VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 76

VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
Quản lý kinh tế là một phạm trù liên quan trực tiếp đến sự ra đời của quá
trình hợp tác và phân công lao động xã hội. Quản lý là kết quả tất yếu của quá trình
kết hợp nhiều lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao
động xã hội được phối kết hợp lại. C.Mác cho rằng: "Bất cứ lao động xã hội hay
lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng
chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung
của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp
thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự mình điều khiển lấy mình,
nhưng một giàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng"[9,9]. Như vậy chức năng
quản lý là sự kết hợp một cách hợp lý các yếu tố cơ bản của sản xuất, là việc tạo
lập một quá trình ăn khớp giữa những cá thể lao động riêng biệt. Rõ ràng hoạt
động quản lý không thực hiện thì quá trình sản xuất, quá trình hợp tác không thể
diễn ra được.
Những nhân tố sau đây làm tăng vai trò của quản lý kinh tế:
Nhân tố thứ nhất: Tính chất và qui mô của sản xuất.
Chừng nào qui mô của hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh chưa lớn lắm
thì quản lý chưa cần phải có những yêu cầu đặc biệt. Qui mô sản xuất kinh doanh
càng mở rộng và phát triển thì chức năng quản lý càng trở nên phức tạp và vai trò
của nó càng trở nên rõ nét trong hoạt động của doanh nghiệp. Điều này đặc biệt
đúng trong nền kinh tế hiện đại ngày nay.
Nhân tố thứ hai: Vai trò của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã bảo đảm cho sự phát triển của nhân loại
những nguồn lợi to lớn về vật chất. Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới công nghệ và
việc áp dụng những thành tựu mới của kỹ thuật cho phép đạt được hiệu quả kinh tế
cao hơn.Nhưng điều đó có được trước hết nhờ đổi mới công nghệ quản lý, chính công
nghệ quản lý tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động
sản xuất kinh doanh. Nếu không có tầm nhìn, tính khoa học sáng tạo trong quản lý thì

vô hình khác của doanh nghiệp.
Thứ ba: Quản lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn định và
vững chắc.
Ngày nay cách mạng khoa học kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của các doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đưa khoa học kỹ thuật vào thực tế luôn
đòi hỏi một sự sàng lọc, tính toán chặt chẽ nhằm đảm bảo không để xảy ra sự hao
mòn vô hình quá nhanh,mặt khác cũng không được vượt quá mức khả năng tài
chính cho phép của doanh nghiệp. Những yêu cầu này được giải quyết thông qua
công tác quản lý.
Không thể kể hết lợi ích mà quản lý đem lại cho doanh nghiệp. Chính vì
quản lý có vai trò quan trọng như vậy, nên thông qua việc nghiên cứu về quản lý
để từ đó xác định được cách thức quản lý tối ưu là điều kiện tiên quyết cho sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại
nói riêng hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là một ngành kinh tế,cho nên hoạt động quản lý của ngân hàng
cũng không thoát ly được các vấn đề cơ bản của quản lý kinh tế nêu trên. Việc
nghiên cứu công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại dưới đây cũng phải dựa vào
những vấn đề cơ bản đó để luận giải các vấn đề liên quan.
1.2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ.[47, 7-43]
1.2.1. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC
QUẢN LÝ.
Trước thế kỷ 16, việc sản xuất kinh doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung
tự cấp là phổ biến nên vấn đề quản lý chưa được quan tâm nghiên cứu và áp dụng.
Phải đến cuối thế kỷ 16, khi các hoạt động thương mại, đặc biệt ở khu vực Địa
Trung Hải được mở rộng thì sản xuất kinh doanh mới bắt đầu phát triển,cùng với
nó là sự đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và việc nghiên
cứu về quản lý mới được đặt ra.
Nhưng phải tới thế kỷ 18 với nhiều phát minh và sáng chế mới được con
người tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc phát minh ra động cơ hơi
nước đưa đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở Châu Âu. Nền sản

Lấy thị trường là tiêu điểm của nghiên cứu và ứng dụng
khoa học quản lý.
SƠ ĐỒ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ

Giai đoạn 3:
Từ 1960
đến nay
Nền tảng xã hội
Giai đoạn 2:
Từ 1930 - 1960
Thị trường chấp nhận đó
là sản phẩm tốt
Nền tảng tập thể
Giai đoạn 1:
Cuối TK 18-1930
Cái gì tốt cho công ty tôi
thì sẽ tốt cho xã hội
Nền tảng cá nhân
Quan điểm: Cái gì tốt
cho tôi thì sẽ tốt cho XH
1.2.2. MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC QUẢN LÝ CHỦ YẾU:
1.2.2.1. Một số trường phái khoa học quản lý tiền hiện đại
Trường phái cổ điển : Từ cuối thế kỷ XIX đến 1930
Trường phái này bao gồm 2 nhánh chính :
Nhánh thứ nhất : Học thuyết quản lý theo khoa học do Frederick
Winslow Taylor (Mỹ) chủ xướng
Nhánh thứ hai : Học thuyết quản lý tổng quát hay học thuyết tổ chức
cổ điển do Henri Fayol (châu Âu) đề xướng
Với Học thuyết quản lý theo khoa học, họ đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản để
quản lý theo khoa học đó là:

- Quan hệ quyền hành trong hệ thống quản lý.
- Kỷ luật lao động.
- Thống nhất chỉ huy (thống nhất mệnh lệnh).
- Thống nhất lãnh đạo.
- Lợi ích cá nhân được đảm bảo dựa trên lợi ích chung.
- Thù lao tương ứng giữa các cấp.
- Tập trung thẩm quyền.
- Nguyên tắc trật tự.
- Nguyên tắc phối hợp.
- Nguyên tắc công bằng.
- Ổn định công việc.
- Khuyến khích sáng kiến.
- Tinh thần đồng đội tạo sự thống nhất trong quản lý.
Trong học thuyết này có Max Weber (1861 - 1920) và Cliester Barnard
(1886 - 1961).Đưa tổ chức theo hình chóp nón, tạo sự thống nhất trong điều khiển
hoạt động.
Tuy nhiên học thuyết này cũng có nhược điểm sau:
- Không chú trọng đến yếu tố con người và xã hội, mang sắc thái quan liêu
mệnh lệnh.
Nói chung trường phái cổ điển đã phác thảo những vấn đề cơ bản ban đầu
cho việc nghiên cứu khoa học quản lý dù mới chỉ dừng lại ở bước khởi đầu tựa như
hệ thống các kinh nghiệm được đúng kết ra từ cuộc sống, nhưng nó lại là nhưng
tiền đề cần thiết để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn sau
này.
Trường phái tác phong:
Trường phái này cho rằng quản lý là công việc tiến hành thông qua con
người. Ngoài ra trường phái này cũng nhấn mạnh: Năng suất lao động không chỉ
do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hội quyết định.
Các đại diện chủ yếu của trường phái này là: Lislian Gilbrreth, Hugo
Munsterberg, Mary Parker Follef.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status