PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY VỐN TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH CÀ MAU
4.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG.
4.1.1. Phân tích sự biến động và cơ cấu vốn của Ngân hàng.
Nguồn vốn đối với mỗi Ngân hàng đều giữ một vai trò rất quan trọng, sự
tăng hay giảm của nguồn vốn đều ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng. Căn
cứ vào sự biến động của nguồn vốn chúng ta có thể thấy được cơ cấu nguồn vốn
như vậy là hợp lý hay không, và từ đó cũng có thể tìm ra một kết cấu tốt hơn cho
nguồn vốn của ngân hàng.
Kết cấu nguồn vốn của Ngân hàng bao gồm:
- Vốn huy động.
- Vốn điều hòa.
Bảng 4.1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005 – 2007).
Đơn vị tính: Triệu đồng
Nguồn vốn
Năm
Chênh lệch
2006/2005 2007/2006
2005 2006 2007
Tuyệt
đối
Tương
đối(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối(%)
Vốn huy động 222.032 365.941 382.815 143.909 64,82 16.874 4,61
Vốn điều hòa 1.328.451 1.108.481 931.771 -219.970 -16,56 -176.710 -15,94
Tổng cộng 1.550.483 1.474.422 1.314.586 -76.061 -4,91 -159.836 -10,84
Trang 2
Qua hình 4.1 cho thấy một cách tổng quát cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng
như sau:
+ Vốn huy động: vốn huy động tăng liên tục qua 3 năm, năm sau cao hơn
năm trước, cụ thể năm 2005 là 222.032 triệu đồng, chiếm 14% trên tổng nguồn
vốn, năm 2006 là 365.941 triệu đồng, chiếm 25% trên tổng nguồn vốn, tăng
143.909 triệu đồng, tương ứng 64,82% so với năm 2005, sang năm 2007 thì vốn
huy động vẫn tiếp tục tăng nhưng ít hơn năm 2006, chỉ tăng 16.874 triệu đồng,
tương ứng 4,61% so với năm 2006, tức là đạt được 382.815 triệu đồng, chiếm 29%
trên tổng nguồn vốn. Vốn huy động không ngừng gia tăng qua các năm. Đạt được
điều này là nhờ vào sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên trong việc
huy động vốn. Tuy nhiên tỷ trọng vốn huy động nhìn chung vẫn còn thấp và nguồn
vốn của Ngân hàng còn phụ thuộc rất cao vào vốn điều hòa từ Ngân hàng Công
Thương Việt Nam.
+ Vốn điều hòa: vốn điều hòa giảm liên tục qua 3 năm như sau: năm 2005
là 1.328.451 triệu đồng, chiếm 86% trên tổng nguồn vốn; năm 2006 là 1.108.481
triệu đồng, chiếm 75% trên tổng nguồn vốn, giảm 219.970 triệu đồng so với năm
2005; năm 2007 là 731.771 triệu đồng, chiếm 71% trên tổng nguồn vốn.
Tóm lại, cơ cấu vốn Ngân hàng dần có sự thay đổi, vốn huy động dần tăng tỷ
trọng, ngược lại vốn điều hòa giảm dần tỷ trọng. Vấn đề huy động vốn gây ra cho
Ngân hàng một sức ép không nhỏ trước nhu cầu vốn của khách hàng ngày càng
tăng. Trong những năm qua, vốn điều hòa luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
nguồn vốn. Đây là một hạn chế rất lớn của Ngân hàng, điều này chứng tỏ Ngân
hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào Ngân hàng cấp trên. Chính điều đó khiến Ngân
hàng không có sự độc lập trong hoạt động. Nhận thức được điều đó, mặc dù công
tác huy động vốn của Ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn nhiều khó khăn, nhất
là sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn nhưng Ngân
hàng đã phấn đấu không ngừng trong việc huy động vốn. Ngân hàng chú trọng
khâu quảng cáo, tiếp thị, quảng bá hình ảnh dưới nhiều hình thức khác nhau để thu
hút khách hàng. Kết quả đã dần nâng cao tỷ trọng vốn huy động, giảm bớt sự phụ
4
Trang 4
Bảng 4.2: CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005 – 2007).
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm Chênh lệch
2005 2006 2007 2006/2005 2007/2006
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Tuyệt đối Tương đối(%) Tuyệt đối Tương đối (%)
1. Tiền gửi của các doanh nghiệp
61.676 27,78 94.399 25,80 76.829 20,07 32.723 53,06 -17.570 -18,61
2. Tiền gửi tiết kiệm
90.356 40,70 188.494 51,51 227.943 59,54 98.138 108,61 39.449 20,93
3. Phát hành các công cụ nợ
69.923 31,49 82.980 2,27 76.486 19,98 13.057 18,67 -6.494 -7,83
4. Tiền gửi của các TCTD khác
77 0,03 69 0,02 1.557 0,41 -8 -10,39 1.488 2.156,52
Tổng cộng
222.032 100 365.941 100 382.815 100 143.909 64,81 16.874 4,61
(Nguồn: phòng kinh doanh)
5
52.906 68.508 52.314 15.602 29,49 -16.194 -23,64
- Tiền gửi có kỳ hạn
8.770 25.891 24.515 17.121 195,22 -1.376 -5,32
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Năm 2005 tiền gửi doanh nghiệp có số dư là 61.676 triệu đồng, chiếm tỷ
trọng là 27,78% trên tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng, mà trong đó chủ
yếu là tiền gửi không kỳ hạn. Sang năm 2006 loại tiền gửi này đạt 94.399 triệu
đồng, chiếm 25,80% trên tổng nguồn vốn huy động, đồng thời tăng 32.723 triệu
đồng với tốc độ là 53,06% so với năm 2005. Đến năm 2007 loại tiền gửi này giảm
nhẹ và chiếm tỷ trọng 20,07% trên tổng vốn huy động và giảm 17.570 triệu đồng
so với năm 2006. Nguyên nhân làm cho tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao
trong tổng vốn huy động qua các năm là do Ngân hàng đã tạo được lòng tin cho
khách hàng nhất là khách hàng là các doanh nghiệp, các công ty, Ngân hàng đã
cung cấp và đa dạng hóa hình thức thanh toán từ đó lôi kéo và thu hút được nhiều
doanh nghiệp đã gửi vốn lưu động của mình vào Ngân hàng để phục vụ cho việc
7
Trang 7
thanh toán. Đây chủ yếu là tiền gửi thanh toán không vì mục đích lợi nhuận nên số
dư tương đối cao nhưng không ổn định.
- Tiền gửi tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm là phần tiền nhàn rỗi trong dân cư,
Ngân hàng huy động được từ khoản này tăng rất mạnh qua 3 năm và có tỷ trọng
rất cao trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Bảng 4.4: TIỀN GỬI TIẾT KIỆM
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch
2006/2005 2007/2006
2005 2006 2007
Tuyệt
Trang 8
đồng chiếm 95,20% trong tổng tiền gửi tiết kiệm. Sang năm 2006 đạt được
183.782 triệu đồng tăng 97.761 triệu đồng với tốc độ tăng 113,65% so với năm
2005. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng tiếp tục tăng mạnh vào năm
2007, số tiền huy động được là 224.065 triệu đồng tăng 40.283 triệu đồng với tốc
độ tăng 21,92% so với năm 2006. Đạt được kết quả như trên là do lãi suất tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cho nên khách
hàng đầu tư nhiều vào loại tiền gửi này và xem đây là hình thức đầu tư đạt hiệu
quả cao. Mặt khác ở Thành Phố Cà Mau hiện nay, có rất nhiều hộ gia đình làm ăn
khá giả, trở nên khá giàu, lượng tiền nhàn rỗi ở đây là khá lớn. Mà Ngân hàng
Công Thương Cà Mau có trụ sở đặt tại trung tâm thành phố Cà Mau, hoạt động rất
có hiệu quả tạo được niềm tin đối với khách hàng. Cùng với sự hướng dẫn cặn kẽ
của cán bộ Ngân hàng nên việc huy động tiền gửi của người dân rất thuận lợi. Tuy
nhiên cũng còn phần lớn hộ làm ăn khá giả còn e ngại và chưa từng làm quen với
việc gửi tiền vào Ngân hàng, chưa thấy được lợi ích của việc gửi tiền và họ thường
cất tiền bằng cách mua vàng. Vì vậy Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa nguồn vốn
huy động từ các hộ gia đình, vì đây là khách hàng tiềm năng lớn mà Ngân hàng
cần khai thác trong thời gian tới.
- Phát hành các công cụ nợ: chủ yếu là kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có
giá khác.
Năm 2005 là 69.923 triệu đồng chiếm 31,49% trên tổng nguồn vốn huy
động, năm 2006 là 82.980 triệu đồng tăng 13.057 triệu đồng so với 2005, nhưng
sang năm 2007 lại giảm nhẹ là 6.494 triệu đồng so với năm 2006. Hình thức huy
động này hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách và chỉ đạo huy động cụ thể của
Trung ương trong từng thời kỳ. Tuy nhiên chi nhánh có khả năng phát huy tốt nhờ
biện pháp quảng bá, chăm sóc khách hàng để khơi tăng nguồn vốn này.
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: đây là tiền gửi của các tổ chức tín
dụng tại Ngân hàng Công Thương Cà Mau, khoản mục này chiếm tỷ lệ khá nhỏ
trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng, cụ thể như sau:
Năm 2005 là 77 triệu đồng; năm 2006 là 69 triệu đồng, giảm 8 triệu đồng
Vốn huy động/Tổng Nguồn vốn 14,32 24,82 29,12
Vốn điều hoà/Tổng Nguồn vốn 85,68 75,18 70,88
Tiền gửi doanh nghiệp/ Vốn huy động 27,78 25,79 20,07
Tiền gửi tiết kiệm/ Vốn huy động 40,69 51,51 59,54
(Nguồn: phòng kinh doanh)
a) Vốn huy động trên tổng nguồn vốn:
Hoạt động của Ngân hàng nên chủ yếu dựa trên vốn huy động, nó phải
chiếm tỷ trọng khoảng 70-80% trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thì mới tốt.
Trong những năm qua nguồn vốn huy động của Chi nhánh có tăng nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng.
Năm 2005 là 14,32%, năm 2006 tăng lên 24,82%, sang năm 2007 đạt 29,12%. Kết
quả đạt được như thế là do Chi nhánh đã khắc phục những hạn chế qua các năm và
áp dụng nhiều biện pháp tích cực trong đó quan trọng là chiến lược về khách hàng,
lãi suất được áp dụng cụ thể tuỳ theo quy định của hệ thống ngành. Tuy nhiên tỷ lệ
này vẫn chưa đạt được mức hiệu quả so với các Ngân hàng khác trong cùng địa
bàn. Ngân hàng cần tích cực đẩy mạnh công tác huy động vốn cao hơn nữa.
b) Vốn điều hoà trên tổng nguồn vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phụ thuộc của Chi nhánh vào Hội sở Trung
ương như thế nào. Số liệu trên bảng cho thấy tỷ lệ này giảm đều qua các năm, cụ
thể năm 2005 là 85,86%, năm 2006 là 75,18%, sang năm 2007 giảm xuống còn
70,88%. Tỷ lệ này giảm cho ta thấy chiều hướng tích cực trong công tác huy động
vốn của Ngân hàng. Với nguồn vốn điều hòa từ Trung ương, Ngân hàng có thể sử
dụng linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh vì thời hạn trả vốn ổn định và
11
Trang 11
Ngân hàng có thể quay vòng tiếp theo khi vẫn cần để kinh doanh. Mặt khác, hạn
chế của việc sử dụng vốn điều hòa là lãi suất vốn điều hòa còn ở mức cao. Cho
nên sử dụng vốn điều hòa nhiều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của chi
nhánh.
Là một Chi nhánh, sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương là không thể thiếu.
Tóm lại, qua việc xem xét các tỷ số trên ta thấy rằng khả năng huy động
vốn của Ngân hàng chưa cao nhưng có chuyển biến khá tốt. Ngân hàng cần cố
gắng hơn nữa để nâng cao tỷ trọng này lên, huy động được nguồn vốn đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Và vì trên địa bàn có nhiều Ngân hàng cạnh tranh huy
động vốn nên việc mở rộng thêm hình thức huy động để thu hút thêm khách hàng
là vô cùng cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
4.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY.
Công tác huy động vốn đã khó khăn, sử dụng làm sao cho hiệu quả đem lại
lợi nhuận cho Ngân hàng lại càng khó hơn. Chính điều đó, đòi hỏi cán bộ tín dụng
của Ngân hàng phải có trình độ năng lực chuyên môn cao trong công tác, tìm kiếm
khách hàng để cho vay, thẩm định các phương án cho vay. Bên cạnh việc tìm kiếm
khách hàng mới, Ngân hàng phải giữ lại khách hàng truyền thống, phải có chính
sách ưu đãi đối với những khách hàng này. Bên cạnh việc gia tăng nguồn vốn huy
động qua các năm thì hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh ngày càng được nâng
cao, chi nhánh đáp ứng khá sâu rộng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế và
dân cư.
Với phương châm “tăng cường huy động vốn để cho vay”, chi nhánh Ngân
hàng công thương Cà Mau đã huy động được một số lượng lớn vốn nhàn rỗi nhất
định trong dân cư. Ngân hàng dùng đồng tiền này để giải quyết nhu cầu vốn cho
người thiếu vốn nhằm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế, góp phần thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tế hoạt động của Ngân hàng
trong những năm qua đã giải quyết được phần nào nhu cầu vốn trong sản xuất,
kinh doanh của nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động.
13
Trang 13
Bảng 4.8: CÁC CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
năm 2006.
- Khác với doanh số cho vay và doanh số thu nợ, dư nợ của Ngân hàng giảm
liên tục qua 3 năm. Năm 2005, dư nợ là 1.266.019 triệu đồng; năm 2006, dư nợ là
1.159.103 triệu đồng, giảm 106.916 triệu đồng, tương ứng 8,45% so với năm
2005; năm 2007 dư nợ đạt 1.102.381 triệu đồng, giảm 56.722 triệu đồng so với
năm 2006.
- Trong 3 năm qua, nợ quá hạn của chi nhánh tương đối cao và tăng giảm
không đều. Năm 2005 là 68.448 triệu đồng; sang năm 2006 là 79.969 triệu đồng,
14
Trang 14
tăng 11.521 triệu đồng, tương ứng 16,83% so với năm 2005; nhưng đến năm 2007
là 53.040 triệu đồng, giảm 26.929 triệu đồng, tương ứng 33,67% so với năm 2006.
4.2.1. Doanh số cho vay.
Hoạt động cho vay luôn là vấn đề trọng tâm của Ngân hàng, góp phần thúc
đẩy sản xuất phát triển, đồng thời tạo nguồn lợi chính cho Ngân hàng. Với nguồn
vốn huy động được, Ngân hàng đã đẩy mạnh công tác đầu tư cho vay đến các
thành phần trong nền kinh tế. Ngân hàng đã đưa ra nhiều cơ chế tín dụng phù hợp
tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng, chủ động tìm kiếm
khách hàng để đầu tư cho vay, cho vay các dự án mang tính khả thi mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
a) Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng.
Để quản lí tốt hoạt động cho vay của mình, Ngân hàng phân doanh số cho
vay theo từng nhóm như: cho vay theo thời hạn, theo thành phần kinh tế,..…Phân
doanh số cho vay theo thời hạn là công tác mà mọi Ngân hàng đều thực hiện. Hoạt
động cho vay của Ngân hàng phân theo thời hạn diễn ra với tình hình sau:
15
Trang 15
Bảng 4.9: DOANH SỐ CHO VAY THEO THỜI HẠN.
Đơn vị tính: Triệu đồng
Thời hạn
đồng so với năm 2005, chiếm trên 97,90% trong tổng doanh số cho vay, nhưng
sang năm 2007 lại giảm nhẹ còn 4.762.619 triệu đồng, chiếm 94,57% trong tổng
doanh số cho vay. Nguyên nhân cho vay ngắn hạn tăng là do: lãi suất cho vay ngắn
hạn thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn nên được nhiều khách hàng lựa
chọn. Mặt khác, tỉnh Cà Mau có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, các hộ sản
xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động sản xuất của họ đều
mang tính chu kì. Vì vậy, họ cần vốn ngắn hạn để bổ sung nguồn vốn tạm thời
thiếu hụt của mình.
- Bên cạnh cho vay ngắn hạn, Ngân hàng Công Thương Cà Mau còn đầu tư
cho vay trung và dài hạn để cung cấp vốn cho người dân mua sắm tài sản, cải tiến
và đổi mới kĩ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình…Năm 2006, cho vay
trung, dài hạn đạt 118.346 triệu đồng so với năm 2005 giảm 5.818 triệu đồng,
tương ứng 4,69% và chiếm 2,10% trong tổng doanh số cho vay. Đặc biệt năm
2007, doanh số cho vay trung và dài hạn tăng khá cao, tăng 154.938 triệu đồng,
tương ứng 130,92% so với năm 2006. Doanh số cho vay trung và dài hạn tăng
mạnh tuy nhiên tỉ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng doanh số cho vay vẫn
còn thấp. Do có sự tăng như trên là do tỉnh Cà Mau chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ nên đòi hỏi cần phải có thời gian mới
thu hồi được vốn, do đó có nhu cầu vay vốn trung dài hạn cao. Mà các doanh
nghiệp được thành lập ở đây ngày càng nhiều nhu cầu về vốn trung và dài hạn của
họ rất lớn. Mặc dù vậy, nền kinh tế tại Cà Mau phát triển chưa mạnh nên họ còn e
ngại trong việc vay vốn Ngân hàng để đầu tư.
b) Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế.
Để hoạt động đầu tư của Ngân hàng đạt hiệu quả và có thể đánh giá chính
xác tình hình cho vay của Ngân hàng, ngoài việc phân doanh số cho vay theo thời
hạn thì việc phân doanh số cho vay theo thành phần kinh tế là không thể thiếu
được. Đối tượng cho vay của Ngân hàng gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh.
18
Trang 18