1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè
đồng nghiệp và gia đình trong suốt khoá cao học và trong thời gian nghiên cứu đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS. Phạm Ngọc Phong,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo về những lời nhận xét quý báu, đóng góp
đối với bản luận văn.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Học viện Ngân hàng về những bài giảng lý thú, hữu
ích cũng như các cán bộ khoa Sau đại học đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi đối với em
trong quá trình học tập.
Cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp ở NHCSXH tỉnh Nghệ An, cũng như các
bạn lớp cao học khoá 7 đã giúp đỡ, động viên trong quá trình viết luận văn.
Cuối cùng, em xin cảm ơn sự khuyến khích, quan tâm tạo điều kiện của những người
thân trong gia đình đã giúp em hoàn thành bản luận văn này.
Đây là đề tài liên quan đến hoạt động tín dụng của NHCSXH, có nhiều ý nghĩa trong
thực tiễn, chính vì vậy bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định.
Rất mong nhận được sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo, bạn bè và các cá nhân, tổ chức
quan tâm đến đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
1
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI
VỚI HỘ NGHÈO
4
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO 4
32
1.3.1.2. Kinh nghiệm cho vay xoá đói giảm nghèo của Ấn Độ 36
1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN
(2003 - 2007)
39
2.1. TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO TẠI NGHỆ AN 39
2.1.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An 39
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 41
2.1.2. Thực trạng đói nghèo tại tỉnh Nghệ An 43
2.1.2.1. Số lượng, cơ cấu và phân bố hộ đói nghèo ở Nghệ An 43
2.1.2.2. Đặc điểm và nguyên nhân đói nghèo tại Nghệ An 45
2.2. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, MÔ HÌNH 47
2
2
3
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH
NGHỆ AN
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển 47
2.2.2. Mô hình tổ chức và hoạt động 48
2.2.2.1. Mô hình tổ chức 48
2.2.2.2. Hoạt động của NHCSXH tỉnh Nghệ An 51
2.2.2.3. Cơ chế cho vay 55
2.3. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG
CSXH TỈNH NGHỆ AN
57
2.3.1. Nguồn vốn 57
2.3.2. Hoạt động cho vay 59
3.3.4.3. Hòm thư góp ý 72
3.3.4.4. Sự tham gia của chính quyền và các ban ngành vào hoạt động xoá đói
giảm nghèo
73
3.3.5. Đẩy mạnh cho vay theo dự án, nâng suất đầu tư cho hộ nghèo lên mức tối đa 73
3.3.5.1. Cho vay theo dự án vùng, tiểu vùng 73
3.3.5.2. Nâng suất cho vay hộ nghèo 74
3.3.5.3. Đa dạng hoá các ngành nghề đầu tư 75
3.3.6. Tăng cường hệ thống kiểm tra, giám sát 75
3
3
4
3.3.6.1. Ban đại diện hội đồng quản trị các cấp 75
3.3.6.2. Các tổ chức nhận uỷ thác các cấp 76
3.3.6.3. Ngân hàng chính sách xã hội các cấp 78
3.3.6.4. Người dân kiểm tra hoạt động ngân hàng 79
3.3.7. Đẩy mạnh công tác đào tạo 80
3.3.7.1. Đào tạo cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội 80
3.3.7.2. Đào tạo ban quản lý tổ vay vốn 80
3.3.7.3. Đào tạo cán bộ nhận uỷ thác 81
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 81
3.4.1. Đối với chính phủ 81
3.4.2. Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam 82
3.4.3. Đối với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương các cấp tại tỉnh Nghệ An 82
3.4.4. Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nguyên văn
1 BĐD Ban đại diện
2 ĐTN Đoàn thanh niên
Tình hình ủy thác qua các tổ chức hội đoàn thể tại NHCSXH tỉnh
Nghệ An
56
Bảng 2.5
Cơ cấu nguồn vốn cho vay hộ nghèo của NHCSXH tỉnh Nghệ An
(2003-2007)
57
Bảng 2.6
Một số chỉ tiêu chủ yếu trong cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng
Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn (2003- 2007)
59
Bảng 2.7
Tình hình dư nợ cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã
hội tỉnh Nghệ An phân theo khu vực và địa bàn đến 31/12/2007
60
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn vốn cho vay tại NHCSXH tỉnh Nghệ An 58
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức NHCSXH của NHCSXH tỉnh Nghệ An 50
5
5
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7- 8%; đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định. Lĩnh
vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên hợp quốc
đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như
khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu
vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng; tình trạng thiếu việc
làm nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất
cuộc XĐGN cho đất nước.
Tuy nhiên, sự nghiệp XĐGN vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ
ngày càng khó khăn, phức tạp; trong đó, lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo nhiều
vấn đề vẫn đang bức xúc như: Quy mô tín dụng chưa lớn, hiệu quả XĐGN
còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH chưa thực sự bền vững.v.v… Những
vấn đề trên là phức tạp, nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa được
nghiên cứu đầy đủ. Để giải quyết tốt vấn đề nghèo đói ở Việt Nam nói chung
và tín dụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có
hệ thống, khách quan và khoa học, phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước
cũng như toàn xã hội.
Với những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng
cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội
tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo, tín
dụng đối với hộ nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả cho vay hộ nghèo tại
NHCSXH tỉnh Nghệ An.
7
7
8
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo
tại NHCSXH tỉnh Nghệ An.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cho vay hộ nghèo tại chi nhánh
NHCSXH tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đến 2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp
quan sát khoa học, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp tổng
biệt là những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền
núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa…Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu
nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng
rộng. Đây là một thách thức lớn đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách và
giải pháp phù hợp, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện thành
công chương trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN. Muốn XĐGN bền vững, thì
điều đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi: Quan niệm thế nào là nghèo, người
nghèo là ai và vì sao họ nghèo? Để trả lời được các câu hỏi này chính xác,
9
9
10
phải hiểu rõ được bản chất và nội dung của đói nghèo.
Phải khẳng định rằng không có định nghĩa duy nhất về đói, nghèo. Đói
nghèo là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chế đến
tính dễ bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng
tham gia vào quá trình ra quyết định chung. Việt Nam thừa nhận định nghĩa
chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993:
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãn các
nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận
tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục, tập quán của địa
phương’’[5, trang 122]
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức
sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo
thường gắn chặt với nhau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau. Đói có mức độ
gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá. Còn nghèo, mức độ
thấp hơn và khó xoá hơn, chỉ có thể xoá dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
tương đối chỉ có thể giảm dần. Vì vậy, để giải quyết vấn đề đói nghèo, ta
thường dùng cụm từ "Xoá đói giảm nghèo".
Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình
XĐGN ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam:
Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp
ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo
về lương thực, thực phẩm;
Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực
phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung.
Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng một loạt các chỉ tiêu đánh giá về
nghèo đói và phát triển xã hội: Bộ LĐ- TB&XH (cơ quan thường trực của
Chính phủ trong tổ chức, triển khai, thực hiện XĐGN) dùng phương pháp dựa
11
11
12
trên thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo từng thời gian. Các hộ được xếp vào
diện nghèo, nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định.
Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo được
xác định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với tổng
dân số trong cùng một thời điểm.
Năm 1997, chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của chương trình quốc gia
(chuẩn nghèo cũ) để áp dụng cho thời kỳ từ năm 1996 - 2000 như sau:
Hộ đói là hộ có thu nhập dưới 13 kg gạo/người/tháng (tương đương
45.000 đồng cho tất cả các vùng).
Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng
như nhau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15 kg gạo/người/tháng (tương
đương 55.000 đồng).
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20 kg gạo/người/tháng
(tương đương 70.000 đồng).
- Vùng thành thị dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng).
Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo từ 40% trở lên, thiếu một trong các công
- Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ gia đình có mức
thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 200.000 đồng.
Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của Việt
Nam còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%.
Phương pháp xác định đói nghèo do Bộ LĐ- TB&XH nêu trên có
những ưu điểm nhất định: Dễ hiểu, dễ tính toán, dễ điều tra.
Việc đưa ra giới hạn đói nghèo của Bộ LĐ- TB&XH là phù hợp với
điều kiện của Việt Nam, tiện lợi cho việc Nhà nước có một bức tranh tổng
quát về đói nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn và miền núi để có thể đưa ra các
giải pháp XĐGN trong cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc bình
xét hộ nghèo tại một số địa phương (xóm, bản, xã, phường) đã không thực hiện
13
13
14
đúng theo hướng dẫn của Bộ LĐ- TB&XH về các tiêu chí đánh giá hộ nghèo,
cho nên đã dẫn đến tình trạng số hộ nghèo thực tế lớn hơn số hộ nghèo được
cấp thẻ (hộ nghèo trong danh sách) tại từng thời điểm (vấn đề này chúng tôi sẽ
đề cập cụ thể ở phần sau).
Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người
để tính tỷ lệ nghèo. Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi
phí cho một giỏ tiêu dùng, bao gồm lương thực và phi lương thực; trong đó,
chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho 1 người.
Các hộ được coi là thuộc diện nghèo, nếu mức thu nhập và chi tiêu không
đảm bảo giỏ tiêu dùng này.
Phương pháp đo lường đói nghèo bằng chi tiêu tỏ ra là một phương
pháp tốt. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của phương pháp này là nó đòi
hỏi rất nhiều số liệu, chi phí điều tra cao, thời gian dài.
1.1.3. Nguyên nhân đói nghèo
Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các
nhóm nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trường tự nhiên
Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình. Người nghèo tập trung ở các vùng
có điều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu
Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến
cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn,
đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở đã làm cho các vùng này càng bị
tách biệt với các vùng khác. “Năm 2000, khoảng 20- 30% trong tổng số 1.870
xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã
chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước
sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã; 50% số xã chưa đủ
công trình thủy lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã. Bên cạnh đó,
do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người dân thuộc diện cứu trợ đột
15
15
16
xuất hàng năm khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói
nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo còn lớn” [4, trang 19].
Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc
trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp
và bấp bênh. Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và
chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước, dẫn đến điều kiện sống của họ càng khó
khăn, một số người thất nghiệp. Các hộ nghèo thường có ít đất đai và tình
trạng không có đất đang có xu hướng tăng lên tại một số nơi. Thiếu đất đai
ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo, cũng như
khả năng đa dạng hóa sản xuất để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với
giá trị cao.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh
khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được
gặp khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong
hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một
loại công việc. Phụ nữ có học vấn thấp, dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà
mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn. Bất
bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây truyền
HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình dục.
“Nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm dân tộc, ngay cả khi tất cả các đặc
điểm khác nhau là giống nhau, chi tiêu của một người thuộc dân tộc thiểu số
cũng thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người Kinh hoặc người Hoa
13%. Trình độ giáo dục cũng tạo sự khác biệt đáng kể; một hộ gia đình chủ hộ
có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần 19% và nếu
chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31%. Con số này là 29% nếu
vợ/chồng có trình độ trung cấp và 48% nếu vợ/chồng có trình độ đại học” [3,
trang 20].
17
17
18
Ngoài yếu tố dân trí ra thì phong tục, tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã
hội như buôn bán thuốc phiện, khai thác khoáng sản bừa bãi và di dân tự do
cũng là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Một số vùng đồng bào dân tộc hiện
nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người ốm không đưa đến các trạm y tế
để chữa bệnh mà mời thầy cúng đến làm lễ để cúng “con ma” ám vào người
bệnh (họ cho rằng người ốm là do ma ám). Làm lễ cúng như thế, bệnh của
người ốm ngày càng nặng thêm và rất tốn kém về kinh tế, dẫn đến gia đình
nghèo càng nghèo thêm.
- Chính sách nhà nước
Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu hoặc không đồng bộ về chính
sách đầu tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách
khuyến khích sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế,
chính sách đất đai…đã ảnh hưởng đến kết quả XĐGN.
Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình
trạnh của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn
lực lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích
tăng trưởng trong các nhóm dân cư bao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc
vào đặc tính của tăng trưởng. Phân tích tình hình biển đổi về thu nhập của
nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn
và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo.
Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo
còn thiếu và yếu kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn,
đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của
nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động. Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn
chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu một số đạo luật quan trọng. Nhiều văn bản
pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây
không ít cản trở trong quá trình thực hiện. Chất lượng một số luật về kinh tế,
một số văn bản pháp quy dưới luật còn yếu.
19
19
20
Việc mở các lớp bồi dưỡng về khoa học kỹ thuật mới đối với hộ nghèo
còn ít, hiệu quả chưa cao. Nhà nước chưa định hướng cụ thể cho người dân
nên trồng cây gì, nuôi con gì cho phù hợp với điều kiện từng vùng, từng thời
kỳ. Rủi ro trong SXKD của hộ nghèo chưa được xử lý kịp thời để hỗ trợ họ.
1.1.3.2. Nhóm nguyên nhân do bản thân hộ nghèo
Hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ như: Tri thức, học vấn, kỹ năng lao
động, khả năng tiếp cận thị trường, sức khỏe.
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực (vốn SXKD, kiến thức và
kỹ năng làm ăn, tư liệu sản xuất: Đất sản xuất, công cụ lao động, sức kéo…);
trong đó, thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng để SXKD là một lực cản
lớn nhất trong việc thoát khỏi đói nghèo. Người nghèo thường không đủ điều
kiện để vay được nhiều vốn, trong khi nguồn vốn tự có khiêm tốn hoặc không
làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có,
chứ không bán cái mà thị trường cần). Người nghèo thường sống ở những
vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin
liên lạc, con cái thất học…Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc
làm, lười biếng lao động. Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân,
vừa là hệ quả của đói nghèo. Trong gia đình các hộ nghèo mặc dù nhân khẩu
nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị
tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường
xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất
thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi
với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai,
mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…). Với khả năng kinh tế mong manh của
các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra
nhưng bất ổn lớn trong cuộc sống của họ. “Các rủi ro trong SXKD đối với
người nghèo cũng rất cao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh
nghiệm làm ăn. Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo
21
21
22
cũng rất kém, do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng
khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa.” [4, trang 24].
Bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng
đói nghèo. Khi bị bệnh tật, hộ nghèo phải gánh chịu mất đi thu nhập từ lao
động và chi phí cao cho việc khám chữa bệnh; do vậy đẩy họ vào chỗ vay
mượn, cầm cố tài sản để trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng có ít cơ hội cho
người nghèo thoát khỏi đói nghèo. Trong khi đó, khả năng tiếp cận các dịch
vụ phòng bệnh của người nghèo còn hạn chế: Tình trạng sức khỏe của người
Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện, song tỷ lệ người nghèo mắc
các bệnh vẫn còn khá cao. Theo số liệu điều tra, mức sống năm 1998, số ngày
ốm bình quân của nhóm 20% người nghèo là 3,1 ngày/năm, so với 2,4
đến một số người làm ăn phi pháp, tệ nghiện hút ở thanh niên ngày càng gia
tăng…
23
23
24
1.1.4.2. Đói nghèo làm ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Mục tiêu tổng quát của Việt Nam trong giai đoạn 10 năm 2001- 2010
là: “ Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất, văn hoá, tinh thần cho nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực
con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao” [4, trang 36].
Để đạt được những mục tiêu này, cần phải tiếp tục chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế. Mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, tăng
cường cở sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cải thiện hệ thống giáo dục đào tạo để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường các lợi thế cạnh tranh trong
các cam kết thương mại song phương và đa phương nhằm chủ động hội nhập
kinh tế thế giới.
Tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường, nhằm tạo thêm việc làm, cải thiện sức khoẻ cộng đồng, XĐGN và
ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả các tệ nạn xã hội. Muốn thực hiện các mục
tiêu nêu trên, thì yếu tố con người là yếu tố đầu tiên và có tính chất quyết
định. Vì vậy, phát triển con người là mục tiêu hàng đầu, vừa là động lực to lớn
khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân và tập thể trong công cuộc xây dựng đất
nước giàu mạnh. XĐGN là một trong những chính sách xã hội hướng phát
triển con người, nhất là đối với nhóm người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia
Do vậy, các chính sách ban hành để thực thi chương trình XĐGN giữ
vai trò quan trọng, góp phần tích cực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng nhanh
và bền vững của nền kinh tế trên diện rộng với chất lượng cao, tạo cơ hội
thuận lợi để người nghèo và cộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội SXKD
và hưởng thụ được từ thành quả tăng trưởng, tạo điều kiện thu hẹp dần
25
25