Quỹ bảo hiểm xã hội và tài chính bảo hiểm xã hội
I. Quỹ bảo hiểm xã hội
1.1. Khái niệm và đặc điểm
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà
nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng
để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố
hoặc rủi ro. Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để
hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: người lao động, người sử dụng lao
động và Nhà nước.
Có thể dễ bị nhầm lẫn nếu không phân biệt quỹ BHXH với ngân sách Nhà
nước. Ngân sách Nhà nước là tổng thể các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình để tập trung một phần thu
nhập của quốc gia nhằm tạo lập quỹ tiền tệ của Nhà nước (Ngân sách Nhà nước)
và phân phối sử dụng quỹ ngân sách cho việc trang trải các chi phí bộ máy Nhà
nước và thực hiện chức năng kinh tế xã hội theo kế hoạch của Nhà nước.
Ngân sách nhà nước và quỹ BHXH có cùng bản chất, chức năng và có
quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng. Hoạt động của ngân
sách và quỹ BHXH đều không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Quá trình
hình thành và sử dụng của mỗi loại đều được biểu hiện dưới hình thức giá trị
( tiền tệ). Việc thu – chi ngân sách và quỹ BHXH đều được quy định bằng pháp
luật và cơ chế quản lý phải tuân theo nguyên tắc cân đối giữa thu và chi. vv…
Tuy nhiên, giữa ngân sách nhà nước và quỹ BHXH có những điểm khác
nhau cơ bản. Ngân sách nhà nước ra đời, tồn tại và phất triển gắn liền với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế – xã
hội của Nhà nước. Bộ máy nhà nước càng lớn, chức năng và nhiệm vụ càng mở
rộng thì thu chi ngân sách cũng càng lớn. Quan hệ phân phối của ngân sách nhà
1
nước mang tính pháp lý rất cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của nhà
nước. Quan hệ phân phối này chủ yếu là phân phối lại, không mang tính chất
hoàn trả và phản ánh lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia, nó chi phối các quan hệ, các
lợi ích bộ phận và cá nhân nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội của đất nước
toàn về tài chính. Nhiều nhà kinh tế cho rằng: Quỹ BHXH là “ Của để giành “
của người lao động phòng khi ốm đau, tai nạn hoặc tuổi già.vv… Nguồn quỹ
này được đóng góp và tích luỹ lại trong suốt quá trình lao động. Nếu xem xét tại
một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời
nhàn rỗi để chi trả trong tương lai. Lượng tiền này có thể biến động tăng và
cũng có thể biến động giảm do mất an toàn, giảm giá trị do yếu tố lạm phát. Do
đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đã trở thành yêu cầu mang tính
nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH.
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó là
khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh
nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên mỗi khâu tài chính
được tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định,
vì vậy chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng. Thế nhưng tài
chính BHXH, Ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp lại có quan hệ
chặt chẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phất
triển kinh tế–xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ
nhất định của đất nước. Kinh tế–xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực
hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao
động càng được nâng cao. Đồng thời khi kinh tế–xã hội phát triển, người lao
động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều
kiện tham gia và đóng góp BHXH v.v…
1.2. Nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
3
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư
phần quỹ nhàn rỗi)
và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý
BHXH v.v...
Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng góp của
người lao động so
với tiền lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của
người sử dụng lao động
so với quỹ lương (%)
CHLB Đức Bù thiếu
14,8÷18,8 16,3÷22,6
CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
Inđônêxia Bù thiếu 3,0 6,5
Philipin Bù thiếu
2,85÷9,25 6,85÷8,05
Malaixia Chi toàn bộ chế độ
ốm đau, thai sản
9,5 12,75
(Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới)
ở nước ta, từ 1962 đến 1987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ 2 nguồn:
các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp, phần
còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH
độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15%
quỹ lương của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị
trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22.06.1993 và Điều lệ
BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26-01-1995, trong
5
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó: P - Phí BHXH
f
1
- Phí thuần tuý trợ cấp BHXH
f
2
- Phí dự phòng
f
3
- Phí quản lý
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối
với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời
gian ngắn (thường là 1 năm) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ... Vì
vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với các
chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v.v... quá trình đóng và quá trình hưởng
BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định.
Cho nên, sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong
cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ
BHXH có dự trữ đủ lớn.
Như vậy, để xác định được mức phí phải đóng và mức hưởng BHXH phải
dựa vào nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu
nguồn lao động theo độ tuổi, giới tính, ngành nghề v.v... Ngoài ra còn phải xác
định và dự báo được tuổi thọ bình quân của quốc gia; xác suất ốm đau, tai nạn,
cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH
dài hạn.
8
+ Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ: Quỹ ốm đau, quỹ thai
sản, Quỹ hưu trí.vv… ( Hay còn gọi là quỹ BHXH thành phần), thì việc chi trả
sẽ càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đích.
Nội dung chi trả gắn liền với nội dung kinh tế – xã hội của từng chế độ
hoặc từng nhóm chế độ. Cụ thể:
a, Đối với chế độ hưu trí và tử tuất.
Việc chi trả bắt nguồn từ việc bảo hiểm thu nhập cho người lao động khi
già yếu hết tuổi lao động và qua đời mà bất kỳ người lao động nào cũng phải trải
qua. Muốn được chi trả, người lao động và người sử dụng lao động phải tham
gia đóng góp. Quyền lợi được hưởng tương ứng với mức đóng góp phí BHXH
của từng người lao động. Phí BHXH nộp cho các chế độ hưu trí và tử tuất được
cơ cấu vào tiền lương, tiền công và được hạch toán vào giá thành sản phẩm để
tạo nguồn tài chính cho người lao động, người sử dụng lao động đóng góp.
b, Đối với các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp.
Nội dung chi trả bắt nguồn từ việc ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định
kinh tế cho người sử dụng lao động và ổn định cuộc sống cho người lao động
khi họ bị ốm đau, tai nạn hoặc thai sản. Để có quỹ chi trả, cả người sử dụng lao
động và ngưòi lao động đều phải có trách nhiệm đóng phí. Số phí này cũng phải
được hạch toán đầy đủ vào giá thành sản phẩm để tạo nguồn tài chính nộp phí
bảo hiểm. Trợ cấp cho các chế độ này thường diễn ra trong một không gian và
thời gian nhất định nhưng lại mang tính trực tiếp và ngắn hạn. Chính vì vậy, mỗi
chế độ có thể hình thành một quỹ và mỗi loại quỹ sẽ được hạch toán độc lập,
bảo tồn và tăng trưởng. Phương thức này có ưu điểm là dễ dàng cân đối thu chi,
từ đó góp phần xác định mức đóng và mức hưởng trong từng chế độ một cách
chính xác.
ở nước ta hiện nay, BHXH đang áp dụng 5 chế độ đều được xác định nguồn
+ Mỗi khâu tài chính phải là một quỹ tiền tệ được tạo lập và sử dụng cho
một mục đích nhất định.
+ Mỗi khâu tài chính gắn với một chủ thể cụ thể.
+ Các quan hệ tài chính xếp vào một khâu tài chính nếu hoạt động tài chính
có cùng tính chất, đặc điểm, vai trò và đồng nhất về hình thức quan hệ tài chính
phù hợp với mục đích sử dụng qũ tiền tệ.
Như vậy, tài chính BHXH và quỹ BHXH là hai thuật ngữ khác nhau, song
lại có nhiều nội dung đồng nghĩa với nhau. Vì vậy khi nói tài chính BHXH thì
thực chất cũng là nói đến các mối quan hệ trong sự tạo lập và sử dụng quỹ
BHXH.
Nói bản chất tài chính của BHXH là muốn nói đến nội dung kinh tế - xã hội
bên trong của quỹ BHXH . Vì thế, để hiểu bản chất của quỹ BHXH cũng như
hiểu bản chất của tài chính BHXH phải đi sâu phân tích mối quan hệ kinh tế xã
hội phát sinh trong quá trình tạo lập sử dụng quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một
quỹ tiền tệ bao gồm nhiều nội dung, mỗi nội dung được hình thành từ nhiều chế
độ, chính sách cụ thể. Để phân tích bản chất tài chính BHXH trước hết phải
phân loại nội dung quỹ BHXH theo các tiêu thức.
Có nhiều phân loại nội dung quỹ BHXH, mỗi tiêu thức phân loại lại có
nhiều ỹ nghĩa nhất định. ở đây, nghiên cứu bản chất tài chính BHXH nên tiêu
thức phân loại nội dung của quỹ chủ yếu phân theo nguồn hình thành và nội
dung chi của quỹ . Vì trong các nội dung kinh tế xã hội của quỹ BHXH thì thu
và chi là những nội dung chủ yếu của quỹ .
2.2. Sự ra đời tồn tại và phát triển.
Chúng ta đều biết, quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn, trong đó có
2 nguồn chính: Nguồn đóng góp của các đối tượng thuộc diện bắt buộc (gọi tắt
là nguồn bắt buộc) theo quy định và nguồn đóng góp của cac đối tượng tự
nguyện (gọi tắt là nguồn tự nguyện). Về mặt hình thức hai nguông này tuy khác
11
nhau về phạm vị, đối tượng và mức độ đóng góp, song nội dung kinh tế - xã hội
lại tương đối đồng nhất với nhau đó là:
độn, khi về già , người sử dụng lao động phải có một phần trách nhiệm đảm bảo
cho cuộc sống của họ. Việc tiến hành bảo hiểm hưu trí và tử tuất nếu không có
tổ chức bảo hiểm bắt buộc của xã hội, của nhà nước thì bản thân người lao động
cũng phải tụ mình lo bảo hiểm để đảm bảo sự ổn định của cuộc sống, lục già
yếu, lúc qua đời, không gây khó khăn cho gia đình và xã hội.
Đặc điểm của bảo hiểm hưu trí và tử tuất là nó thực hiện sau quá trình lao
động, quan hệ phân phối tính chất hoàn trả, lợi ích hưởng thu tương ứng với
nghĩa vụ đóng góp. Như vậy bản chất kinh tế xã hội của quỹ BHXH chi cho chế
độ hưu trí và tử tuất phản ánh quan hệ kinh tế (quan hệ lợi ích) giữa những
ngưòi lao động người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm và Nhà nước. Bởi vì,
người lao động, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm hưu trí, tử tuất là nhằm
mục đích lâu dài đảm bảo ổn định cuộc sống cho bản thân người lao động và khi
gia đình họ già yếu không còn thu nhập từ lao động. Mức hưởng trợ cấp hưu trí
phu thuộc vào mức đóng góp và thời gian thu phí bảo hiểm ít hay nhiều, còn
thời gian hưởng hưu trí là không có giới hạn, hưởng đến khi chết. Nhưng tuổi
thọ của những người lại khác nhau nên tính hoàn trả không đồng đều. Cùng thời
gian đóng phí bảo hiểm như nhau có người sống lâu hơn được hưởng hưu trí
nhiều hơn thậm chí nhiều hơn cả mức đóng góp. Phần hưởng nhiều hơn đó được
quỹ BHXH đảm bảo. Thực chất là lấy tiền đóng BHXH của số đông người lao
động trong độ tuổi để nuôi số ít người về hưu. Đó là tính chất xã hội, tính cộng
đồng của BHXH.
Từ nội dung kinh tế - xã hội của bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm tử tuất cho
thấy khoản tiền người lao động đóng BHXH gọi là (phí bảo hiểm ) để hưởng
chế độ hưu trí và tử tuất là một bộ phận cấu thành của tiền lương, hàng tháng
người lao động nộp vào quỹ BHXH. Vì vậy, phải xác định đúng mức phí bảo
hiểm cấu trong tiền lương để người lao động có khả năng đóng BHXH là một
13
vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển BHXH của một quốc gia, vì nó
quyết định mức cân đối quỹ và đảm bảo mức hoàn trả để ổn định cuộc sống lúc
về già của người nghỉ hưu và sự cân đối của quỹ. Vì thế, khi tính toán , xác định
người lao động không những mất nguồn thu nhập từ lao động mà còn phải tăng
thêm chio phí cho việc chăm sóc y tế, bị nặng thì mang tàn phế suốt đời hoặc
chết người. Còn đối với người sủ dụng lao động , khi người lao động bị rủi ro
đó gây ra không những ảnh hưởng đến kế hoạch, kết quả sản xuất mà còn phải
bỏ ra nhiều chi phí khác để khắc phục hậu quả đột xuất do các đ đó gây ra không
những ảnh hưởng đến kế hoạch, kết quả sản xuất kinh doanh mà còn phải bỏ ra
nhiều chi phí để khắc phục hậu quả đột xuất do các rủi ro đó gây ra làm cho tình
hình tài chính của đơn vị ngày càng khó khăn hơn.
Để có nguồn thu nhập ổn định cuộc sống cho người lao động trong khi bị
ốm đau, tai nạn la động và bệnh nghề nghiệp, ổn định kinh tế, tài chính cho
người sử dụng lao động tất yếu phải có quỹ bảo hiểm, người sử dụng lao động
phải có trách nhiệm trích nộp phần thu nhập để tạo lập quỹ bảo hiểm tại đoen vị
hoặc đóng góp vào quỹ BHXH cho các mục đích trên.
Thông thường, để ổn định kinh tế cho doanh nghiệp, phí bảo hiểm để tạo
lập quỹ bảo hiểm cho các rủi ro này được nhà nước cho phép hạch toán vào giá
thành sản phẩm để người tiêu dùng gánh chịu. Tính chất độc hại không an toàn
trong sản xuất kinh doanh gây ra ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
cho người lao động sảy ra khác nhau ở các ngành, các doanh nghiệp. Nhưng do
nhu cầu của sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng cuộc sống mang tính
chất xã hội, vì thế mọi doanh nghiệp, mọi thành viên xã hội tiêu dùng sản phẩm
đều phải có nghĩa vụ đối với bảo hiểm cho người lao động khi sảy ra rủi ro ốm
đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Như vậy bản chất kinh tế xã hội của
các chế độ bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và obệnh nghề nghiệp. Như vậy
bản chất kinh tế xã hội của chế độ bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp đối với người lao động phản ánh mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa
15
người lao động và người sử dụng lao động và Nhà nước thông qua việc tạo lập
và sử dụng quỹ BHXH nhằm ổn định cuộc sống cho người lao động và ổn định
sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động và xã hội.
Qua phân tích bản chất tài chính BHXH có thể rút ra một số đặc điểm tạo
sở pháp luật của nhà nước đã ban hành và chịu kiểm tra , giám sát, quản lý của
nhà nước về chấp hành pháp luật của BHXH đối với các bên tham gia BHXH.
Tổ chức BHXH ở Việt Nam có hoạt động độc lập thì mới có điều kiện theo dõi,
kiểm tra, giám sát công việc thu chi của quỹ, tăng cường công tác quản lý quỹ
mới có điều kiện để quản lý sử dụng vốn nhàn rỗi trong cơ chế thị trường có lợi
nhất, không ngừng tinh giảm biên chế gọn nhẹ, giảm chi phí quản lý hành chính,
nghiệp vụ hoạt động BHXH để bảo về quyền lợi cho người lao động, nhà nước
cần phải pháp luật hoá việc đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH, tạo điều kiện tự
chủ và chịu trách nhiệm của tổ chức BHXH về kết quả đầu tư, bảo toàn và phát
triển vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phù hợp với cơ chế thị trường.
Việc quản lý điều hành tăng trưởng quỹ phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn
được vốn, không làm vốn bị tổn thất, còn phải làm cho vốn sinh lợi. Việc đầu tư
vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Bảo đảm chắc chắn,an toàn tuyệt đối, có khả năng thanh khoản cao.
+ Phải có lãi
+ Phải đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ
BHXH phát sinh.Vì thế, các hình thức đầu tư phải linh hoạt, đa dạng nhưng phải
chặt chẽ theo những nguyên tắc và yêu cầu nêu trên. Thực hiện tốt việc đầu tư
vốn nhàn rỗi, quỹ BHXH không chỉ có tác dụng bảo toàn và phát triển vốn mà
còn đảm bảo quyền lợi cho người lao động trên thực tế. Tổ chức quản lý quỹ đầu
tư tăng trưởng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải tuân theo nguyên tắc hạch toán
kinh doan.
17
- Phải bảo đảm quyền lợi của người lao động tương ứng với nghĩa vụ đóng
góp của họ. Trong nền kinh tế thị trường, người lao động thuộc mọi thành phần
kinh tế đều bình đẳng hưởng chế độ BHXH. Son người lao động muốn được
hưởng quyền lợi về BHXH thì họ phải có nhiệm vụ đóng góp phí BHXH theo
các phương thức thích hợp (bắt buộc hay tự nguyện, ít chế độ hay nhiều chế độ
BHXH..) thường xuyên đầy đặn những tháng, năm còn tuổi lao động. Quyền lợi
được hưởng phải phù hợp với mức đóng góp và thời gian đóng phí BHXH của
điều kiện đảm bảo quyền lợi cho người lao động giảm được sự tài trợ của Nhà
nước .
- Việc đổi mới, hoàn thiện cơ cấu chế tạo và sử dụng quỹ BHXH phải trên
cơ sở thực trạng và phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội
của đất nước. Phải tiến hành đồng bộ với việc đổi mới, hoàn thiện các chính
sách cơ chế quản lý kinh tế - xã hội có liên quan như chính sách lao động việc
làm,chính sách thu nhập, tiền lương,tiền công chăm sóc y tế kế hoạch hoá gia
đình và các chính sách kinh tế xã hội khác. Bởi vì, chính sách cơ chế quản lý xã
hội của nhà nước, nó phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, phù hợp với mức độ phát triển của từng loại lao động (ít
hay nhiều chế độ BHXH ). Đặc biệt lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, lao động tự do có như vậy BHXH mới tồn tại và phát triển
vững chắc, phù hợp với sự phát triển của các thành phần kinh tế của đất
nước.Mặt khác, nhà nước bảo trợ quỹ BHXH khi nhà nước có những chính sách
thay đổi kinh tế xã hội làm mất cân đối thu, chi, quỹ BHXH hoặc các rủi ro bất
khả kháng làm mất thu chi quỹ BHXH.
Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản cần phải quán triệt trong tổ chức
quản lý quỹ BHXH làm cơ sở cho việc cải tiến, hoàn thiện các chế độ, chính
sách BHXH ở nước ta trong thời gian tới.
III. Tài chính BHXH với tài chính doanh nghiệp và ngân sách nhà nước.
3.1. Ngân sách nhà nước .
19