NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tài chính của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 1997 quy định:
“ NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động NH
và các hoạt động khác có liên quan”.
Theo Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật các tổ chức tín dụng
(năm 2004) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“ NH là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình NH gồm: NHTM, NH phát triển, NH đầu tư, NH chính
sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác. NHTM là một doanh nghiệp kinh
doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.1.2. Hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương III của Luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chức
tín dụng, trong đó chủ yếu là NHTM, bao gồm:
Huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động đặc trưng cho quá trình kinh doanh
của NHTM, là sự khởi đầu tạo cơ sở cho hoạt động kinh doanh của NH. Hoạt
động huy động vốn của NH bao gồm:
*. Nhận tiền gửi: Là hoạt động đặc trưng của NHTM mà các tổ chức tài
chính phi NH không có. Tại điều 45, luật các tổ chức tín dụng có ghi “NH được
nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác”..
*. Đi vay trên thị trường tiền tệ: Khi có sự gia tăng nhu cầu tín dụng và
nguồn tiền gửi tăng chậm, khoản mục này trở nên quan trọng đối với các
NHTM. NHTM có thể đi vay từ các nguồn sau: Vay NHTW, vay các tổ chức tài
chính khác, vay công chúng.
được NHNN cho phép.
Các hoạt động cung cấp dịch vụ khác
Ngoài các hoạt động chính như: Huy động tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ
thanh toán và ngân quỹ, NHTM có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm: góp
vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh
doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ
tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động NH.
Mặc dù hoạt động NH rất đa dạng và phong phú nhưng các NH chỉ được
thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép của họ. Những chức năng này
sẽ do NHTW quyết định theo từng trường hợp cụ thể.
1.1.2. Tài chính của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Quan niệm về tài chính NHTM
Tài chính là phạm trù kinh tế có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong
nền kinh tế. Theo từ điển kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới các dạng
tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua
thị trường tài chính hay các định chế tài chính. Nói cách khác tài chính phản ánh
hoạt động mà các cá nhân, công ty và tổ chức tạo lập tiền tệ và sử dụng nguồn
tiền tệ để đáp ứng những nhu cầu phát triển khác nhau.
Như vậy, tài chính có đặc điểm là:
- Tài chính được đặc trưng không chỉ bao gồm các nguồn lực dưới dạng tiền
mặt hay các khoản tiền gửi mà còn dưới dạng các loại tài sản tài chính như: cổ
phiếu, trái phiếu hay các công cụ nợ trao đổi hay chuyển tải giá trị.
- Tài chính liên quan đến việc chuyển giao các nguồn tài chính giữa các chủ
thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm đến các chủ thể cần vốn. Ở
mức độ vĩ mô, mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư biểu thị sự chuyển giao
nguồn lực giữa các cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ trong tổng thể nền kinh tế.
Với cách tiếp cận trên, khái niệm tài chính có thể hiểu một cách tổng quát:
Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó
phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn
tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các
gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ phát sinh trong
quá trình hoạt động kinh doanh của NH.
1.1.2.2. Đặc điểm tài chính của NHTM
Đặc điểm kinh doanh của NHTM đã quyết định đến đặc điểm tài chính của
NHTM như sau:
Một là: Tài chính NHTM có tính nhạy cảm cao phụ thuộc môi trường kinh
doanh.
Yếu tố đầu vào và đầu ra của hoạt động kinh doanh NH đều là tiền. Đó là
dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần tuý: vay hoặc cho vay trong
NHTM. Đây là dòng tiền vận động độc lập, không có đối trọng với dòng hàng hoá
dịch vụ. Sự vận động này rất nhạy cảm, phụ thuộc vào khách hàng của quá trình
kinh doanh. Khách hàng có gửi tiền vào NH thì NH mới huy động được vốn (đầu
vào tài chính) và mới có nguồn vốn để cho vay. Khách hàng muốn vay vốn của
NH thì NH mới có thể cho vay (đầu ra tài chính). Khi luồng tiền vận động liên tục
thì NHTM mới có thể tồn tại và thực hiện chức năng trung gian của mình.
Hai là: Tài chính NHTM phụ thuộc vào khả năng tạo tiền của NHTM
Xuất phát từ chức năng tạo tiền là chức năng riêng có của NHTM mà tài
chính NHTM có khả năng làm tăng lượng tiền (cho vay không bằng tiền mặt) hoặc
có thể làm giảm lượng tiền (thu nợ không bằng tiền mặt) nhằm cung cấp phương
tiện thanh toán cho nền kinh tế đồng thời tạo ra nguồn vốn quan trọng nhất phục
vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. NHTM tạo tiền bằng cách tạo ra bút tệ
(tiền ghi sổ), khả năng tạo tiền này chỉ có thể thực hiện được nếu vốn mà NHTM
huy động được dưới hình thức tiền gửi đã cho vay được và số tiền cho vay đó
phải luân chuyển trong hệ thống NH. Việc tạo tiền được phát sinh sau khi NHTM
cho vay bằng chuyển khoản trong cùng một hệ thống NHTM. Đơn vị vay vốn
được ghi nợ tài khoản cho vay, đơn vị cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho đơn
vị cho vay được ghi có vào tài khoản tiền gửi tại một NH. Như vậy trong trường
hợp cho vay như trên, không có nguồn vốn nhưng NHTM vẫn có thể cho vay
được. Đó là bản chất việc tạo tiền ghi sổ của NHTM. Các bút tệ thực sự thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế trên cơ sở nguồn tiền gửi mới do hệ thống NH tạo ra.
toán. Như vậy nếu khách hàng gặp rủi ro tài chính thì lập tức tài chính NHTM sẽ
phải gánh chịu. Điều quan trọng là rủi ro tài chính NHTM có ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nền kinh tế, có nguy cơ lây lan làm suy giảm đến cả hệ thống NH, đẩy
nền kinh tế vào suy thoái.
1.2. Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại
“Tài chính NHTM” là sự vận động của các luồng tài chính gắn liền với quá
trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt
động kinh doanh của NH.
Như vậy, “Năng lực tài chính của NHTM” chính là khả năng tài chính để NH
thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả.
Năng lực tài chính của NH không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của NH mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các
nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Năng lực tài chính
không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm
năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của NH đó.
1.2.2. Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM trong xu thế hội nhập
Năng lực tài chính của một NH chính là việc dùng khả năng tài chính để tạo
ra lợi nhuận ổn định cao hơn các đối thủ khác hoặc cao hơn mức bình quân của
ngành, hoạt động an toàn và đạt được vị thế tốt hơn trên thương trường. Vì hoạt
động của NHTM gồm: Huy động vốn, tín dụng, đầu tư, hoạt động thanh toán nên
năng lực tài chính của NHTM được thể hiện ở hiệu quả hoạt động kinh doanh
trong các mặt hoạt động trên.
Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính là: i/
Phản ánh đúng bản chất của khái niệm năng lực tài chính của NHTM là khả năng
về tài chính để giúp NH thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả
không chỉ trong ngắn hạn mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền
vững; ii/ Đáp ứng được mục đích của việc đánh giá là xác định đúng năng lực tài
chính và vị thế so sánh của một TCTD so với các TCTD trên thị trường tài chính
trong và ngoài nước; iii/ Có thể thu thập số liệu thống kê, kế toán và tính toán
nghệ.
Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài
trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ. Phần còn lại
của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh của NH.
Vốn chủ sở hữu lớn cho phép NH thành lập các công ty con và tham gia
hoạt động đầu tư, liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược, hùn vốn vào các
công ty và có thể thôn tính các NH khác theo qui định không được vượt quá 40%
vốn điều lệ và quỹ dự trữ.
Tiêu chuẩn quốc tế quy định NH không được cho vay quá 15% vốn và
thặng dư vốn đối với một khách hàng. Đối với các khoản vay được đảm bảo an
toàn thì giới hạn này là 25%. Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc NH được phép
cho vay những dự án lớn, từ đó làm tăng qui mô tín dụng và tăng qui mô tổng tài
sản.
Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng huy động vốn thông qua chỉ tiêu
Hệ số đòn bẩy.
Tổng tài sản nợ bình quân
Hệ số đòn bẩy =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ lệ này tối đa là 12,5 lần.
Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng mở rộng mạng lưới. Số lượng sở
giao dịch, chi nhánh của NHTM được mở tối đa xác định theo công thức:
Trong đó: n: Số sở giao dịch, chi nhánh tối đa NHTM được mở
C: Số vốn điều lệ hiện có của NHTM
Co: Mức vốn pháp định của NHTMCP tối thiểu phải có theo quy định
tại thời điểm xin mở sở giao dịch, chi nhánh (tỷ đồng)
20 tỷ là số vốn phải tăng thêm để mở một sở giao dịch, chi nhánh.
Hệ thống sở giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các
dịch vụ NH đến khách hàng. NHTM có mạng lưới rộng sẽ giúp cho khách hàng
tiếp cận được với các sản phẩm dịch vụ NH được thuận tiện hơn, giúp NH mở
rộng và chiếm lĩnh thị trường, tạo hình ảnh vị thế của NH. Từ đó tăng doanh thu,
Thông thường khi nhắc đến hệ số CAR, hệ số này được hiểu là CAR ở cấp
độ 2. Nếu các NH có qui mô vốn nhỏ mà vẫn mở rộng hoạt động của mình đến
mức làm cho tỷ lệ an toàn vốn bị thấp hơn mức tối thiểu 8% thì rủi ro đối với hoạt
động của NH sẽ là rất lớn. Các cơ quan quản lý NH và thị trường tài chính thường
đòi hỏi vốn NH phải phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho
vay và những tài sản rủi ro khác.
Với những ý nghĩa quan trọng đó có thể nói một NH có mức vốn chủ sở
hữu lớn là yếu tố đảm bảo cho NH hoạt động an toàn, đồng thời thể hiện sức
mạnh tài chính của bản thân NH.
1.1.3.2. Nhóm chỉ tiêu về qui mô và tăng trưởng tài sản
NH kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng các
dịch vụ thanh toán. Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản sẽ không chỉ phụ thuộc vào
sự tăng trưởng của tài sản có mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản
nợ của NH.
Tài sản có
Nội dung hoạt động chủ yếu của một NH thể hiện ở phía tài sản. Quy
mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của NHTM. Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản
có) và tài sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có). Khi nói đến
tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến qui mô của hoạt động tín dụng và hoạt
động đầu tư. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền
vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM. Đánh giá qui mô, chất
lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài
sản, tính đa dạng hoá trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ,
tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có, tỷ lệ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm
bảo tiền vay…
Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng qui mô
tổng tài sản của NH. Các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán gồm các khoản
mục: Chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn.
Hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: qui mô, tốc độ tăng
thấy NHTM đó có thể an toàn do có thể bù đắp rủi ro, từ đó tạo điều kiện tăng
trưởng tổng tài sản.
Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của
NHTM bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc
độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình