Gián án D:tóm tắt nội dung tham luận về họi thảo quốc tế.. - Pdf 79

Tóm tắt nội dung tham luận tại Hội thảo Quốc tế về
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 5/2010)
Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”
đã diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 12 và 13/5/2010.
>>> Phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng
Hội thảo thu hút hàng trăm đại biểu là các quan chức, chuyên gia trong nước và đến từ
nhiều nước trên thế giới như Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Brazil, Cuba, Lào… với gần 200 tham
luận.
Với khối lượng tham luận đồ sộ, hội thảo được tổ chức thành ba phiên theo ba chủ đề:
“Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Hồ Chí Minh với sự
nghiệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc”, “Văn hóa, đạo đức, nhân cách
trong di sản Hồ Chí Minh”.
TheheHoChiMinh.net xin giới thiệu bản tóm tắt 83 tham luận của các đại biểu Việt Nam.
Chúng tôi sẽ tiếp tục bổ sung khi nhận được những tham luận mới.
Gần 200 tham luận tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 120
năm ngày sinh Bác Hồ
Mỗi tham luận đã đi sâu tìm hiểu di sản Hồ Chí Minh trong từng lĩnh vực của cuộc cách
mạng độc lập dân tộc của thế kỷ 20 cũng như thời kỳ Việt Nam hội nhập quốc tế ngày nay:
tư tưởng Hồ Chí Minh với việc đào tạo cán bộ, với công tác xóa đói giảm nghèo, hay với
vấn đề đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ lãnh đạo, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh ứng dụng cho thời đại mới… Nhiều tham luận cũng đã đưa ra các chi tiết cho thấy
tầm nhìn vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ quốc tế, trong việc xây
dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân…
Bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng
đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội, phát biểu: “Hồ Chí Minh (…) rất quan tâm đến
việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh số 65 (…) ban hành tháng 11-1945 quy định rằng
việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam.
Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng,
các lâu đài, thành quách và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách
báo, có giá trị cho lịch sử cho dù có tín ngưỡng hoặc không…”.
Bà Katherine Muller-Marin cho biết Đại hội đồng UNESCO đã khuyến nghị các quốc gia

GS Đinh Xuân Lâm
PGS.TS Bùi Đình Phong
Tham luận trình bày 2 nội dung gắn bó với nhau:
1. Hồ Chí Minh khai thác sức mạnh thời đại, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong nội dung này, báo cáo khẳng định Hồ Chí Minh từ sản phẩm dân tộc, trong quá trình
hoạt động cách mạng đã đạt tới trình độ vừa là sản phẩm của dân tộc vừa là sản phẩm của
thời đại. Người đã khai thác giá trị thời đại ngay khi còn ở trong nước. Đặc biệt từ khi đến
với chân lý cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh tận dụng mọi
cơ hội để khai thác, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa, trí tuệ thời đại để phục vụ cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc Việt Nam.
2. Giá trị thời đại trong di sản Hồ Chí Minh
Trong phần này, báo cáo chỉ rõ ngày nay thế giới đã có nhiều đổi thay với xu thế lớn là
toàn cầu hóa kinh tế; cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức, hòa bình, hợp tác
phát triển, nhưng tư tưởng và tấm gương cách mạng Hồ Chí Minh vẫn không hề thay đổi.
Sự vẹn nguyên giá trị Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay thể hiện ở nhiều khía cạnh. Đó
là độc lập dân tộc, mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giá trị về các phẩm chất đạo đức,
nhân văn, tự do, hạnh phúc, dân chủ, về hòa bình, hợp tác phát triển.
3. Tóm tắt tham luận
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐOÀN KẾT
PGS.TS Cao Duy Hạ
Đoàn kết, đại đoàn kết luôn luôn là một trong những nguyên nhân quan trọng của mọi
thắng lợi trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng của nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
Điều quan trọng nhất trong tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, trước hết là sự đoàn kết,
nhất trí trong Đảng, nó được coi là “hạt nhân” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí
Minh đã dạy: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí
của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đảng mà không có sự đoàn kết nhất trí thì

tích liên quan đến các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài, giúp cho việc
nghiên cứu, bảo tồn, và phát huy tác dụng một cách hiệu quả, đặc biệt trong đó là các di
tích về Người ở Pháp, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Lào…
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đặt chân lên 42 nước trên thế giới ở các châu lục: châu Á,
châu Âu, châu Phi và châu Mỹ…
Tại Việt Nam đã hình thành một hệ thống bảo tàng và di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí
Minh, với gần 700 di tích và địa điểm di tích lưu niệm. Để các di tích lưu niệm về Chủ tịch
Hồ Chí Minh ở Việt Nam và ở nước ngoài hình thành một hệ thống di tích về Nguyễn Ái
Quốc – Hồ Chí Minh và trở thành điểm đến trong hành trình tham quan của những người
bạn yêu hòa bình, tự do, bình đẳng và bác ái… tác giả đề nghị các cơ quan, các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước:
- Cùng phối hợp nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu liên quan đến một số di tích đã được xác
nhận và tiếp tục khai thác các cơ quan lưu trữ để tìm những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí
Minh;
- Tiến hành việc khảo sát, lập hồ sơ chi tiết các địa điểm di tích, xây dựng bản đồ ghi dấu
các địa điểm di tích và các công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh đã có trên thế giới, đồng
thời thông tin về việc bảo tồn và phát huy tác dụng của những di tích đó;
- Khảo sát, phát hiện mới những địa điểm di tích, các công trình tưởng niệm về Người mới
được xây dựng ở các nước trên thế giới (quảng trường, đường phố, trường học, bệnh
viện…
5. Tóm tắt tham luận
HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ CON NGƯỜI – THIÊN NHIÊN
VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ TIẾN BỘ NHÂN LOẠI
GS.TS Chu Văn Cấp
Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh quan niệm về con người vừa cụ thể, vừa biện chứng: Con người là tinh hoa
của trời, đất, nhân loại – tổng hợp những tinh túy nhất trong quá trình phát triển của tự
nhiên và sự tiến bộ xã hội, do xã hội quyết định.
Hồ Chí Minh cho rằng con người bao giờ cũng ở vị trị trung tâm trong thế giới. Con người
là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội, chủ nhân của thế giới

thời kỳ trong lịch sử Đảng và cách mạng Việt Nam từ 1930 – đến nay. Nhiều bài học lý
luận và thực tiễn đã được đúc kết.
3. Những vấn đề rút ra về vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Có 10 vấn đề được đúc kết, trong đó cơ sở để giải quyết vấn đề dân tộc dân chủ là chủ
nghĩa Mác – Lênin là cực kỳ quan trọng, đồng thời phải đặt vấn đề này phù hợp với bối
cảnh quan hệ quốc tế.
4. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc dân chủ phải được giải quyết trong vấn đề chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là thước đo kiểm
chứng; sự phát triển kinh tế là cơ sở bảo đảm thực hiện vấn đề dân tộc dân chủ thành công,
đội ngũ cán bộ Đảng và chính quyền các cấp là yếu tố quyết định cho sự hiện thực hoá
quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
7. Tóm tắt tham luận
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CON ĐƯỜNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Đại tá, TS Đặng Bá Minh
Chủ nhiệm khoa LSĐ, Học viện CT Bộ Quốc Phòng
- Từ lòng yêu nước và ý chí giải phóng dân tộc, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã xuất dương
tìm đường cứu nước. Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người cộng sản,
sáng lập Đảng ta và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đưa lý luận thời đại vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cốt lõi
trong hệ thống tư tưởng của Người đã góp phần to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng
và dân tộc ta từng bước giành thắng lợi.
- Độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân. Với mục
tiêu và ý nghĩa đó, độc lập dân tộc và CNXH trong tư tưởng của Người giản dị nhưng vô
cùng phong phú, sâu sắc và có giá trị lý luận, thực tiễn, thuyết phục cao.
- Trong thời kỳ đổi mới, sự kiên định, trung thành với tư tưởng của Người, bằng sự vận
dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta từng
bước vượt qua khó khăn thách thức. Mục tiêu đổi mới định hướng đi lên CNXH là sự
nghiệp vĩ đại nhất định thành công; Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn

Quảng trường Ba Đình lịch sử. Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước
Liên Xô, ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng. Ngày 29
tháng 8 năm 1975, chỉ sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã được khánh thành trọng thể.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX, là công trình của tình hữu
nghị Việt Nam – Liên xô và Liên bang Nga ngày nay; là biểu tượng của tinh thần đoàn kết
toàn dân tộc; một kỳ quan vĩ đại của thế hệ hôm nay tặng lại cho muôn đời con cháu mai
sau. như lời Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh phát biểu tại Lễ khánh thành Lăng ngày
29/8/1975: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và
tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây
là nơi nhân dân Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng
biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người; xây dựng một
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”.
Về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu
tình cảm, một tập tục, một sinh hoạt văn hóa hiện đại để tỏ lòng tri ân Người anh hùng Hồ
Chí Minh. Đối với khách nước ngoài, Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của
mỗi người khi tới Việt Nam.
Với công lao to lớn của Hồ Chí Minh, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong
sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc
Việt Nam anh hùng.
Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ
gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ
gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi
mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam
và bầu bạn quốc tế.
1. 10. Tóm tắt tham luận
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN TRONG TIẾN TRÌNH
CÔNG NGHIẾP HOÁ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TS. Đặng Văn Thái
Viện Hồ Chí Minh

của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Người luôn nhắc nhở: “Chính phủ ta là chính
phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”. Chỳng ta
phải luôn nhớ rằng: Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay
là nhằm cải thiện dần đời sống nhân dân”. Đến Di chúc, Người viết: “Đảng phải có kế
hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của
nhân dân”.
Trong sự nghiệp đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam luụn thấm nhuần và quỏn triệt tư tưởng
Hồ Chớ Minh về vấn đề này để phấn đấu xõy dựng một nước Việt Nam dõn giầu nước
mạnh xó hội dõn chủ cụng bằng và văn minh như Bỏc Hồ hằng mong muốn.
1. 12. Tóm tắt tham luận
Mấy suy nghĩ về những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
TS Đinh Thế Huynh
Tổng biên tập Báo Nhân dân
Những thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã minh chứng cho sự đúng đắn, sáng
suốt của Người khi lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam – trong cách
mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH trên cơ sở
nghiên cứu phân tích những đặc điểm tình hình Việt Nam để vận dụng sáng tạo và phát
triển học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam rất to lớn và có giá trị lý luận, thực tiễn. Đó là việc xác định và xây dựng
đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trên cơ sở lý luận cách mạng của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ thực tiễn lịch sử Việt Nam Những cống hiến của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghiã xã hội vẫn được kế thừa và vận dụng trong
công cuộc Đổi mới, trong việc xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước, đoàn kết toàn
dân, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và phồn vinh.
Trong bối cảnh thế giới mới, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị và sức sống khi
cuộc đấu tranh của các dân tộc để bảo vệ độc lập, khẳng định bản sắc văn hóa, tự do lựa
chọn con đường phát triển của mình.

đạo đức trong quá khứ và bổ xung những điều mới, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn
truyền thống với hiện đại.
Người coi đạo đức đối với một cán bộ cách mạng như gốc của một cái cây, không có gốc
thì cây héo.
Những phẩm chất của đạo đức cách mạng rất nhiều, nhưng Người thường nêu bật bốn
đức cơ bản là cần, kiệm, liêm, chính. Ngoài ra Người còn đề cập những điểm khác nữa,
như trung, hiếu, nhân, nghĩa, tín, trí, dũng.
Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới:
Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
Hai là, xây phải đi đôi với chống, như cần đi đôi với chống bệnh lười biếng, vô kỷ luật.
Kiệm đi đôi với chống lãng phí, xa xỉ.
Liêm và chính đi đôi với chống các hiện tượng bất liêm, như nhận hối lộ, ăn trộm của
công, buôn gian, bán lậu…
Ba là, phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, như rửa mặt hàng ngày, kiên trì, bền bỉ suốt
đời. Đạo đức cách mạng do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, như ngọc càng mài càng
sáng, vàng càng luyện càng trong.
Trong khi tiếp tục tìm hiểu đầy đủ và chính xác tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách
mạng phải đặt trọng tâm cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh” vào làm theo. Phải khôi phục lại nét đẹp truyền thống thành khẩn tự phê bình
và phê bình. Phát động một phong trào công chúng mạnh mẽ tẩy chay những kẻ bất liêm.
1. 15. Tóm tắt tham luận
Tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh từ giác độ tiếp cận Lý thuyết xã hội hoá
ThS Đỗ Văn Quân, ThS Nguyễn Ngọc Lam
Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Khái niệm xã hội hoá dường như là đầy đủ, sâu sắc và ở tầm bao quát hơn là khái niệm
giáo dục. Trong tư duy của Hồ Chí Minh về giáo dục có nhiều vấn đề Bác đặt ở tầm xã hội
hoá. Chẳng hạn, tính tất yếu của quá trình xã hội hoá; mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân
và xã hội trong quá trình xã hội hoá;các đặc trưng/nội dung quá trình xã hội hoá;vai trò và
sự phối hợp giữa các môi trường xã hội hoá …
Hồ Chí Minh đã có sự khẳng định quá trình từ con người sinh vật thành con người xã hội;

những giá trị mới, làm cho hệ tư tưởng – lý luận luôn được đổi mới, cách mạng hoá.
Thứ hai, sáng tạo của Hồ Chí Minh thể hiện ở năng lực kết hợp “duy lý hoá” và “giải duy
lý hoá” khi hoạch định và thực thi tư tưởng – lý luận. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh vừa
có tính sáng tạo theo triết lý phương Tây, vừa không xa rời với tâm lý, tình cảm, tập quán
văn hoá của con người Việt Nam, được mọi người đón nhận bằng sự chân thành và sẵn
sàng dấn thân.
Thứ ba, sáng tạo của Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở triết lý hành động, ở kiểm chứng
mọi lý thuyết trong thực tiễn và bằng thực tiễn, hiện thân nhân sinh bằng dấn thân.
Tư tưởng, nhân cách của Hồ Chí Minh trở thành một tài sản tinh thần quý báu của dân tộc
ta, trở thành vốn minh triết đối ứng trong quá trình cọ xát, đối diện, bản địa hoá các lý
thuyết khác nhau trong thế giới đương đại.
1. 17. Tóm tắt tham luận
QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ
VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY
PGS. TS. Dương Văn Sao
Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế mang
lại những mặt tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời cũng nảy sinh nhiều
hạn chế, yếu kém trong đời sống văn hoá. Kinh tế thị trường kích thích khát vọng làm giàu,
lấy đồng tiền làm mục tiêu duy nhất, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội phát sinh, đang làm xói
mòn đạo đức, lối sống lành mạnh và quan hệ giàu tình nghĩa của dân tộc Việt Nam. Nhiều
người đã chạy theo lối sống thực dụng, tiếp nhân xô bồ mọi thứ văn hoá ngoại lai, có hiện
tượng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng, tách rời văn nghệ với chính trị và có xu
hướng thương mại hoá…Điều đáng nhức nhối, là sự suy thoái về tư tưởng và đạo đức, lối
sống trong một bộ phận không ít cán bộ có chức, có quyền, gây bất bình trong nhân dân,
gây tổn thương đến những giá trị văn hoá của dân tộc. Thực trạng trên đang đặt ra yêu cầu
cấp bách cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với việc tiếp nhận có chọn lọc văn hoá thế

văn hoá, cũng như các tổ chức quản lý hoạt động văn hoá
Bốn là, tăng cường nguồn lực và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hóa.
Năm là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn
hoá ; đẩy mạnh quá trình thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng , nội dung,
phương thức quản lý của nhà nước về văn hóa./.
1. 19. Tóm tắt tham luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc – Cơ sở quan trọng, xuyên suốt trong
quá trình phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Hà Thị Khiết*
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho
Đảng ta, nhân dân ta, Dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hoá có ý nghĩa giá trị nhân văn
sâu sắc; trong đó Người đặt nền móng củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết từng dân tộc thiểu số trong cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Đồng thời, Người là hiện thân, là tấm gương tiêu biểu nhất của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những cơ sở
và là tư tưỏng xuyên suốt của Người trong việc thực hiện thành công Đại đoàn kết toàn dân
tộc là vấn đề Bình đẳng dân tộc.
1. Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình
đẳng về mọi mặt. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc
trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các
thời kỳ của cách mạng.
2. Độc lập dân tộc là cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Bình đẳng
dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Thực tiễn lịch
sử Việt Nam đã chứng minh điều đó.
3. Thực hiện bình đẳng dân tộc là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là
động lực và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và

Lịch sử ghi nhận chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa thay đổi trật tự thế giới, đồng thời cũng đang
chứng kiến bước khủng hoảng tạm thời của CNXH và sự điều chỉnh nhận thức theo các
khuynh hướng tư tưởgn khác nhau.
Bối cảnh mới của thời đại – Hội nhập và phát triển, những thách thức mới đang là thước
đo kiểm chứng sự kiên định của Đảng ta, dân tộc ta với tư tưởng, con đường mà Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã lựa chọn hơn 8 thập kỷ qua. Thực tiễn đang đòi hỏi phải chủ động
thực hiện nhiều giải pháp, trong đó giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người có vị
trí cực kỳ quan trọng.
1. 21. Tóm tắt tham luận
TƯ TƯỞNG HỒ CHI MINH VỀ XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ
NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM – Ý NGHĨA CỦA
TƯ TƯỎNG ĐÓ VỚI SỰ NGHIỆP ĐÔI MỚI
PGS.TS. Hoàng Trang
Viện Hồ Chí Minh
Công lao lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với dân tộc là Người đã tìm ra con đường cách
mạng Việt Nam và dẫn dắt nhân dân ta hiện thực hóa con đường cách mạng đó, biến dân
tộc ta từ nô lệ đến tự do. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai
đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Đi lên xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh chỉ rõ điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam “Từ một nước
nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa” thì việc tồn tại và phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở
thời kỳ quá độ là tất yếu.
Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần ở Việt Nam là một quá trình, bao gồm những quan điểm về chính sách xây dựng và
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần khi nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng soi sáng thực tế xã hội nước ta và đã khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương
thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ

tác xây dựng đội ngũ này.
Người nêu cao vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, cả
trong tranh đấu cho độc lập tự do, lẫn trong xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa
xã hội. Người đặt yêu cầu tiêu chuẩn rất cao đối với đội ngũ cán bộ là phải thực sự có
“đức” và “tài”. Ngoài chuẩn mực chung, Người cũng chỉ ra những chuẩn mực cụ thể cho
cán bộ trong một số ngành nghề.
Để xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh thì cần phải quy tụ, lựa chọn, trong dụng
những cán bộ công chức thật sự vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đức độ và tài năng. Trong
quá trình xây dựng nhà nước mới, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà, Người đã có
chủ trương rất đúng đắn và đặc sắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước và
để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho chúng ta vận dụng và phát triển. Kinh nghiệm đó
được đúc kết trong những phương thức cơ bản là: phương thức chuẩn bị sớm nguồn cán
bộ; huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; tìm kiếm, phát hiện cán bộ tốt và
nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ; phát hiện cán bộ từ trong hoạt động thực tiễn; phương thức sử
dụng viên chức quan lại cũ; thi tuyển cán bộ công chức; sử dụng cán bộ;..
Đảng ta đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng những quan điểm nổi bật, những phương thức cơ
bản trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ công chức nhà nước của Chủ tịch
Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nướccủa dân, do dân vì dân với
nền hành chính trong sạch vững mạnh, dân chủ hiện đại và hiệu quả sắp tới. /.
1. 24. Tóm tắt tham luận
TỪ VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH ĐẾN VĂN HÓA ĐẢNG.
TS Lê Hanh Thông
Tạp chí khoa học chính trị – Học viện CT-HC khu vực II
1.Văn hóa Hồ Chí Minh
Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành nên trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn, lòng nhân đạo,
sự đồng cảm giữa con người với con người và vượt lên trên hết là tình hữu ái giai cấp.
Sinh ra trong cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, Người đã sớm có lòng yêu nước,
đồng cảm với quần chúng lao khổ. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, nhận thức
được bản chất của chủ nghĩa thực dân, đồng cảm với những người dân lao động. Tình cảm,
lòng yêu thương đối với con người trong Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng yêu

đường của Lênin.
Ngày 3-2-1930, Người thàản nh lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng với
cương lĩnh “cách mạng tư sản dân quyền”, sau này gọi là cách mạng dân chủ nhân dân, mở
ra bước ngoặt mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc ta.
Kịp thời nắm thời cơ, Người phát động cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Ngày 2-9-
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà, mở đầu kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do của nhân dân Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định những nguyên tắc pháp lý về độc lập dân tộc và
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà còn khẳng định quyền dân tộc và quyền cơ bản của con
người.
Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là từ quan điểm gắn độc lập của dân tộc với tự
do của con người, gắn quyền dân tộc thiêng liêng với quyền cơ bản của con người. Cũng từ
thực tiễn cuộc đấu tranh thắng lợi của nhân dân Việt Nam, hai khái niệm pháp lý trên đã
được phát triển thành khái niệm mới là quyền dân tộc cơ bản
Thành công của Cách mạng Tháng Tám gắn liền với những hoạt động sáng tạo của Hồ
Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của
Người trong thời đại mới. Đó không chỉ là chân lý mà còn là minh chứng điển hình bác bỏ
những luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm hạ thấp ý nghĩa trọng đại của Cách mạng Tháng
Tám cùng những tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1. 26. Tóm tắt tham luận
BẢN CHẤT VĂN HÓA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ThS Lương Thùy Liên
Văn hóa được tiếp cận dưới góc độ giá trị, thống nhất của ba hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ –
đúng, tốt và đẹp. Chính trị được đề cập đến như một phạm trù lịch sử cũng với những tính
chất của nó. Trên cơ sở đó khái quát bản chất văn hoá của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
và phân tích rõ một số biểu hiện cụ thể của bản chất này:
- Tinh thần yêu tha thiết hòa bình và nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cách mạng
Việt Nam.
- Tinh thần khoan dung sâu sắc.
- Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hoá của sự phát triển.

và gần đây cho thấy những đóng góp của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh vì quyền con
người vẫn có ý nghĩa thời sự đối với Việt Nam và thời đại ngày nay.
1. 28. Tóm tắt tham luận
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
MỘT CÁCH NHÌN ĐƯƠNG ĐẠI
GS,TS MẠCH QUANG THẮNG
Sau khi nêu lên triết lý phát triển từ đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ cách tiếp cận với
văn hóa học, tác giả bài viết đi sâu phân tích những nội dung đạo đức Hồ Chí Minh như là
thông điệp cho thời đại ngày nay.
1. Lòng nhân ái. Tình thương yêu, quý trọng con người trước hết Hồ Chí Minh dành
cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Hồ Chí Minh chú ý tới
phát triển con người, không những giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của
chế độ thực dân, phong kiến mà còn ở chỗ tìm cách nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho con người. con người phát triển toàn diện vươn tới vương quốc của tự do.
2. Trung với nước, hiếu với dân. Hồ Chí Minh cho rằng, người cách mạng phải đặt quyền
lợi của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Hiếu với dân là nội dung rất cơ bản trong quan
niệm của Hồ Chí Minh trong cái cặp chỉnh thể “Trung với nước hiếu với dân”, trong đó có
hiếu với cha mẹ mình, và nói rộng ra là tình họ hàng. Chữ “hiếu” theo quan niệm của Hồ
Chí Minh tích cực hơn quan niệm Nho giáo là bởi vì hiếu với dân không ngăn trở con ngư-
ời ta làm tròn đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ cũng như tình huynh đệ.
3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
là một nội dung của cái gốc đạo đức, cái gốc của sự phát triển trong triết lý hành động của
Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người nói nhiều đến cá nhân nhưng không sa vào chủ nghĩa
cá nhân; nói nhiều đến đạo đức và sự nghiêm minh của pháp luật nhưng không tuyệt đối
hoá một cái nào mà ở Hồ Chí Minh có sự gắn kết nhuần nhuyễn giữa “đức trị” và “pháp
trị”.
4. Vì dân tộc, vì thế giới, quảng giao để phát triển. Cái gốc của sự phát triển, triết lý phát
triển của Hồ Chí Minh còn là ở cái tinh thần quảng giao trên một tinh thần “tứ hải giai
huynh đệ”. Đó cũng là cái nền của đạo đức. Hồ Chí Minh đã đưa đất nước Việt Nam mở
cửa ra với thế giới.

đấu tranh bằng phương pháp hòa bình hơn là chiến tranh bằng cách thức tỉnh nhân dân,
giáo dục nhân dân hiểu được ý nghĩa của độc lập, tự do để họ đứng lên “đem sức ta mà tự
giải phóng cho ta”. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-1945) Hồ Chí Minh viết “Tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do. “Khi thực dân phản động Pháp đưa quân xâm lược Việt Nam; giữa hai giải
pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh chọn giải pháp hòa bình. Người chấp nhận nhân
nhượng: Ký Hiệp định 6-3. Mặt khác không quản nguy hiểm, Người sang tận thủ đô nước
Pháp để tìm kiếm hòa bình và ký tạm ước 14-9-1946 hòa hoãn thêm thời gian. Trong các
thư gửi nhân dân Pháp, Người nhấn mạnh: Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp
mà chỉ muốn hai dân tộc cộng tác thật thà (2-1-1947). Nước Pháp chỉ cần nói một câu là
chiến sự đình chỉ ngay tức khắc (18-2-1947). Tất cả thiện chí của Hồ Chí Minh không
được Chính phủ Pháp lúc đó đáp lại chân tình, chiến tranh đã nổ ra.
Trong lời kêu gọi kháng chiến (19-12-1946) Hồ Chí Minh viết :”Chúng ta muốn hoà bình,
chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới,
vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”[3]. Toàn dân Việt Nam đã thực hiện lời kêu gọi
kháng chiến của Hồ Chí Minh thực hiện kháng chiến, kiến quốc đã đưa đến thắng lợi Điện
Biên Phủ, lập lại hòa bình ở Đông Dương theo Hiệp nghị Giơ-ne-vơ.
Từ ngày Mỹ đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 46 lần gửi
thư cho các Tổng thống Mỹ và trả lời phỏng vấn của các nhà báo Mỹ khẳng định chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và quyền chống xâm lược.
Trong thư gửi Tổng thống Giôn-xơn, Hồ Chí Minh viết: ”Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất
thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình. Chính phủ Mỹ gây ra chiến tranh xâm lược Việt
Nam thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ, phải chấm dứt xâm lược”[4]. Sau
thất bại thảm hại ngày 21-1-1973 Mỹ ký Hiệp định Pa-ri, chịu rút hết quân đội ra khỏi
miền Nam Việt Nam, hòa bình trở lại ở Đông Dương.
Trong khi đấu tranh cho hòa bình, độc lập tự do, Hồ Chí Minh đã hướng tới một tương lại
vì sự phát triển hòa bình, hữu nghị về hợp tác lâu dài bền vững giữa các dân tộc. Người
bao giờ cũng chủ trương hòa bình nhưng chỉ có thống nhất độc lập mới có hòa bình thật
sự. Ngay sau ngày tuyên bố độc lập (Hồ Chí Minh đã gửi thư cho ngoại trưởng Mỹ Giêm
Biêcnơ (01-11-1945) đặt vấn đề “mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là

Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong hành trình tìm đường cứu nước đang song hành với
cả dân tộc trong thế kỷ XXI. Người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh đã mang lại cho dân
tộc ta con đường cứu nước, cứu nhà. Lẽ nào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cứu được nước nhà
thoát khỏi nô lệ lầm than để đến với độc lập hoà bình mà chúng ta lại không xây dựng
được đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như ý nguyện dang dở của Người.
1. 32. Tóm tắt tham luận
HỒ CHÍ MINH VỚI QUYÊN CON NGƯỜI.
TS.Nguyễn Đức Thùy
Hồ Chí Minh sớm tiếp xúc với tư tưởng nhân quyền của Cách mạng Pháp, đó là lý tưởng
cao quý, dành cho ít người. Nghiên cứu các nước: Người khẳng định không có các quyền

Trích đoạn 49 Tóm tắt tham luận 5 Tóm tắt tham luận 52 Tóm tắt tham luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status