Viêm họng dẫn đến thấp tim
Trẻ bị viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A có thể bị suy tim, phù phổi trong giai đoạn cấp dẫn tới tử
vong.
Bệnh viêm họng do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A là bệnh thường gặp ở trẻ em có nguy cơ dẫn đến hậu
quả nghiêm trọng là bệnh viêm cầu thận cấp hoặc thấp tim gây tử vong, di chứng ở van tim tồn tại suốt đời.
Đây là nỗi lo lắng của các bậc phụ huynh và là quan ngại đối với các bác sĩ nhi khoa.
Điều trị nghiêm ngặt
Thấp tim là bệnh thường gặp ở trẻ đang độ tuổi đi học, 5 đến 15 tuổi. Bệnh xảy ra sau khi bị viêm họng do
một loại vi trùng gọi là liên cầu khuẩn. Không phải tất cả những trẻ bị viêm họng đều bị thấp tim, khoảng
3% trẻ bị viêm họng mắc bệnh này. Sau đợt viêm họng do vi trùng liên cầu khuẩn, các cơ quan khác bắt đầu
bị tổn thương.
Tình trạng viêm nhiều khớp, đặc biệt là viêm các khớp lớn. Hiện tượng viêm chỉ thoáng qua, di chuyển
nhanh từ khớp này sang khớp khác, không kéo dài, từ nhẹ đến nặng. Ngoài ra, còn xuất hiện tình trạng múa
vờn, trẻ đang bình thường bắt đầu có những động tác vụng về như cầm đồ vật hay bị rơi, trẻ trở nên ngớ
ngẩn, tay chân múa máy, quờ quạng. Viêm tim diễn ra do viêm nội tâm mạc, viêm cơ tim, viêm màng ngoài
tim… Có trường hợp trẻ có thể gây phát ban ở da, có những nốt cục dưới da và múa giật.
Bệnh nguy hiểm ở chỗ có thể gây suy tim, phù phổi trong giai đoạn cấp dẫn tới tử vong. Những trường hợp
sưng tim nặng sẽ để lại sẹo trên tim, gây hẹp van tim, hở van tim, có thể cần phải phẫu thuật mới chữa khỏi.
Trẻ mắc bệnh này phải được bác sĩ chuyên khoa tim mạch điều trị tại bệnh viện. Trẻ cần phải nghỉ ngơi
tuyệt đối trên giường ít nhất là 2 tuần, những trường hợp nặng có khi phải nghỉ ngơi 6 tuần tới 3 tháng.
Nếu trẻ nào bị sưng tim, suy tim phải ăn
lạt: không nêm muối vào thức ăn, không
ăn nước mắm, nước tương và chỉ uống
nước khi khát. Bác sĩ sẽ cho trẻ uống
thuốc trong 10 ngày để điều trị viêm họng
và uống thuốc chống sưng khớp, sưng tim
ít nhất là 6 tuần. Những trẻ bị suy tim còn
được cho thêm các thuốc điều trị suy tim.
Gia đình phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn
của bác sĩ khi cho trẻ uống các thuốc
chống sưng và điều trị suy tim này, không
Bouillaud's syndrome: Heart inflammation caused by rheumatism. The inner lining of the heart
(endocardium) as well as the membrane surrounding the heart (pericardium) become inflamed. More
detailed information about the symptoms, causes, and treatments of Bouillaud's syndrome is available
below.
**********************************************************************************
Vi khuẩn liên cầu và bệnh thấp tim
Bệnh thấp tim tức là bệnh về tim nhưng có mối liên hệ giữa viêm khớp và bệnh tim. Bệnh thường gặp chủ
yếu ở trẻ em và thanh, thiếu niên. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh thấp tim thuộc lứa tuổi học sinh (từ 7-15
tuổi) chiếm khoảng 0,3%. Trong dân gian hay có câu “thấp khớp đớp tim”. Thực ra bệnh thấp tim còn liên
quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác nhưng chủ yếu vẫn là tác nhân gây bệnh do vi khuẩn liên cầu, viêm
họng và sự đáp ứng của cơ thể. Cũng xin lưu ý rằng trong họ vi khuẩn liên cầu không phải bất kỳ vi khuẩn
liên cầu nào cũng có khả năng gây nên bệnh thấp tim mà chỉ có vi khuẩn liên cầu nhóm A (Streptococcus
pyogenes) mới là kẻ thù đáng sợ, mặt khác cũng không phải bất kỳ người nào nhiễm liên cầu nhóm A cũng
mắc bệnh thấp tim.
Tại sao liên cầu nhóm A (Streptococcus pyogenes) là căn nguyên gây
bệnh thấp tim?
Họ vi khuẩn liên cầu gồm nhiều loài khác nhau, chúng có một số đặc điểm sinh học giống nhau nhưng lại có
nhiều đặc điểm khác nhau, một số đặc điểm sinh học có ở loài liên cầu này nhưng lại không có ở loài liên
cầu khác và ngược lại. Người ta phân chia liên cầu thành nhiều nhóm được đặt tên từ A đến R. Mỗi nhóm
liên cầu gây nên một số bệnh khác nhau nhưng chỉ có liên cầu nhóm A mới có khả năng gây bệnh thấp tim ở
người.
Thực ra liên cầu nhóm A không chỉ gây nên bệnh thấp tim mà chúng còn có khả năng gây nhiều bệnh có
liên quan đến bệnh thấp tim. Bệnh hay gặp nhất do liên cầu nhóm A gây ra là viêm họng mà hay gặp là thể
viêm amidan. Trong bệnh viêm amidan thường amidan sưng to, có khi có hốc, trong các hốc có mủ. Khi
amidan bị viêm người ta có thể tìm thấy vi khuẩn liên cầu nhóm A bằng nuôi cấy phân lập (xin lưu ý là
nhuộm trực tiếp từ bệnh phẩm lấy từ chất nhày họng hoặc mủ ở amidan bằng phương pháp gram chỉ xác
định được hình thể và tính chất bắt màu, cách sắp xếp của vi khuẩn liên cầu chứ không xác định được là liên
cầu thuộc nhóm nào).
Về mặt cấu tạo có giả thuyết cho rằng, liên cầu nhóm A có cấu trúc vách tế bào, một số tổ chức có cấu trúc
gần giống với cấu trúc của bao khớp, cầu thận, gờ cơ, cột cơ của tim người do vậy khi vi khuẩn xâm nhập
cho phép bác sĩ sẽ kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng và tư vấn để bệnh nhi được tiêm phòng thấp ở các
khoa nhi hoặc bệnh viện nhi. Tại đây bệnh nhân sẽ được theo dõi một cách cẩn thận cả về các triệu chứng
lâm sàng, cả về xét nghiệm trong một thời gian do bác sĩ điều trị chỉ định.
PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu - SKĐS
*************************************************************************************
Thuốc điều trị thấp tim
Thấp tim là một thể lâm sàng của bệnh tự miễn dịch (nghĩa là cơ thể tự sinh ra kháng thể chống lại
chính các cơ quan tổ chức của mình), xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn bêta tan huyết nhóm A (LCK -
A) ở đường hô hấp trên gây tổn thương ở mô liên kết của nhiều cơ quan, trong đó quan trọng nhất là
tổn thương khớp và tim. Các tổn thương tại khớp thường chỉ thoảng qua và không để lại di chứng gì,
nhưng tổn thương tại tim (chủ yếu các van tim) lại để lại những hậu quả nhiều khi rất nặng nề (do
vậy bệnh còn được gọi là thấp tim) như hở van, hẹp van hoặc kết hợp.
Biểu hiện lâm sàng
- 50 - 70% số bệnh nhân mở đầu bằng viêm họng. Có trường hợp viêm họng nhẹ thoảng qua biểu hiện bằng
đau họng đơn thuần, cũng có khi không có biểu hiện viêm họng ban đầu (30 - 50%).
Sau viêm họng 7 - 15 ngày các triệu chứng của thấp khớp cấp xuất hiện: bệnh nhân sốt cao 38 - 390C, tim
đập nhanh, da tái xanh, vã mồ hôi.
- Viêm khớp: Thường biểu hiện bằng viêm khớp cấp di chuyển từ khớp nọ sang khớp kia. Các khớp sưng
nóng đỏ đau nhiều, hạn chế vận động do sưng đau kéo dài vài ngày đến một tuần rồi khỏi chuyển sang khớp
khác, không để lại di chứng gì.
Các khớp hay bị là các khớp gối, cổ chân, khuỷu, vai, rất ít gặp các khớp nhỏ ngón chân tay, hầu như không
gặp ở cột sống và khớp háng. Đôi khi triệu chứng ở khớp rất kín đáo, chỉ có cảm giác đau mỏi hoặc viêm
khớp kéo dài ít di chuyển, viêm các khớp nhỏ.
- Các biểu hiện trên tim: thấp khớp có thể gây tổn thương trên cả 3 phần của tim: viêm màng trong tim,
viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim. Tỷ lệ tổn thương tim gặp trong khoảng 30 - 90% bệnh nhân thấp tim.
Điều trị
Cần phải tiến hành đồng thời điều trị và dự phòng thấp tim bởi chúng liên quan chặt chẽ với nhau.
Chế độ chăm sóc
Nghỉ ngơi tuyệt đối trong thời gian bệnh tiến triển, giữ ấm, ăn nhẹ. Ở những bệnh nhân không có triệu
chứng viêm cơ tim, có thể bất động trong thời gian 2 - 3 tuần, nếu có viêm cơ tim thì thời gian bất động phải
Tích cực phát hiện và điều trị viêm họng do LCK bằng: Benzathin penicillin tiêm bắp, hoặc penicillinV,
hoặc erythromycin uống.
TS. Nguyễn Ngọc Hà
***********************************************************************************
Thuốc trị thấp tim
Thấp tim là một thể lâm sàng của bệnh tự miễn dịch (nghĩa là cơ thể tự sinh ra kháng thể chống lại
chính các cơ quan tổ chức của mình), xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A (LCK - A) ở
đường hô hấp trên gây tổn thương ở mô liên kết của nhiều cơ quan, trong đó quan trọng nhất là tổn
thương khớp và tim. Các tổn thương tại khớp thường chỉ thoảng qua và không để lại di chứng gì,
nhưng tổn thương tại tim (chủ yếu các van tim) lại để lại những hậu quả nhiều khi rất nặng nề (do
vậy bệnh còn được gọi là thấp tim) như hở van, hẹp van hoặc kết hợp.
Biểu hiện
- 50 - 70% số bệnh nhân mở đầu bằng viêm họng. Có trường
hợp viêm họng nhẹ thoảng qua biểu hiện bằng đau họng đơn
thuần, cũng có khi không có biểu hiện viêm họng ban đầu (30-
50%).
Sau viêm họng 7 - 15 ngày, các triệu chứng của thấp khớp cấp
xuất hiện: bệnh nhân sốt cao 38 - 39oC, tim đập nhanh, da tái
xanh, vã mồ hôi.
- Viêm khớp: Thường biểu hiện bằng viêm khớp cấp di chuyển từ khớp nọ sang khớp kia. Các khớp sưng
nóng đỏ, đau nhiều, hạn chế vận động do sưng đau kéo dài vài ngày đến một tuần rồi khỏi chuyển sang
khớp khác, không để lại di chứng gì.
Bệnh thấp tim có thể gây nên di chứng van tim nặng.
Các khớp hay bị là các khớp gối, cổ chân, khuỷu, vai, rất ít gặp các khớp nhỏ ngón chân tay, hầu như không
gặp ở cột sống và khớp háng.
Đôi khi triệu chứng ở khớp rất kín đáo chỉ có cảm giác đau mỏi hoặc viêm khớp kéo dài ít di chuyển, viêm
các khớp nhỏ.
- Các biểu hiện trên tim: Thấp khớp có thể gây tổn thương trên cả 3 phần của tim: viêm màng trong tim;
viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim. Tỷ lệ tổn thương tim gặp trong khoảng 30 - 90% bệnh nhân thấp tim.
+ Viêm màng trong tim: Có thể thấy tiếng tim bị mờ hoặc xuất hiện các tiếng thổi tại vị trí các huyệt nghe
hiện hạt thấp dưới da; đa số là trẻ em, là những hạt bé kích thước 5 – 20mm, nằm ngay dưới da thành từng
nhóm không dính vào da nhưng dính vào nền xương quanh các khớp viêm (chân, gối, khuỷu), xuất hiện
cùng các triệu chứng của khớp và tim là triệu chứng của thấp hoạt động. Thường mất đi sau vài tuần không
để lại dấu vết gì. Một số khác có thể xuất hiện nổi ban, ban màu hồng hay vàng nhạt có gờ hình nhiều vòng,
vùng trung tâm thì nhợt nhạt, thường ở ngực, bụng, vai, gốc chi, không bao giờ ở mặt. Ngoài ra còn có thể
gặp triệu chứng múa vờn...
Dự phòng thấp khớp cấp
Rất quan trọng, đây là một mắt xích chính trong việc kiểm soát bệnh. Cần phải có kế hoạch cẩn thận và tiến
hành ngay từ giai đoạn cấp của bệnh.
Phòng thấp thứ phát: Ngăn ngừa các đợt thấp tái phát ở người đã bị thấp khớp cấp hoặc thấp tim.
Benzathin penicillin tiêm bắp thịt. Cứ 3 tuần tiêm nhắc lại một lần.
PenicilinV.
Thời gian phòng ngừa thấp tim:
- Thấp khớp không có tổn thương tim: Dự phòng thấp trong 5 năm.
- Thấp tim có di chứng nhẹ ở một van tim: người lớn dự phòng 5 năm, trẻ em dự phòng cho tới 18-20 tuổi.
- Thấp tim di chứng van tim nặng cần dự phòng thấp tái phát cho tới 40 tuổi hoặc suốt đời.
Phòng thấp tiên phát: Phòng ngừa đợt thấp đầu tiên lúc trẻ chưa bị thấp.
Tích cực phát hiện và điều trị viêm họng do LCK bằng:
Benzathin penicillin tiêm bắp thịt một lần duy nhất, hoặc penicilin V uống, hoăc erythromycin uống.
TS.BS. Nguyễn Ngọc Hà - skđs
**********************************************************************************
TTO - Cháu bị hở van hai lá, hiện đang điều trị tiêm phòng thấp (tiêm đã được 12 năm và bác sĩ nói có thể
phải tiêm suốt đời).
Theo kết quả siêu âm và điện tim của cháu, bác sĩ kết luận như sau: - Nhịp tim: 68 - Huyết áp: 110/70mmHg
- Màng ngoài tim: không có dịch - Hở hai lá: 1.5/4 , van dày nhẹ, lá trước sa vào nhĩ trái. Diện tích dòng hở
hai lá: 3.47
cm2
- Kích thước và chức năng tim trong giới hạn bình thường - Áp lực ĐMP ở giới hạn bình
thường cao( 30mmHg) - Hở nhẹ van ĐMC.
Cháu thỉnh thoảng còn có dấu hiệu của bệnh viêm phế quản (có mua thuốc về uống). Với bệnh tình của cháu
đầu của bệnh van tim ở người trẻ tuổi. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 6-15 tuổi, nhưng không ít
trường hợp xảy ra ở lứa tuổi 20 hoặc hơn nữa. Ngày nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân gây
bệnh là do nhiễm Liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A đường hô hấp trên (
Streptococcus A
).
I. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh
Cho đến nay, thế giới đã thống nhất dùng tiêu chuẩn Jones được điều chỉnh năm 1992 (Bảng 11-
1). Chẩn đoán xác định thấp tim khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu
hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy
dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính
kèm 2 tiêu chuẩn phụ.
Bảng 11-1. Tiêu chuẩn Jones được điều chỉnh năm 1992 trong chẩn đoán thấp tim.
Tiêu
chuẩn
chính
1. Viêm tim: gặp 41-83% số bệnh nhân thấp tim.
Viêm tim có biểu hiện lâm sàng từ nhịp nhanh, rối
loạn nhịp (hay gặp bloc nhĩ thất cấp 1), hở van hai
lá hoặc van động mạch chủ, viêm màng ngoài tim,
viêm cơ tim, đến suy tim...
2. Viêm khớp: Gặp khoảng 80 %, là triệu chứng
rất có ý nghĩa nhưng không phải đặc hiệu hoàn
toàn. Biểu hiện là sưng đau khớp kiểu di chuyển và
không bao giờ để lại di chứng ở khớp.
3. Múa giật của Sydenham: là rối loạn vận động
ngoại tháp, với vận động không mục đích và không
cố ý.
4. Nốt dới da: nốt có đường kính 0,5-2cm, nổi dư-
ới da, di động tự do, không đau, có thể đơn độc
hoặc tập trung thành đám, thường thấy ở gần vị trí
Kháng nguyên là các protein M,T và R ở lớp vỏ ngoài của liên cầu A là yếu tố quan trọng nhất gây
phản ứng chéo với cơ thể. Khi liên cầu xâm nhập vào cơ thể chúng ta, cơ thể sẽ sinh ra các
kháng thể chống lại vi khuẩn đó, nhưng vô tình đã chống lại luôn các protein ở các mô liên kết
của cơ thể, nhất là các mô liên kết ở van tim. Trong đó, protein M là yếu tố không những đặc
hiệu miễn dịch mà còn là yếu tố gây thấp mạnh nhất.
Có khoảng 3% số bệnh nhân bị viêm đường hô hấp trên do liên cầu nhóm A mà không được điều
trị triệt để sẽ tiến triển thành thấp tim, và có khoảng 50% số bệnh nhân đã bị thấp tim sẽ bị tái
phát các đợt thấp tim sau đó. Nhiễm liên cầu ngoài da thường ít khi gây thấp tim.
III. Triệu chứng lâm sàng
A. Các biểu hiện chính
1. Viêm tim:
a. Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41-83% số
bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong
tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim.
b. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng
hoặc tử vong.
c. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm tr-
ương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…
d. Suy tim thường ít gặp ở giai đoạn cấp, nhưng nếu gặp thì thường là biểu hiện nặng do viêm cơ
tim.
e. Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở
van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp
hơn và thường kèm theo hở van hai lá.
f. Viêm màng ngoài tim có thể gây đau ngực, tiếng cọ màng tim, tiếng tim mờ…
2. Viêm khớp:
a. Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu.
b. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân,
cổ tay, khuỷu, vai...) và có tính chất di chuyển.
c. Viêm khớp đáp ứng rất tốt với Salycilate hoặc Corticoid trong vòng 48 giờ. Nếu trong trường
hợp đã cho Salycilate đầy đủ mà trong vòng 48 giờ viêm khớp không thuyên giảm thì phải nghĩ
b. Đau khớp được xác định là chỉ đau khớp chứ không có viêm (sưng, nóng, đỏ).
c. Ngoài ra, có thể gặp các biểu hiện như đau bụng, viêm cầu thận cấp, viêm phổi cấp do thấp
tim, đái máu, hoặc viêm màng não… Đây là những dấu hiệu không trong tiêu chuẩn chẩn đoán
thấp tim.
B. Các xét nghiệm chẩn đoán
1. Các dấu hiệu là bằng chứng của nhiễm liên cầu nhóm A (GAS):
a. Có thể xác định thông qua ngoáy họng tìm thấy liên cầu (nuôi cấy hoặc xét nghiệm kháng
nguyên nhanh) hoặc các phản ứng huyết thanh thấy tăng nồng độ kháng thể kháng liên cầu.
b. Xét nghiệm ASLO (AntiStreptoLysin O) là một phản ứng thông dụng hiện nay. Sự tăng nồng độ
ASLO trên 2 lần so với chứng (khoảng trên 310 đơn vị Todd) có giá trị xác định dấu hiệu nhiễm
GAS. Tuy nhiên ASLO còn có thể tăng trong một số bệnh lý khác như: viêm đa khớp, bệnh
Takayasu, Schoenlein-Henoch, hoặc thậm chí ở một số trẻ bình thường.
c. Để xác định bằng chứng nhiễm GAS trước đó có thể dùng xét nghiệm ASLO nhắc lại nhiều lần
hoặc một số kháng thể khác như: anti-DNAase B; anti-hydaluronidase; anti-streptokinase; anti-
ADNase…
d. Hiện nay có một số que thử nhanh có sẵn để thử với một số kháng thể kháng GAS, nhưng độ
chính xác không cao và có ý nghĩa tham khảo.
2. Sinh thiết:
a. Sinh thiết cơ tim có thể cho thấy hình ảnh hạt Aschoff, là hình ảnh hạt thâm nhiễm gặp trong
thấp tim. Hạt này gặp ở khoảng 30% số bệnh nhân có các đợt thấp tái phái và thường thấy ở
vách liên thất, thành thất, tiểu nhĩ.
b. Các hình ảnh tế bào học còn cho thấy hình ảnh viêm nội mạc tim với đặc trưng là phù và thâm
nhiễm tổ chức màng van tim.
c. Sinh thiết cơ tim không có ích trong giai đoạn cấp của thấp tim, nó chỉ nên chỉ định và có giá trị
phân biệt khi thấp tim tái phát và khó phân biệt với các bệnh thấp khớp mạn khác.
3. Một số xét nghiệm máu khác:
a. Tăng bạch cầu, thiếu máu nhược sắc/bình sắc.
b. Tốc độ máu lắng tăng và protein C phản ứng tăng.
4. X quang tim phổi: Thường thì không có biến đổi gì đặc biệt trong thấp tim. Một số trường
hợp có thể thấy hình tim to, rốn phổi đậm hoặc phù phổi.
4. Chế độ nghỉ ngơi trong giai đoạn cấp là rất quan trọng. Đầu tiên là nghỉ tại giường, sau là vận
động nhẹ trong nhà rồi vận động nhẹ ngoài trời và trở về bình thường (Bảng 11-2). Chế độ này
tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Bảng 11-2. Chế độ nghỉ ngơi đối với bệnh nhân thấp tim.
Chế độ Chỉ viêm
khớp
Viêm tim
nhẹ
Viêm tim
vừa
Viêm tim
nặng
Nghỉ tại giường1 - 2 tuần 2 – 3 tuần4 - 6 tuần 2 - 4 tháng
Vận động nhẹ
trong nhà
1 - 2 tuần 2 – 3 tuần4 - 6 tuần 2 - 3 tháng
Vận động nhẹ
ngoài trời
2 tuần 2 – 4 tuần1 - 3
tháng
2 - 3 tháng
Trở về sinh
hoạt bình th-
ường
Sau 4 - 6
tuần
Sau 6 - 10
tuần
Sau 3 - 6
tháng