LÝ CÔNG UẨN VÀ CHIẾU DỜI ĐÔLý Công Uẩn, sinh ngày 12 – 2 – 974 (năm Giáp Tuất), mất ngày 3
– 3 – 1028 (năm Mậu Thìn). Ông người làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp,
nay là làng Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thuở
nhỏ, từ 3 tuổi làm con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân (chùa Cổ Pháp),
sau làm tiểu ở chùa Lục Tổ (còn gọi chùa Tiêu Sơn, nay thuộc xã Tương
Giang, huyện Từ Sơn) do Thiền sư Lý Vạn Hạnh trụ trì. Nhờ hai vị thiền
sư nổi tiếng họ Lý trực tiếp nuôi dạy, Công Uẩn đã trở thành một thanh
niên tuấn tú, văn võ song toàn, được sung vào đội quân cấm vệ triều Tiền
Lê (980 – 1009). Về sau ông trở thành một trong những nhân vật trụ cột
của nhà Tiền Lê, làm quan đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Năm
1009, sau khi vua Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) qua đời, với sự ủng hộ của
các thiền sư (đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh), Lý Công Uẩn được các
quan trong triều đương thời (đứng đầu là quan Chi hậu Đào Cam Mộc) suy
tôn làm vua vào ngày Quý Sửu, tháng Mười, lập ra nhà Lý, lấy năm sau
(1010) làm niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất. Trong 20 năm ở ngôi
(1009 – 1028), ngoài những cống hiến quan trọng, có ý nghĩa cải cách đối
với đất nước trên nhiều phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa…, Lý
Công Uẩn đã có một đóng góp mang tầm vóc lịch sử vô cùng lớn, đó là
việc ông quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (Thăng Long). Thiên đô
chiếu (Chiếu dời đô) ra đời trong hoàn cảnh ấy, trở thành tác phẩm tiêu
biểu nhất cả về nội dung và hình thức cho thể loại văn chiếu và có một vị
trí quan trọng trong lịch sử văn học cổ dân tộc.
Nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XI đã diễn ra một sự kiện lịch sử đặc
biệt quan trọng, đánh dấu sự phục hưng dân tộc, đó là cuộc dời đô từ Hoa
Lư về Đại La (tức Thăng Long sau này). Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi
và sự nghiệp của Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), vị vua sáng nghiệp triều Lý
(1009 – 1225), một trong những triều đại hùng mạnh nhất trong lịch sử chế
độ phong kiến Việt Nam.
đều là do Vạn Hạnh làm). Để khích lệ Lý Công Uẩn sẵn sàng tinh thần
nắm giữ ngôi báu, Thiền sư Vạn Hạnh nói : “Thân vệ là người khoan thứ
nhân từ được lòng dân, lại nắm binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân
chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa”. Rồi những cuộc vận động
ngầm trong triều của quan Chi hậu Đào Cam Mộc – một người quyết đoán
và chịu ảnh hưởng của Vạn Hạnh…Tất cả đều nhằm chuẩn bị dư luận và
hậu thuẫn tích cực cho Lý Công Uẩn mọi điều kiện để có thể kế vị ngai
vàng.
Ngày Tân hợi tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lê Long Đĩnh mất,
Lý Công Uẩn với vai trò Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ cùng với Nguyễn
Đê, Hữu thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, mỗi người cầm đầu 500 quân Tùy
long vào cung canh giữ. Giữa lúc tình hình trong triều diễn biến khẩn
trương và đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nói với Lý Công Uẩn:
“Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm hiện ra rồi,
đó là cái họa không thể che dấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ
trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì
nữa?”. Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, không khác gì ý của Vạn
Hạnh”. Đó cũng là lý do để ngai vàng khó có thể lọt khỏi tay nhân vật vốn
đã được giới sư sãi và các quan lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ủng hộ.
Vì vậy, ngay sau khi Long Đĩnh mất, quan Chi hậu Đào Cam Mộc đã
cùng với những người chủ sự họp bàn, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng
quang. Ngày Quý sửu, tháng Mười năm Kỷ dậu (1009), Lý Công Uẩn
chính thức lên làm vua, lập ra nhà Lý. Cuộc chuyển giao quyền lực từ họ
Lê sang họ Lý nhìn chung đã diễn ra một cách êm thấm, hòa bình. Một
triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn đã thay thế cho triều Tiền Lê vốn đã
suy bại từ nhiều năm trước. Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng và phát
triển.
Nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng bác ái của Phật giáo chắc chắn
đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách và chính sách cai trị của Lý
Thái Tổ. Nhận xét về ông thời kỳ ở ngôi, các sử thần nhà Lê sau này viết:
lưu của ba con sông (sông Lô, sông Hồng, sông Đà), kinh tế, cư dân phát
triển, giao lưu với các vùng, miền trong nước thuận lợi. Văn Lang không
chỉ xứng đáng là đầu não chính trị của cả nước, mà còn đóng vai trò một
trung tâm kinh tế, một trạm dịch – trung chuyển các sản vật từ miền
thượng du xuống vùng hạ bạn và ngược lại, quyết định không nhỏ đến sự
phát triển của đất nước ở buổi ban đầu.
Thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán An Dương Vương dời đô
xuống miền Cổ Loa (Đông Anh – Hà nội). Đây là cuộc dời đô lần thứ
nhất, từ miền trung du xuống vùng trung châu đồng bằng, phản ánh xu thế
phát triển đi lên của dân tộc. Cổ Loa xứng đáng là kinh đô đất nước ở thời
kỳ mới, khi mà cha ông ta đã đủ điều kiện để chiếm lĩnh vùng châu thổ phì
nhiêu và tiến ra biển, hoàn thiện một mô hình quốc gia dân tộc dựa trên
nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước.
Thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938), nước mất, kinh đô không còn,
nhưng các đô thị trung tâm của đất nước vẫn hình thành. Ở nửa đầu thiên
niên kỷ I, các đô thị trung tâm đó chính là Luy Lâu, Long Biên (nay thuộc
Bắc Ninh). Đến nửa sau của thiên niên kỳ này, vai trò trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa của đất nước dưới ách cai trị của các nhà Tùy, Đường lại
thuộc về Tống Bình – Đại La. Tuy vậy, nền cai trị của chính quyền Hán
tộc chưa bao giờ bình yên và có đến 2 lần bị chia cắt bởi các cuộc khởi
nghĩa giành độc lập của nhân dân ta, dẫn đến sự ra đời của kinh đô Mê
Linh (nay thuộc Vĩnh Phúc) của Hai Bà Trưng vào những năm 40 – 43 và
kinh đô nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế giữa thế kỷ VI.
Đáng lưu ý là việc lập đô của Lý Nam Đế (tức Lý Bí). Khi mới khởi
binh chống ách đô hộ nhà Lương, khí thế rất mạnh, quân khởi của Lý Bí
tiến đánh thành Long Biên, khiến Tiêu Tư (Thứ sử Giao Châu) hoảng sợ,
phải chạy về Quảng Châu. Thành Long Biên nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc
Ninh ngày nay, trong khu vực Thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong.
Thành Long Biên từ khi Lý Bí chiếm được (năm 542) đã trở thành trung
tâm của lực lượng khởi nghĩa.
và hiểm họa ngoại xâm vẫn còn thường trực ; các vương triều Đinh, Tiền
Lê đều vừa non trẻ, vừa mới mẻ. Tất cả đều khiến ông cha ta không thể
không tính đến việc phòng thủ. Không những thế, ở nước ta thế kỷ X chính
là một thế kỷ từ đầu đến cuối “rền vang tiếng trống trận và ngựa hí quân
reo”. Tất cả các thập kỷ và tháng năm của nó đều căng thẳng, sôi động với
những kế hoạch và diễn biến bạo lực. Trong bối cảnh ấy, khi mà nền thống
nhất quốc gia chưa vững chắc, khi mà chính thể trung ương tập quyền
chưa thật sự vững mạnh, người ta rất cần một vùng đất lập đô, có thể
không rộng lắm, nhưng phải có khả năng phòng thủ. Đinh Bộ Lĩnh, người
sáng lập kinh đô Hoa Lư, và Lê Hoàn, người tiếp tục sử dụng Hoa Lư làm
kinh đô – đều là những nhà quân sự lớn. Bởi thế, không lấy làm lạ khi các
ông đều lựa chọn Hoa Lư và khai thác vùng đất này từ lợi thế quân sự.
Trên thực tế, địa thế tự nhiên của Hoa Lư đáp ứng đầy đủ cho nhu
cầu phòng thủ đó. Những dãy núi đá vôi hiểm trở, quây gần kín, khoanh lại
vào trong lòng núi những thung lũng khá bằng phẳng. Chỉ cần kết nối bịt
kín kẽ hở giữa các dãy núi bằng những đoạn hào lũy là có ngay được một
vòng thành lợi hại, bảo vệ vững chắc cho các cung điện, kho tàng, doanh
trại… được xây dựng bên trong. Thành Hoa Lư rộng khoảng 300 hécta,
chia làm hai khu vực; khu thành Ngoại và khu thành Nội, với tất cả 10
trường thành nhân tạo.
Nặng về khía cạnh phòng thủ, nhưng Hoa Lư vẫn có những điều kiện
nhất định về giao thông để liên lạc với các vùng miền trong nước, đảm bảo
vai trò của một kinh đô. Hoa Lư nằm giữ hai tuyến đường bộ quan trọng
bậc nhất của nước ta thời ấy, đó là con đường cổ thiên lý mã ở phía Đông
(nay là quốc lộ 1A) chạy dọc dài đất nước, cách kinh thành chừng 5 km
chiều ngang; và con đường thượng đạo (đường Lai Kinh) cũng rất cổ, có
trước cả đường thiên lý mã, chạy trên các triền núi phía Tây, nối miền Bắc
với miền Trung đất nước, được sử dụng cho đến tận thế kỷ XVIII mới bị
sạt lấp. Hồi thế kỷ X, từ Hoa Lư đều có các đường ngang nối với các tuyến
đường cổ nói trên. Năm 967, chính Đinh Bộ Lĩnh đã kéo quân từ Hoa Lư
sâu từ 1 đến 3 – 4m. Đó là các đồ đất nung và gốm tráng men, tiền cổ,
gạch : “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang Tây quân”…, gáo múc
kim loại (dùng cho lò nấu đồng), dấu vết của thóc, gạo, xương voi, ngựa
(động vật chuyên chở)….
Về phong thủy, thành Hoa Lư có núi Trường Yên phía trước làm tiền
án, núi Đại Vân phía sau làm hậu chẩm, có hệ thống núi đá xung quanh
bao bọc, địa thế vững chãi.
Như thế có nghĩa là Hoa Lư cũng có đủ điều kiện để thực hiện vai trò
của một kinh đô. Sử sách cũ từng miêu tả: “Hoa Lư là nơi núi non trùng