đội ngũ
giáo viên các cấp học từ mầm non đến đại học diễn ra trên một số tỉnh, thành
phố trong cả nước, điều đó nói lên sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đến
vấn đề này.
Khi đề cập đến vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, thời gian qua,
Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu đã đề cập đến 3 cách tiếp cận trong
nghiên cứu và phát triển đội ngũ giáo viên hiện nay: Thứ nhất, tiếp cận quản
lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Christan Batal. Thứ hai, tiếp
cận theo phương pháp quản lý, gồm: phương pháp giáo dục, vận động, tuyên
truyền, phương pháp hành chính, kinh tế. Thứ ba, tiếp cận theo nội dung phát
triển đội ngũ giáo viên. Từ đó các tác giả khẳng định việc lựa chọn cách tiếp
cận nào là do ý thức lý luận và kết quả phân tích thực tiễn giáo dục của nhà
nghiên cứu hay nhà quản lý quyết định.

dục” vì đây là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu soi lại định mức và là thước
đo để đánh giá trình độ, tay nghề cũng như quá trình công tác của giáo viên.
Năm 2007, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo
viên tiểu học theo quyết định số 14/2007/QĐ-BGD&ĐT. Năm 2008, Bộ Giáo
dục - Đào tạo ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non theo Quyết
19


định số 02/2008/QĐ/ - BGD&ĐT. Năm 2009 Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành
chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên THPT theo Thông tư số
30/2009/TT-BGD&ĐT.
Việc đánh giá giáo viên cuối năm, ngoài những quy định đánh giá, xếp
loại về công chức nói chung, giáo viên cũng phải được đánh giá theo chuẩn
nghề nghiệp. Tuy nhiên việc đánh giá xếp loại này cần phải được nghiên cứu
trong thực tiễn.
Nghiên cứu về giáo dục mầm non và quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
mầm non
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
nói chung, giáo viên mầm non nói riêng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng
và Nhà nước rất quan tâm. Chủ tịch Hồ chí Minh đã chỉ ra rằng: “Giáo dục
nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và
nhân dân, do đó các ngành, các cấp, Đảng, chính quyền địa phương phải
thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt,
đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới. Cán bộ và giáo
viên phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự mãn cho là
giỏi rồi thì dừng lại” [3].
Để làm tốt công tác quản lý các nhà trường, đã có nhiều công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập
đến thực tiễn quản lý ở các nhà trường nhằm tìm ra các biện pháp quản lý có
hiệu quả nhất. Có rất nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến vấn đề hoạt động

những biện pháp chung trong nhà trường phổ thông. Có một số tác giả đề cập
đến chất lượng CSGD trẻ ở bậc MN nhưng chỉ nghiên cứu đổi mới nội dung
và phương pháp GDMN, các biện pháp quản lý chuyên môn mà chưa đề cập
tới công tác phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Những năm gần đây, đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là GVMN đã được các
21


cấp các ngành quan tâm nhiều hơn, do đó đã có một số công trình nghiên cứu
về công tác quản lý trong trường MN nói chung và bồi dưỡng phát triển đội
ngũ GVMN nói riêng của hiệu trưởng các trường MN. Bậc học MN ở Hà Nội
có một số công trình nghiên cứu như sau:
- Doãn Thanh Phương “Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên
môn của hiệu trưởng các trường mầm non quận Cầu Giấy - Hà Nội”, 2006
- Nguyễn Thị Thuỷ “Hoàn thiện biện pháp quản lý chuyên môn của
hiệu trưởng các trường mầm non quận Cầu Giấy - Hà Nội”, 2007
- Nguyễn Thị Thanh Thuý “Biện pháp quản lý việc sử dụng phương
tiện dạy học của hiệu trưởng các trường mẫu giáo quận Hai Bà Trưng - Hà
Nội”, năm 2007
- Đào Ngọc Oanh “Các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non quận Cầu
Giấy -Hà Nội”, năm 2007
- Triệu Thị Bích Liên “Biện pháp quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng
của hiệu trưởng các trường mầm non quận Hai Bà Trưng - Hà Nội”, năm 2007
Tuy nhiên các công trình trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên
quan đến hoạt động của hiệu trưởng trường MN, một số biện pháp giúp họ
nâng cao khả năng quản lý nhà trường, kỹ năng nghiệp vụ quản lý của hiệu
trưởng trường MN trong công tác quản lý cơ sở vật chất, công tác chăm sóc
nuôi dưỡng, bồi dưỡng hoạt động chuyên môn cho đội ngũ GV. Phạm vi và
mức độ thực hiện các biện pháp xây dựng đội ngũ GV của hiệu trưởng còn

1.2.1. Giáo viên, đội ngũ, đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên mầm non
1.2.1.1. Khái niệm “Giáo viên”
Theo từ điển Giáo dục học thì “Giáo viên” được định nghĩa là “Chức
danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường
nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung
23


cấp, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo” [24.169].
Luật giáo dục (2005) quy định tại điều 70: “Nhà giáo là người làm
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, trong các cơ sở giáo dục
khác”.
Có thể nói những nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về giáo viên được
định nghĩa khác nhau song đều có sự thống nhất cơ bản: Giáo viên là người
làm nhiệm vụ giảng dạy trong nhà trường phổ thông, trường mầm non
nhằm thực hiện mục tiêu GD là xây dựng nhân cách người học đáp ứng
yêu cầu phát triển của xã hội.
1.2.1.2. Khái niệm “Đội ngũ”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ gồm một số đông người cùng chức
năng hoặc cùng nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng” [25.33].
Như vậy, khái niệm đội ngũ được hiểu: Đó là một nhóm người, một tổ
chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục đích chung. Do đó,
người quản lý phải xây dựng, gắn kết các thành viên để tạo ra đội ngũ, trong
đó mỗi người có thể có phong cách riêng, song khi gắn kết thành một khối thì
mỗi cá nhân phải có sự thống nhất cao về mục tiêu cần đạt tới.
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng
rãi: Đội ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giáo viên. Tuy
nhiên, ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số
đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức
năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích

Giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập (Điều 34 - Điều
lệ trường mầm non - 2008).
Trong cuốn “Tài liệu sổ tay bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu
kỳ 2004 - 2007” (Do Vụ Giáo dục mầm non phát hành 2005), đã viết: “Là
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status