MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo (GD&ĐT) đội ngũ giáo viên
(ĐNGV) đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này được khẳng định rất rõ
trong Điều 14, Luật giáo dục: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm
bảo chất lượng giáo dục” [tr13]. Chất lượng ĐNGV phản ánh trực tiếp chất
lượng của giáo dục. Có thể nói rằng đội ngũ nhà giáo là lực lượng quyết định
đến sự thành công của ngành giáo dục, do đó, chiến lược phát triển GD 2001 -
2010 của Bộ GD&ĐT đã chú trọng: “Phát triển đội ngũ nhà giáo một trong
những nhiệm vụ hết sức cấp thiết của ngành giáo dục - đào tạo nói chung và
của từng cấp học, bậc học nói riêng. Trong đó ĐNGV mầm non có vị trí đặc
biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân; ĐNGV mầm non có nhiệm
vụ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 - 72 tháng tuổi, tạo
tiền đề vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Mặt
khác, việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non (GDMN) là trách nhiệm
chung của các cấp chính quyền, của toàn dân và xã hội. Lứa tuổi mầm non có
vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con
người. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm vận
động, tâm lý xã hội đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai
đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát
triển trí tuệ trong tương lai. Những kết quả nghiên cứu về sự phát triển đặc
biệt của não bộ trong những năm đầu tiên của cuộc đời, những nghiên cứu về
ảnh hưởng và ích lợi của các dịch vụ GDMN có chất lượng đã khiến các
Chính phủ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam ngày
càng quan tâm phát triển GDMN.
Không có mô hình chung cho GDMN ở tất cả các nước. Tuy nhiên, vai
trò của giáo dục ngày càng được coi trọng đối với mọi quốc gia. Đến nay có 160
nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là một mục tiêu quan trọng
của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng
1
của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do
góp phần nâng cao chất lượng, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục.
1.2.Tuy nhiên mức độ phát triển nói trên của GDMN vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu nuôi dạy trẻ và và những đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển
của đất nước. Những yếu kém về quy mô, mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý, cơ chế chính sách xã hội.
Thực hiện định hướng và mục tiêu phát triển xã hội ở các cấp học và
các loại hình giáo dục theo Quyết định số 20/2005/QĐ.BGD-ĐT của Bộ GD-
ĐT ngày 24 tháng 6 năm 2005 phê duyệt đề án quy hoạch phát triển xã hội
hoá giáo dục giai đoạn 2005 -2010: Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo
dục mầm non dân lập, ngoài công lập ở thành phố. Tiến đến đưa 70% -80%
tỷ lệ trẻ mầm non học ở các cơ sở bán công lập. Trong bối cảnh trường công
lập không không đủ để đáp ứng chỗ học cho trẻ, nhà nước khuyến khích phát
triển xã hội hoá giáo dục mầm non.
Sơn La là một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn.Chỉ số HDI đứng thứ
57/63 tỉnh thành trong cả nước. Một trong những nguyên nhân đó là chất lượng
giáo dục thấp. Đặc biệt GDMN ở Sơn La phát triển rất chậm. Nhằm nâng cao
khả năng đáp ứng nhu cầu nuôi dạy trẻ trên cơ sở đa dạng hoỏ cỏc loại hình
giáo dục mầm non, phát triển thêm loại hình trường lớp ngoài công lập ở thành
phố, thị xó, vựng kinh tế phát triển. Để giảm tải học sinh đối với hệ thống các
trường mầm non công lập, đáp ứng được nhu cầu của xã hội ngày càng phát
triển. Được sự ủng hộ, quan tâm của một số tập thể, cá nhân điển hình với tâm
huyết và trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục mầm non của tỉnh nhà đã xây
dựng một số trường mầm non ngoài công lập có chất lượng hoạt động theo quy
định của Bộ GD& ĐT. Mặt khác, các trường ngoài công lập có thế mạnh là
được quyền tuyển chọn đội ngũ giáo viên và học sinh theo nhu cầu. Do đó có
việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non, đồng thời nắm bắt những thuận lợi
khó khăn của đơn vị để tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học có
3
hiệu quả. Đú luụn là một vấn đề cần thiết và được nhiều người trong xã hội
Nếu các biện pháp đề xuất phù hợp, khắc phục được những bất cập
của thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non ở các trường mầm non ngoài công
lập thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non ngoài
công lập ở tỉnh Sơn La.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm
non nói chung và giáo viên mầm non ngoài công lập nói riêng.
5.2. Đánh giá thực trạng biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của các trường
mầm non ngoài công lập ở tỉnh Sơn La.
5.3. Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm
non ngoài công lập ở tỉnh Sơn La và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả
thi của các biện pháp đã đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn lĩnh vực khoa học: Phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non ngoài
công lập ở tỉnh Sơn La.
- Địa điểm nghiên cứu: Các trường mầm non ngoài công lập trên địa
bàn tỉnh Sơn La.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhúm các phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu Luật giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về
định hướng phát triển đa dạng hoỏ cỏc loại hình giáo dục và công tác xã hội
hoá giáo dục.
- Nghiờn cứu các văn bản pháp quy của Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Sơn
La, Sở GD & ĐT Sơn La, phòng GD và ĐT các huyện thị.
- Nghiên cứu tài liệu giáo dục mầm non, tài liệu quản lý, báo cáo khoa
học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhúm cỏc phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
5
7.2.1. Phương pháp chuyên gia.
Ngoài ra, trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về
chuyên ngành Quản lý giáo dục, trong đó có những đề tài nghiên cứu về đội
ngũ giáo viên: Năm 2003 Tác giả Nguyễn Thị Phương Hạnh nghiên cứu đề
7
tài “ Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trường
CĐSP Sơn La trong giai đoạn mới”. Năm 2006, tác giả Trần Quốc Bìnhcũng
nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiểu
học tỉnh Sơn La đến năm 2015”. Năm 2006 Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân
nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở
cỏc xó đặc biệt khó khăn tỉnh Sơn La”.
Có thể thấy, ở nhiều cơ sở giáo dục trong địa bàn tỉnh đó có những tác giả
của các luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD đề cập đến công tác phát triển đội
ngũ giáo viên trong các trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học, trung học
chuyên nghiệp. Song các đề tài khoa học của các tác giả nói trên đều mang tính
đặc thù ở từng địa phương, từng bậc học cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển của sự nghiệp giáo dục. Riêng ở tỉnh Sơn La cho đến nay theo những tài
liệu mà tác giả bao quát được vẫn chưa có tác giả nào đề cập đến công tác phát
triển đội ngũ GVMN ngoài công lập một cách đầy đủ và có hệ thống.
Các cấp quản lý giáo dục tỉnh Sơn La đã thấm nhuần Nghị quyết Trung
ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về tiếp tục đổi
mới công tác cán bộ, Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX, Nghị quyết 11 của
Bộ Chính trị khóa IX, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La, kế hoạch số 79-
KH/TU ngày 11-8-2004 của tỉnh uỷ Sơn La thực hiện chỉ thị 40-CT/TW của
Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.Tuy nhiên, việc tìm hiểu, phân tích đánh
giá và xây dựng các biện pháp cho việc phát triển đội ngũ giáo viên chưa
được nghiên cứu với tư cách như một đề tài khoa học. Các đánh giá chủ yếu
dựa trên thực tiễn và kinh nghiệm, chưa được xây dựng hoàn chỉnh trên cơ sở
lý luận khoa học nên hiệu quả chưa cao. Do vậy, trong luận văn này tác giả
mong muốn sẽ đưa ra một số giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của
cho nên có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một
số quan niệm chủ yếu.
9
Quan niệm của các tác giả nước ngoài về quản lý.
Theo Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta,
sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu
của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc
đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cỏ nhõn” [1 ; 27].
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý
là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo
mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít
nhất đạt được kết quả cao nhất” [17 ; 33].
Frederch Wiliam Taylor (Mỹ), Henry Fayol (Pháp), Max Webber
(Đức) khẳng định: Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc
đẩy sự phát triển xã hội.
Quan niệm của các tác giả trong nước về quản lý
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua
lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con
đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của
các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu
nhất định của tập thể và xã hội” [22; 55]
Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chỳng cú
chung những nét đặc trưng cơ bản chủ yếu sau đây:
• Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm
xã hội.
• Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích.
• Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá
nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Trong các khái niệm trên, tác giả nhận thấy khái niệm quản lý của
Nguyễn Ngọc Quang ngắn gọn, rõ ràng và đầy đủ nhất. Khái niệm này định
Phương pháp
Quản lý
Khách thể
Quản lý
Mục tiêu
Quản lý
Môi trường
quản lý
Lê nin - người thầy của cách mạng vô sản đã từng nói: "Hãy cho tác giả
một tổ chức những người cách mạng, tác giả sẽ đảo lộn cả nước Nga". Câu
nói bất hủ đó của Người chúng ta đã hiểu rõ tổ chức và vai trò tổ chức trong
bất kỳ một hệ thống chính trị nào.
Chức năng thứ ba: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch
để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra.
Chức năng thứ tư: Hoạt động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra, giám sát,
theo dõi, phát hiện, xử lý tình huống và kết quả hoạt động kiểm tra cũng là
một quá trình tự điều khiển.
Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình
quản lý. Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý cũn cú
thờm 2 vấn đề quan trọng là: thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Thông tin quản lý: là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xử lý
giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng quản lý mà họ đang quan tâm để
phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản lý cần thiết trong quá trình quản lý. Do
đó thông tin quản lý không những là tiền đề của quản lý mà còn là huyết mạch quan
trọng để duy trì, nuôi dưỡng quá trình quản lý. Thông tin quản lý là cơ sở để người
quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả.
Quyết định quản lý là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực
hiện các chức năng quản lý.
Các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
- Tổ hợp những tác động có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch của
chủ thể quản lý đến chủ thể bị quản lý trong các cơ sở giáo dục.
- Duy trì, điều chỉnh sự vận hành của hệ thống giáo dục hướng đến các
mục tiêu giáo dục đã xác định.
- Quản lý giáo dục với mục tiêu là đào tạo, rèn luyện nhân cách của thế
hệ trẻ - người công dân mẫu mực, phải bám sát mục tiêu, nguyên lý, phương
châm giáo dục của Đảng.
13
Theo nghĩa đó, quản lý giáo dục là tập hợp các tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau trong hệ
thống lờn cỏc đối tượng quản lý trực thuộc, thông qua việc thực hiện các chức
năng quản lý và việc sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội nhằm làm cho hệ
thống giáo dục vận hành, đảm bảo được các tính chất và nguyên lý của nền
giáo dục Việt Nam, đạt được mục tiêu giáo dục.
1.1.2.2 Quản lý nhà trường
1.1.2.1 Quản lý nhà trường
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội,
là nơi trực tiếp làm công tác GD-ĐT thế hệ trẻ. Theo Phạm Minh Hạc: Quản
lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách
nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới
mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD-ĐT, đối với thế hệ trẻ
và với từng học sinh.[16,23]
Các nhà trường hoạt động theo Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường do
Bộ trưởng Bộ giáo dục ban hành.
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động bên trong nhà
trường và phối hợp quản lý giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục xã hội,
trong đó cốt lõi là quản lý quá trình dạy học và giáo dục. Quản lý nhà trường vừa
mang tính Nhà nước vừa mang tính xã hội. Cho nên quản lý nhà trường phải biết
phối hợp với các lực lượng xã hội để cùng thực hiện mục tiêu GD-ĐT.
Để hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu
quản lý của Bộ Giáo dục và Khoa học. Chỉ đến những năm 90, kiểu trường
mầm non ngoài công lập mới được hình thành, nhưng học phí không được thu
cao. Theo qui định, học phí của cha mẹ phải trả không quá 3% tổng thu nhập
của cha mẹ trẻ. Những qui định của Uỷ ban mới về GDMN là: Trường mầm
non là trường tự nguyện, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền, thời gian
học 3 tiếng một ngày. Trường mầm non do chính quyền địa phương quản lý.
15
- Chính sách chăm sóc - giáo dục mầm non của các nước Indonexia,
Thái Lan, Philipin.
Luật hệ thống giáo dục quốc gia Indonexia đã công nhận GDMN là giai
đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục của Thái Lan nhấn
mạnh: Gia đình và chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN
nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Chính phủ Philipin
khuyến khích các chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thông qua việc
thành lập mối liên hệ giữa cơ quan chính phủ và địa phương như Sở Giáo dục,
Sở Y tế và Sở Phúc lợi xã hội. Các nước này, GDMN đều được tổ chức cả ở
hệ chính qui và không chính qui, đa dạng các cơ sở dịch vụ. Các cơ sở này
được sự quản lý, hỗ trợ từ các Bộ: Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Phúc lợi xã hội.
Túm lại, chính sách phát triển GDMN ở một số nước phát triển và đang
phát triển cho thấy có những quan điểm chỉ đạo phát triển GDMN chung là: Nhà
nước đầu tư cho GDMN, cụ thể là đầu tư trên đầu trẻ trong các trường mầm non,
không phân biệt loại hình. Song đầu tư của nhà nước, kết hợp các nguồn khác
(từ tổ chức phi chính phủ) tập trung cho vựng nghốo, vựng khó khăn để rút ngắn
khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo sự công bằng cho mọi trẻ em.
Những quan điểm phát triển GDMN xu thế của các nước trên thế giới tạo
ra một môi trường vừa thuận lợi, vừa đòi hỏi GDMN nước ta phải có những
bước phát triển mang tính đặc thù.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục mầm non ở
đây trước hết là chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục
mầm non: Phát triển giáo dục mầm non là chính sách nhất quán của Đảng và
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề
của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu
quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp
ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
17
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg
ngày 23/6/2006 về việc phê duyệt Đề án “Phỏt triển giáo dục mầm non giai
đoạn 2006-2015”, trong đó có nhiệm vụ “xõy dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mầm non” để đáp ứng mục tiêu “Đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, phấn đấu để
có 80% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% năm 2015,
trong đó có 8% đạt trình độ trên chuẩn năm 2010 và 15% năm 2015” .
Tuy nhiên, đến nay việc mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo
trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn theo
Chiến lược Phát triển giáo dục, chưa có đủ nguồn lực để thực hiện, phần lớn trẻ
em dưới 3 tuổi chưa được đến trường mầm non; đội ngũ cán bộ giáo viên mầm
non đang thiếu và yếu đặt ra cho GDMN những thách thức lớn trong thời gian
tới cần phải giải quyết.
Vị trí của giáo dục mầm non được qui định trong điều 4 Luật Giáo dục
năm 2005: “Cỏc cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm: Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giỏo” và là bậc học đầu tiên
của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non là sự thể hiện sinh động
nguyên tắc: Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Với cách làm sáng tạo,
phù hợp với đặc điểm kinh tế-xã hội và quan điểm của Đảng và Nhà nước, tới
nay GDMN đã tạo được niềm tin trong nhân dân và đã đóng góp không nhỏ
vào sự nghiệp giáo dục chung. Vì thế, vị trí của GDMN ngày càng được
khẳng định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục cơ bản và phát triển chiến
lược con người lâu dài.
Vai trò của Giáo dục mầm non và ý nghĩa giáo dục của nó là: Tổ chức
đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào lớp một
cũng như đặt nền móng cho quá trình học tập suốt đời.
Tổ chức Liên hiệp quốc đã khẳng định: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày
mai”. Thông điệp này đã nhắc nhở chúng ta thấm nhuần quan điểm đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển. Cùng quan điểm trờn, Bỏc Hồ đã chỉ rõ:
19
“Vỡ lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người”. Như vậy giáo dục mầm non có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đạt
được mục tiêu cơ bản và phát triển chiến lược con người lâu dài của đất nước.
Quá trình quản lý chỉ đạo của ngành cũng chính là quá trình thực hiện
thống nhất và có hiệu quả các nhiệm vụ nêu trên.
Giáo dục MN đòi hỏi GV, CBQL trường MN phải là người am hiểu sâu
sắc về khoa học nuôi, dạy trẻ và đặc biệt phải hết sức yêu nghề, mến trẻ.
Thứ hai, GDMN là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
nhưng cho đến nay nó vần chưa mang tính chất bắt buộc đối với mọi trẻ em.
Nhiều trẻ em trong độ tuổi vẫn chưa đến trường. Nhiều loại hình chăm sóc
giáo dục trẻ em cùng song song tồn tại. Hơn nữa, sự tồn tại và phát triển của
ngành chủ yếu dựa vào sự đóng góp và hỗ trợ của cộng đồng. Vì thế, công tác
quản lý GDMN là phải làm sao để mọi người trong xã hội hiểu rõ trách nhiệm
của mình là phải quan tâm đến việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Do đó, người
CBQL GDMN phải là người năng động, linh hoạt để tuyên truyền, cuốn hút
mọi lực lượng xã hội tham gia vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Thứ ba, đội ngũ CBQL, GV của bậc học MN hầu hết là nữ. Đó là một nét
riêng biệt khác hẳn với các ngành học, bậc học khác. Thực tế các trường MN
cho thấy việc quản lý một tập thể toàn nữ rất khó khăn, phức tạp. Bởi vì phụ
nữ có những điểm khác biệt với nam giới. Phụ nữ thường cẩn thận, tỉ mỉ,
thích nhẹ nhàng tình cảm, dễ xúc động nhưng cũng hay đố kỵ, tự ti Do đó,
tuy nữ giới có nhiều mặt tốt, song cũng cũn cú những mặt hạn chế. Điều đó
đòi hỏi người CBQL phải hết sức khéo léo, tế nhị, am hiểu tâm lý phụ nữ
nhưng phải quyết đoán để có những quyết định đúng đắn, kịp thời nhằm phát
khăn; Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng;
Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em
21
theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về
quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để
thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự
nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội; Có trách nhiệm báo cáo định kỳ và
đột xuất theo quy định và yêu cầu của các cơ quan có liên quan; Thực hiện
các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Hội đồng quản trị: Nhà trường, nhà trẻ ngoài công lập có từ hai thành
viên góp vốn trở lên phải có Hội đồng quản trị; Hội đồng quản trị là tổ chức
đại diện duy nhất quyền sở hữu của nhà trường, nhà trẻ ngoài công lập, có
quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch
phát triển, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, bảo đảm thực hiện mục tiêu
giáo dục, phù hợp với quy định của pháp luật; Cơ cấu tổ chức, nội quy hoạt
động và thủ tục thành lập hội đồng quản trị.
Chủ tịch Hội đồng quản trị: Chủ tịch Hội đồng quản trị do Hội đồng
quản trị bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị bằng hình thức bỏ phiếu
kín và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận theo
đề nghị của phòng giáo dục và đào tạo. Nhiệm kỳ đầu của Chủ tịch Hội đồng
quản trị là 3 năm, những nhiệm kỳ tiếp theo là 5 năm. Chủ tịch Hội đồng quản
trị phải có phẩm chất, đạo đức tốt, có bằng trung cấp chuyên nghiệp trở lên,
có đủ sức khoẻ, khi được đề cử không quá 65 tuổi, có chứng chỉ bồi dưỡng
chuyên môn giáo dục mầm non ít nhất là 30 ngày hoặc chứng chỉ bồi dưỡng
cán bộ quản lý. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể được đề cử đồng thời là
Hiệu trưởng nếu có đủ tiêu chuẩn của Hiệu trưởng được quy định tại Điều 15
Quy chế này.
lẻ đều có sự khởi đầu và kết thúc. Trong khuynh hướng, ngay từ đầu đã chứa
đựng sự kết thúc của phát triển, còn việc hoàn thành một chu kỳ phát triển lại
đặt cơ sở cho một chu kỳ mới, trong đó không tránh khỏi sự lặp lại một số
đặc điểm của chu kỳ đầu tiên. Phát triển là một quá trình nội tại: bước
23
chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới sự
tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao là cái thấp đã phát triển.
Đồng thời, chỉ ở một mức độ phát triển khá cao thì những mầm mống của cái
cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra và lần đầu tiên mới trở nên dễ
hiểu "
Nói một cách khái quát, phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật
và hiện tượng tuân theo những quy luật nội tại khách quan của chúng.
Từ những khái niệm trên, tác giả cho rằng phát triển bao gồm 3 yếu tố là:
tăng cường số lượng, điều chỉnh cơ cấu và nâng cao chất lượng.
1.2.3.2. Đội ngũ giáo viên mầm non ngoài công lập
Đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học nêu khái niệm: “Đội
ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một
lực lượng ” [35; 328].
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng
rãi như: đội ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giỏo viờn…
Tuy nhiên, ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp
một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức
năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác
định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh
thần cụ thể.
Đội ngũ giáo viên là những người lao động có nghiệp vụ sư phạm được
xã hội phân công làm nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ. Vị trí của đội ngũ này ngày
càng được xã hội đánh giá cao. Trong bài phát biểu nhân dịp về thăm trường
Đại học sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 31-08-1998 đồng chí
Tổng Bí thư Lê Khả Phiờu đó nhấn mạnh: " Đội ngũ giáo viên là lực lượng
trưởng và của các cấp quản lý giáo dục; Thực hiện các quy định khác của
pháp luật.
1.2.3.3. Đội ngũ giáo viên mầm non ngoài công lập
25