TỔ CHỨC LÃNH THỔ –MỘT TRONG NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHỦ YẾU CỦA
ĐỊA LÝ KINH TẾ –XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP SANG THẾ KỶ XXI
ĐẶNG VĂN PHAN
PGS. PTS, Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam
Tổ chức lại lãnh thổ là một nhiệm kỳ cực kỳ quan trọng về mặt xã hội của khoa học địa lý Việt
Nam. Chính nó sẽ đảm bảo việc thực hiện tốt nhất mục tiêu chung là xây dựng nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Việc đặt kế hoạch cho sự phát triển kinh tế đất nước không
thể quên khía cạnh xã hội đó.
Để thực hiện các mục tiêu nói trên, sự phát triển kinh tế của đất nước phải được bền vững và ổn
định. Tính công bằng xã hội là một định hướng lớn của các kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội, đảm bảo
những cơ hội ngang bằng nhau cho từng vùng, từng địa phương và ngay cả cho từng người dân nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định. Nếu tính công bằng xã hội không được đảm bảo thì tính ổn định sẽ bị ảnh
hưởng, nhất là tính ổn định xã hội và ngược lại. Cả hai sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững. Ở nước ta, hệ
thống cấu trúc lãnh thổ cần phải giúp đạt được sự cân đối giữa các yếu tố cấu thành (xem sơ đồ).
SƠ ĐỒ MÔ HÌNH HỆ THỐNG CẤU TRÚC LÃNH THỔ
TÍNH ỔN ĐỊNH TÍNH BỀN VỮNG
- Chính trị - Tăng trưởng kinh tế đều đặn
- Luật pháp - Môi trường được bảo vệ
- Tiền tệ, giá cả
TÍNH CÔNG BẰNG
Giảm chênh lệch
giữa các địa phương
giữa giàu và nghèo
Nguồn (1):
Trong thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu khoa học và một loạt các bài báo viết về
tổ chức lãnh thổ Việt Nam (2). Các tác giả đều nhất trí tầm quan trọng của tổ chức lãnh thổ, đề xuất được
những nội dung của tổ chức lãnh thổ, tuy nhiên hình như chưa có sự thống nhất về khái niệm, nội dung,
phương pháp tổ chức lãnh thổ và cũng từ sự không thống nhất đó dẫn đến những nhận định đôi khi đồng
nhất quy hoạch tổng thể một vùng, một tỉnh là tổ chức lãnh thổ hoặc cho rằng “chờ đến những năm 90
hướng tổ chức lãnh thổ mới thực sự hình thành”, hoặc “cho đến 1994 thì phương hướng tổ chức lãnh thổ
mới được thử nghiệm ở Việt Nam”…
nào đó có xét đến các mối liên kết giữa các quốc gia. Các cấu trúc này được thống nhất lại bởi các cơ
cấu quản lý quá trình tái sản xuất xã hội. Theo cách hiểu này, thì khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh
tế –xã hội của một vùng nhất định, ta phải nghiên cứu các cấu trúc không gian thành phần. Cũng với
cách tiếp cận tổ chức lãnh thổ như vậy thì cấu trúc của một vùng (lãnh thổ) còn bao gồm các điểm, các
“cực”, các nút và các dải, các tuyến lực và một không gian bề mặt. Các yếu tố đó có quan hệ, sức hút
lan toả và ảnh hưởng lẫn nhau.
Để tiến hành nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phải có sự phân tích những phân dị địa lý để tìm ra các cấu
trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ); phân tích mối quan hệ lãnh thổ, sự tác động qua lại giữa các cấu
trúc không gian thành phần để tổng hợp lại, nhận dạng một không gian chung.
Ở nước ta, quan niệm về tổ chức lãnh thổ là một nhiệm vụ quan trọng của Địa lý học đã được đưa ra
khá sớm, từ thập kỷ 70. Trong nhiều năm, nhiệm vụ này được thể hiện dưới dạng phân vùng kinh tế,
phân vùng nông nghiệp –quy hoạch vùng từ những năm 60, đặc biệt thể hiện dưới dạng “phân bố lực
lượng sản xuất” mà kết quả là chương trình 70.01 lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản
xuất của Việt Nam thời kỳ 1986-2000 và giai đoạn 1991-2005. Đây là chương trình thu hút được
nhiều công sức đóng góp của các nhà địa lý, các nhà kinh tế vùng và các nhà kế hoạch ở các Bộ, các
ngành.
Từ những năm 80 các nghiên cứu địa lý tổng hợp đã được tiến hành mạnh mẽ, với các chương
trình điều tra cơ bản các vùng của đất nước. Đã hình thành một số hướng nghiên cứu mới, tổng hợp
hơn, kết hợp cả tự nhiên, kinh tế –xã hội trong hướng “tổ chức lãnh thổ”. Trong sự nghiệp đổi mới
hiện nay, vấn đề tổ chức lãnh thổ được coi trọng và được soi sáng bằng những cách nhìn mới, nhằm
mục tiêu phát triển bền vững, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách phát triển vùng,
đảm bảo công bằng xã hội trong sự giảm chênh lệch giữa các địa phương, giảm sự phân hoá giàu
nghèo. Có rất nhiều các kết quả nghiên cứu liên ngành, dưới sự chỉ đạo của Nhà nước được thể hiện ở
việc lập các quy hoạch tổng thể kinh tế –xã hội 8 vùng kinh tế lớn và các quy hoạch ngành và địa
phương. Nhiều công trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ được hình thành từ những năm 90 như:
- Tổ chức lãnh thổ Địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam –đề tài đặc biệt cấp Nhà nước, 3/1994.
- Tổ chức lãnh thổ đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm –đề tài độc lập cấp Nhà nước,
6/1994.
- Cơ sở khoa học tổ chức lãnh thổ Việt Nam –đề tài độc lập và trọng điểm cấp Nhà nước, 1996.
- Đề tài tổ chức lãnh thổ Địa bàn trọng điểm miền Trung, 1996.
Đồng bằng là phần lãnh thổ có nhiều thuận lợi nhất cho các hoạt động kinh tế, do đó là nơi tập
trung dân cư đông đúc nhất, mạng lưới đường giao thông thuỷ bộ dày đặc nhất, cơ sở hạ tầng
thuận lợi nhất so với các vùng khác. Tuy nhiên về cơ bản đồng bằng vẫn còn là những vùng nông
thôn rộng lớn nên biến nó thành một lãnh thổ công nghiệp hoá không phải dễ dàng. Ở ven biển có
một dãi đồng bằng được gọi là dãi đất được hưởng lợi từ biển, đây là dãi đất mà các hoạt động
kinh tế các loại như xây dựng các khu công nghiệp, các cơ sở du lịch, các cảng cá và cảng hàng
hoá, các đô thị mới tranh chấp và xung đột để chiếm lĩnh không gian. Chính ở dãi đất này công tác
tổ chức lãnh thổ hợp lý phải được quan tâm hàng đầu nhằm đạt được một trật tự trong sự phát
triển và đi theo đó là sự bảo đảm sự bền vững của môi trường mà trạng thái cân bằng rất mỏng
manh.
Việc gộp các lãnh thổ trung du và miền núi trong các sơ đồ phân vùng hiện nay cũng làm
trở ngại không ít trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ của hai khu vực này. Giáo sư Nguyễn Đức
Chính (1964) coi trung du là dãi đất chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nhưng thiên về việc
coi trung du là đồng bằng cao, đồng bằng dạng đồi, nên về mặt khai thác gần với đồng bằng hơn là
với miền núi. Theo nhiều nhận xét, do sử dụng lãnh thổ trung du không hợp lý, nên phần lớn diện
tích đất trung du bị nghèo đi. Do đó về mặt chiến lược khai thác lãnh thổ, trung du phải là một
lãnh thổ cần được tái tạo lại. Sự tái tạo này là làm cho trung du trở thành một nhân tố sản xuất,
chứ không phải là một lãnh thổ chỉ thuần có nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu. Làm sao cho các tỉnh
ở Việt Nam, có trung du, có đồng bằng có được một động lực nội tại để nâng cao chất lượng và
tính đa dạng sản xuất, từ đó có khả năng thu hút các nguồn đầu tư trong nước và quốc tế.
Việc tổ chức lãnh thổ ở miền núi cho đến nay ở nước ta chưa được chú ý đúng mức, nhất
là ở các tỉnh miền Trung. Ở các tỉnh có 3 bộ phận đồng bằng ven biển, trung du và miền núi,
thường trong các kế hoạch phát triển, tổ chức sản xuất, miền núi thường bị lãng quên và coi nhẹ.
Từ những năm 90, vấn đề phân vùng lãnh thổ Việt Nam lại trở thành vấn đề thời sự. Các
nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã có những đề xuất riêng của mình dựa trên phương pháp
luận, phương pháp nghiên cứu, xử lý số liệu thống kê và những cách tiếp cận khác nhau. Tuy
nhiên cơ sở lý luận phân vùng chưa có sự thống nhất, đó là tồn tại lớn nhất. Cần có sự nghiên cứu
sâu sắc về phân vùng kinh tế tổng hợp, phân vùng hành chính, phân vùng ngành. Cần có những
công trình xác định lại mục đích, nguyên tắc phân vùng, quy mô, ranh giới các vùng. Để phục vụ
nghiên cứu tổ chức lãnh thổ cần nghiên cứu các vùng phát triển, vùng chậm phát triển và cả những
TERRITORIAL ORGANIZATION –ONE OF MAJOR OBJECTS OF SOCIO-
ECONOMIC GEOGRAPHY IN A TRANSITION PERIOD OF THE 21
ST
DANG VAN PHAN
Territorial re-organization is an important duty on society of our geography. Socio –economic
territorial organization is understood in 2 aspects as:
- A whole progress or human activities to distribute manufactures and services, inhabitants, natural
utilization including their relationships and their dependences.
- A combination of territorial structures such as structures of inhabitant groups, social space,
production space, natural utilization space etc.
The author scans over research results of territorial organization in our country for last decade,
especially in 90s.
He also push forward some notices content on territorial organization in future as researching
territorial in the plains, the midlands, the high lands, some duties of region classfication and region
scheme.
In his opinion, with direction of geographical research in the world and our pratical demands, our
research not only in traditional contents of Geography, but also tend to Geographical Sciences of re-
organization or organizing space to tare part in management, environmental protection and sustainable
development.
CHÚ THÍCH
(1) Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ VN- đề tài độc lập và trọng điểm cấp Nhà nước; 4/1996.
(2) Xin xem danh mục tài liệu tham khảo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Đức An-Viện địa lý- Một số phát triển của địa lý Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tập báo cáo
khoa học chào mừng Đại hội Địa lý Việt Nam lần thứ III. Hà Nội, 10/1998.
2. Lê Thanh Bình –Phân tích chuyển biến không gian kinh tế –xã hội nông thôn đồng bằng sông
Hồng hiện nay. Luận án PTS khoa học Địa lý –Địa chất, Hà Nội, 1996.
3. DATAR và trường đại học Lille. Tổ chức lãnh thổ khu vực Huế –Thừa Thiên và Quảng Nam- Đà
Nẵng, 1995.