CÁC VẤN ĐỀ CHUNG KẾ TOÁN VỀ NGUYÊN LIÊU VẬT LIỆU - Pdf 76

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG KẾ TOÁN VỀ NGUYÊN LIÊU VẬT LIỆU
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGUYÊN LIÊU, VẬT LIỆU TRONG
SẢN XUẤT KINH DOANH.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nguyên liêu, vật liệu.
* Khái niệm:
Một quá trình sản xuất luôn phải đủ ba yếu tố: tư liệu sản xuất, đối tượng lao
động và lao động sống. Ba yếu tố này kết hợp với nhau tạo nên giá trị và giá trị sử
dụng của sản phẩm mới. Đối tượng lao động được hiểu là tất cả mọi vật có trong
thiên nhiên mà lao động của con người có thể tác động vào biến đổi chúng thành
những vật có ích phục vụ cho đời sống của con người. Bất cứ một nguyên vật liệu
nào cũng là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ một đối tượng lao động
nào cũng là nguyên liệu, vật liệu, mà chỉ có trong điều kiện nhất định, lao động của
con người có thể tác động vào, biến đổi chúng phục vụ cho sản xuất hay tái sản
xuất sản phẩm mới được gọi là nguyên liệu vật liệu. Ví dụ như quặng nằm trong
lòng đất thì không phải là nguyên vật liệu nhưng than đá, sắt thiếc… khai thác
trong quặng đó thì lại là nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp chế tạo cơ
khí…
Như vậy, nguyên vật liệu là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất.
* Đặc điểm:
Trong quá trình sản xuất sản phẩm mới, nguyên vật liệu tham gia ngay từ
giai đoạn đầu của quá trình sản xuất và thường là phân bỏ một lần (100%) vào giá
trị của sản phẩm mới.
Về mặt hình thái vật chất, thì nguyên vật liệu được sử dụng toàn bộ và bị
biến đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu để cấu tạo nên hình thái vật chất mới
của sản phẩm cần làm ra, nó tạo nên giá trị sử dụng hay công cụ, dụng cụ của sản
phẩm.
Về mặt giá trị, giá trị nguyên vật liệu dịch chuyển toàn bộ, một lần vào giá
trị sản phẩm mới tạo ra, nó hình thành nên giá trị của chính sản phẩm hay giá thành
xuất xưởng của sản phẩm. Như vậy, nguyên vật liệu tạo nên giá trị và giá trị sử
dụng của sản phẩm mới, do vậy nó là yếu tố quan trọng chủ chốt của mọi quá trình

+ Nhóm vật liệu làm tăng chất lượng nguyên liệu, vật liệu chính.
+ Nhóm vật liệu làm tăng chất lượng sản phẩm.
+ Nhóm vật liệu đảm bảo điều kiện cho quá trình sản xuất.
- Nhiên liệu là loại vật liệu phụ trong quá trình sử dụng các tác dụng cung
cấp nhiệt lượng. Nhiên liệu có thể tồn tại ở các thể rắn, thể lỏng, thể khí.
- Phụ tùng thay thế: Là những chi tiết, phụ tùng máy móc, thiết bị được dự
trữ để sử dụng cho việc sửa chữa, thay thế các bộ phận của TSCĐ hữu hình.
- Vật liệu và thiết bị XDCB là các loại vật liệu và thiết bị dùng cho công tắc
xây dựng cơ bản để hình thành TSCĐ.
- Vật liệu khác bao gồm các loại vật liệu chưa được phản ánh ở các loại vật
liệu trên.
1.2.2. Đánh giá nguyên vật liệu.
1.2.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá nguyên vật liệu.
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại nguyên vật
liệu, mỗi loại nguyên vật liệu này lại được tạo ra từ nhiều nguồn khác nhau như tự
sản xuất, đi mua, hay được biếu tặng… và nó cũng được sử dụng cho những mục
đích khác nhau theo những phương pháp khác nhau. Mà nguyên vật liệu là yếu tố
vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, đó là yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Nên việc đánh giá nó là việc rất cần thiết trong
các doanh nghiệp sản xuất, để nhằm tính toán được một cách chi tiết số lượng
nguyên vật liệu sử dụng cho một quy trình sản xuất, từ đó làm cơ sở cho việc xác
định chi phí, giá thành của sản phẩm, tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm chi phí,
tăng ln của mình.
1.2.2.2. Nguyên tắc đánh giá:
Khi đánh giá nguyên vật liệu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc giá gốc: Nguyên vật liệu phải được đánh giá theo giá gốc. Đó
là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được những vật liệu đó ở địa
điểm và trạng thái hiện tại.
• Nguyên tắc thận trọng: Nguyên vật liệu được đánh giá theo giá gốc nhưng
trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị

Nhập do thuê ngoài gia công chế biến:
Giá gốc
nguyên vật
liệu nhập
kho
=
Giá gốc NL, VL
xuất kho thuê
ngoài chế biến
+
Tiền công
phải trả cho
người chế
biến
+
Chi phí vận
chuyển bốc dỡ
và các chi phí
có liên quan
trực tiếp khác
Nhận góp vốn liên doanh, vốn cổ phần hoặc thu hồi vốn góp: Được ghi nhận
theo giá thực tế do Hội đồng thẩm định đánh giá và đã được chấp thuận cộng với
các chi phí tiếp nhận (nếu có).
Nhận do được cấp:
Giá gốc
nguyên vật
liệu nhập kho
=
Giá ghi trên sổ của đơn
vị cấp trên hoặc giá lại

Giá trị thực tế
NL, VL
=
Số lượng NL, VL
xuất kho
x
Đơn giá bình
quân
• Phương pháp nhập trước xuất trước: Trong phương pháp này áp dụng dựa
trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất
trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần
thời điểm cuối kỳ. Từ phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá
của lô hàng nhập kho tại thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn
kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối cuối
kỳ còn tồn kho.
• Phương pháp nhập sau xuất trước: Trong phương pháp này áp dụng dựa
trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất thì xuất trước, và hàng
tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo
phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của hàng nhập kho
đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn hàng tồn kho.
1.2.2.4. Đánh giá nguyên liệu, vật liệu theo giá hạch toán.
Áp dụng cho những doanh nghiệp có quy mô lớn, sản xuất nhiều mặt hàng
thường sử dụng nhiều loại, nhóm thứ nguyên liệu, vật liệu hoạt động nhập xuất
nguyên liệu, vật liệu diễn ra thường xuyên, liên tục.
Giá hạch toán là giá do kế toán của doanh nghiệp tự xây dựng, có thể là giá
kế hoạch, hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được trên thị trường.
Giá hạch toán được sử dụng thống nhất trong toàn doanh nghiệp và được sử dụng
tương đối ổn định, lâu dài. Trường hợp có sẹ biến động lớn về giá cả doanh nghiệp
cần xây dựng lại hệ thống giá hạch toán.
Kế toán tổng hợp nguyên liệu, vật liệu phải tuân thủ nguyên tắc tính theo giá

kế toán hàng tồn kho áp dụng trong các doanh nghiệp để ghi chép, phân loại tổng
hợp số liệu đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình biến động tăng giảm của
nguyên vật liệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp
thông tin để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh, xác định giá trị vốn hàng bán.
° Kiểm tra tính hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua, bảo quản, sử
dụng, dự trữ nguyên vật liệu.
1.4. THỦ TỤC QUẢN LÝ NHẬP - XUẤT KHO NGUYÊN LIỆU, VẬT LIỆU VÀ CÁC
CHỨNG TỪ KẾ TOÁN LIÊN QUAN.
1.4.1. Thủ tục nhập kho nguyên liệu vật liệu.
Bộ phận cung cấp vật tư căn cứ vào kế hoạch mua hàng và hợp đồng mua
hàng ký kết, phiếu báo giá để tiến hành mua hàng. Khi hàng về đến nơi, nếu xét
thấy cần thiết có thể lập ban kiểm nghiệm để kiểm nhận và đánh giá hàng mua về
các mặt số lượng, khối lượng, chất lượng và quy cách, căn cứ vào kq kiểm nghiệm,
ban kiểm nghiệm lập "Biên bản kiểm nghiệm vật tư". Sau đó bộ phận cung cấp
hàng lập "Phiếu nhập kho" trên cơ sở hoá đơn, giấy báo nhận hàng và biên bản
kiểm nghiệm giao cho người mua hàng làm thủ tục nhập kho. Thủ kho sau khi cân,
đo, đong, đếm sẽ ghi số lượng thực nhập vào Phiếu nhập và sử dụng để phản ánh
số lượng nhập và tồn của từng thứ vật tư vào thẻ kho, trượng hợp phát hiện thừa,
thiếu, sai quy cách phẩm chất, thủ kho phải báo cáo cho bộ phận cung ứng biết và
cùng người giao lập biên bản. Hàng ngày hoặc định kỳ thủ kho chuyển giao Phiếu
nhập cho kế toán vật tư làm căn cứ để ghi sổ kế toán.
1.4.2. Thủ tục xuất nguyên liệu, vật liệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status