1
LỜI GIỚI THIỆU
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi: khí hậu
biến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm
môi trường, suy giảm đa dạng sinh học… Trong đó, biến đổi khí hậu là một vấn đề
hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc. Biến đổi khí hậu mà tiêu biểu
là sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra. Nhiệt độ trên thế giới đã tăng thêm khoảng 0,7
0
C
kể từ thời kỳ tiền công nghiệp và hiện đang tăng với tốc độ ngày càng cao. Ngoài các
nguyên nhân tự nhiên và tính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu trên thế
giới, hầu hết các nhà khoa học về môi trường hàng đầu trên thế giới đều khẳng định:
các loại khí nhà kính phát thải vào khí quyển do các hoạt động của con người đã làm
cho khí hậu toàn cầu nóng lên.
Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia do những ảnh hưởng
hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người. Các hiện tượng khí hậu
dị thường và thiên tai liên tục diễn ra ở nhiều vùng trên thế giới. Các nhà khoa học từ
lâu cũng đã lên tiếng cảnh báo hiểm họa nghiêm trọng này nhưng chỉ cho đến gần đây,
loài người mới thấy được ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ môi trường và thực hiện
cuộc chiến thực sự chống lại sự biến đổi khí hậu.
Để có thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu thế giới cần tăng cường các biện pháp
nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ các nước công nghiệp và huy động sự tham
gia nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển, đề ra các biện pháp khuyến khích các
nước này hạn chế mức phát thải, đồng thời đảm bảo tăng trưởng kinh tế.
Theo nghiên cứu mới nhất của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là quốc gia đang phát
triển thuộc nhóm các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á từ sự biến
đổi khí hậu này. Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược quốc gia nhằm đối phó và thích
ứng với sự biến đổi khí hậu của Việt Nam là một việc làm cấp thiết trong thời gian tới.
Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia biên soạn Tổng luận “TÁC
ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN”
nhằm giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có
tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển
và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội một cách
bền vững thông qua thực hiện "Cơ chế phát triển sạch"(CDM). Bản thỏa thuận nêu
cam kết của các nước công nghiệp hóa giảm phát thải sáu loại khí nhà kính ở mức 5%
vào năm 2012.
Tháng 12/2007, Hội nghị về khí hậu của Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Bali,
Inđônêxia, các đại biểu đến từ gần 190 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ đã cố gắng tìm ra
một lộ trình cho các cuộc đàm phán về một công ước nóng lên toàn cầu mới sẽ có hiệu
lực vào năm 2012, khi kết thúc thời kỳ cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto. Hội
nghị Bali có ba mục tiêu chính: (1) Mở đầu các đàm phán về ứng phó với biến đổi khí
hậu giai đoạn sau năm 2012; (2) Đưa ra lịch trình đàm phán quốc tế; (3) Đạt được
Thỏa thuận quốc tế mới nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Các
quyết định đưa ra tại Hội nghị Bali lần này sẽ mở đầu cho quá trình đạt được các thỏa
thuận vào đầu năm 2009, là một dấu hiệu thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế
3
cùng ứng phó với biến đổi khí hậu. Hội nghị các Bên lần này đóng một vai trò quan
trọng trong việc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với biến đổi khí hậu
trong tương lai.
Báo cáo “Ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát
triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu năm 2007 cho
biết: Mực nước biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nước
có vùng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở các vùng đồng bằng thấp ở ven biển.
Theo Báo cáo Tình trạng môi trường biển của Chương trình hành động toàn cầu thuộc
UNEP (2006), thì hiện nay, gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển hẹp
(chỉ chiếm 6,7% diện tích bề mặt Trái Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên
nhiên. Mật độ dân số tại khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 người/km
2
năm 1990, lên
tới 115 người/km
2
I. TỔNG QUAN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ
DÂNG CAO NƯỚC BIẾN
1.1. TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
1.1.1. Một số khái niệm
Hiệu ứng nhà kính
Nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng Mặt trời đến
bề mặt Trái đất và năng lượng bức xạ của Trái đất vào khoảng không gian giữa các
hành tinh. Năng lượng Mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ
khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của Trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16
o
C là
sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây ra sự hấp
thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO
2
, bụi, hơi nước, mêtan (CH
4
), CFC ...
Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa Trái đất với
không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển Trái đất. Hiện
tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là “hiệu
ứng nhà kính”.
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độ khí
CO
2
của khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO
2
và các khí nhà kính khác trong khí
quyển Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của
các chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO
2
O, HFCs, PFCs và SF
6
.
• CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí
nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO
2
cũng sinh ra tử các
hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
• CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ
thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
5
• N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
• HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản
phẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22.
• PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
• SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của
con người và các sinh vật trên Trái đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp,
các đảo nhỏ trên biển.
lượng của hệ thống khí hậu. Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã
tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian
từ 1970 đến 2004.
Khí CO
2
là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con người tạo ra. Từ
năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này tăng khoảng 80%. Xu thế
giảm dài hạn khí thải CO
2
trên một đơn vị năng lượng đã bị đảo ngược sau năm 2000.
Năm 2005, nồng độ CO
2
trong khí quyển là 379 ppm và CH
4
là 1.774 ppm, vượt xa
mức tự nhiên trong hơn 650.000 năm qua. Nồng độ CO
2
trên toàn cầu tăng chủ yếu do
sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi mục đích sử dụng đất (hoạt động này chỉ góp
một phần nhỏ). Tăng nồng độ CH
4
chủ yếu do nông nghiệp và đốt nhiên liệu hóa
thạch. Tốc độ tăng CH
4
cũng đã giảm kể từ những năm đầu thập kỷ 90.
Kể từ 1750, nồng độ CO
2
, CH
4
, N
ràng về số lượng các cơn bão nhiệt đới hàng năm. Khó có thể xác định được xu hướng
lâu dài về hoạt động của bão, đặc biệt trước năm 1970.
Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 cao hơn bất kỳ
giai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất 1300
năm qua. Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu lục và hầu hết các đại dương
chỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi những biến đổi khí hậu khu
vực, đặc biệt là nhiệt độ tăng.
Những biến đổi về tuyết, băng và các vùng đất đóng băng, kích thước các hồ băng
và sự bất ổn ở các vùng núi và vùng đóng băng khác dẫn đến những thay đổi ở một số
hệ sinh thái ở Nam Cực và Bắc Cực.
Một số hệ sinh thái dưới nước cũng bị ảnh hưởng do tăng lưu lượng nước, ảnh
hưởng đến cấu trúc nhiệt và chất lượng nước sông hồ. Với các hệ sinh thái trên cạn,
mùa xuân đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao đối với
một số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây. Còn với
các hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật và sự
phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ của nước,
cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ mặn, hàm lượng
ôxy và sự lưu thông của nước.
7
Có thể tóm lược những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các khu vực trên thế
giới như sau:
Châu Phi - Vào năm 2020, khoảng từ 75 - 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực lớn
về nước do biến đổi khí hậu.
- Vào năm 2020, ở một số nước, sản lượng nông nghiệp dựa vào nước
mưa có thể giảm tới 50%. Sản xuất nông nghiệp tại nhiều nước châu
Phi sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninh
lương thực và tăng tình trạng suy dinh dưỡng.
- Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các
vùng trũng ven biển, đông dân cư. Chi phí thích ứng có thể chiếm ít
nhất từ 5%-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
ven biển thường xuyên hơn và xói mòn mạnh hơn (do bão lớn và mực
nước biển dâng cao).
- Các vùng núi sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp của sông băng, độ che phủ
của tuyết giảm và suy giảm số lượng lớn các loài (vào năm 2080, ở
8
một số khu vực tỷ lệ suy giảm là 60% tuỳ theo các kịch bản phát thải )
- Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thưởng bởi tính bất thường của khí
hậu - biến đổi khí hậu sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt độ cao và hạn
hán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụng
nước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng.
- Biến đổi khí hậu cũng sẽ làm tăng mối nguy hiểm tới sức khoẻ vì các
đợt sóng nhiệt và tần suất cháy rừng tự nhiên.
Châu Mỹ
La tinh
- Giữa thế kỷ này, ở miền Đông Amazôn, nhiệt độ tăng cao kết hợp với
suy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng các
hoang mạc. Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay thế bằng thảm
thực vật khô hạn.
- Nguy cơ mất đa dạng sinh học ở mức cao là do sự tuyệt chủng các loài
ở nhiều khu vực thuộc vùng nhiệt đới ở Mỹ La tinh.
- Năng suất của một số loại cây trồng quan trọng và khả năng sinh sản
của gia súc sẽ giảm gây hậu quả bất lợi tới an ninh lương thực. Nhìn
chung, số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng.
- Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất của
các sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nước phục vụ
cho con người, nông nghiệp và thuỷ điện.
Bắc Mỹ - Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ lụt
mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh
vì tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn.
- Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, biến đổi khí hậu ở mức vừa
biệt ở các đảo nằm ở vĩ độ trung và cao.
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do tính
phức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng độ các
khí nhà kính đã ổn định. Sau năm 2100, sự thu hẹp của dải băng Greenland sẽ tiếp
diễn, góp phần làm cho mực nước biển dâng cao hơn. Các mô hình hiện nay cho thấy
dải băng tan chảy hoàn toàn sẽ làm cho mực nước biển dâng cao khoảng 7m.
Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng ở Nam cực vẫn còn quá
lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết nhiều hơn.
Tuy nhiên, khối lượng băng có thể giảm thực sự giảm nếu xu thế tan chảy trội hơn
trong cân bằng khối của dải băng. Nóng lên toàn cầu do con người có thể dẫn tới một
số tác động đột ngột hoặc không thể đảo ngược, phụ thuộc vào tốc độ và cường độ của
biến đổi khí hậu.
Mất một phần dải băng ở vùng cực nghĩa là mực nước biển sẽ dâng cao hàng mét,
đường bờ biển sẽ có nhiều thay đổi và các vùng thấp/trũng bị nhấn chìm, gây ảnh
hưởng lớn tới các vùng châu thổ sông và các đảo thấp. Những thay đổi này sẽ diễn ra
trong thiên niên kỷ nhưng cũng không loại trừ trong thế kỷ này mực nước biển tăng
nhanh hơn.
Biến đổi khí hậu có thể gây ra một số tác động lớn. Cho đến nay, theo ước tính,
khoảng từ 20%-30% loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng
khoảng 3
0
C (tương ứng từ năm 1980-1999). Khi nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 3,5
0
C, dự
báo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40%-70% loài tuyệt chủng.
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI
MỰC NƯỚC BIỂN
Do những hoạt động khác nhau của con người, nồng độ CO
2
và các khí nhà kính
lượng này từ các tảng băng phía Tây của Nam Cực. Tỷ lệ này lớn hơn gấp nhiều lần so
với dự đoán của IPCC trong bản Báo cáo thứ ba, và IPCC cũng đã thừa nhận rằng báo
cáo cuối cùng đã không xem xét đến những thay đổi động của các tảng băng phía Tây
của Nam Cực.
Bản Báo cáo thứ ba của IPCC cho thấy từ cuối thế kỷ 19 nhiệt độ trung bình bề mặt
Trái đất đã tăng xấp xỉ 0,2-0,6
o
C. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 là thập kỷ nóng nhất trong
1000 năm qua ở bán cầu Bắc. Hai giai đoạn có nhiệt độ tăng nhanh nhất là 1910-1945
và từ 1976 đến nay với khoảng 0,15
o
C/thập kỷ. Mức tăng nhiệt độ của biển chỉ bằng
khoảng một nửa mức tăng nhiệt độ không khí bề mặt đất. Những phân tích mới cho
thấy hàm lượng nhiệt của đại dương toàn cầu tăng lên rõ rệt từ những năm 1950, trong
đó hơn một nửa lượng nhiệt tăng lên này xảy ra ở lớp nước bên trên, tương đương với
mức tăng khoảng 0,04
0
C/thập kỷ.
Hình 1. Sự thay đổi nhiệt độ đại dương và đất liền trên toàn cầu (Nguồn: IPCC 2007)
Mực nước biển tăng đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho nhiều quốc đảo nhỏ đang
phát triển và cho tất cả các vùng trũng trên thế giới. Báo cáo Phát triển Con người
2007-0008 (UNDP) đưa ra dự báo nếu nhiệt độ tăng thêm 3-4
o
C, 330 triệu người phải
di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt. Hơn 70 triệu người Bănglađét, 6 triệu người ở
11
vùng đồng bằng thấp của Ai cập và 22 triệu người Việt Nam có thể bị ảnh hưởng. Các
quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và vùng Caribê có thể bị thiệt hại hết sức nghiêm
trọng. Sự thay đổi hình thái dòng chảy và hiện tượng băng tan sẽ gây ra thêm các áp
lực sinh thái, ảnh hưởng xấu đến lưu lượng nước tưới và sự định cư của con người.
tàng về kinh tế xã hội chính của mực nước biển dâng như sau:
- Tăng nguy cơ thiệt hại về tài sản và các nơi cư trú vùng ven biển.
- Tăng rủi ro ngập lụt và tỷ lệ thương vong.
- Phá huỷ các công trình bảo vệ bờ biển và các công trình cơ sở hạ tầng khác.
- Suy giảm các nguồn tài nguyên tái tạo và sinh kế.
- Suy giảm các chức năng du lịch, giải trí và giao thông.
- Thiệt hại về các giá trị về văn hóa.
- Nảy sinh các vấn đề mới về tái định cư.
12
- Tác động đến nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản do suy giảm chất lượng đất và
nước.
Tài liệu “Tác động của mực nước biển dâng cao đến các nước đang phát triển:
Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện tháng 2/2007 đã đánh giá
các tác động của mực nước biển dâng cao đối với tất cả các nước đang phát triển bằng
cách sử dụng bộ chỉ số đồng nhất các chỉ thị và với các kịch bản khác nhau về mực
nước biển dâng cao. Có thể nói, đây là tài liệu đầu tiên được thực hiện theo hình thức
này. Năm 2006, Mendelsohn và các cộng sự đã đưa ra thêm bằng chứng, bằng việc
đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đối với thị trường tại các nước giàu và
nghèo theo các kịch bản khí hậu khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không đánh
giá tác động của mực nước biển dâng cao đến các chỉ thị tự nhiên và xã hội. Với tài
liệu này, WB đã chia 84 nước đang phát triển ở ven biển thành 5 nhóm theo 5 văn
phòng khu vực của WB gồm: Mỹ Latin và Caribê (25 nước); Trung Đông và Bắc Phi
(13 nước); Châu Phi cận Xahara (29 nước); Đông Á (13 nước); và Nam Á (4 nước).
Với mỗi nước và khu vực, các nhà khoa học đánh giá tác động của mực nước biển
dâng cao theo 6 chỉ thị: đất đai, dân số, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), diện tích đô thị
và đất ngập nước. Cuối cùng, các tác động này được tính toán theo các kịch bản về
mực nước biển dâng cao từ 1-5m.
Các nhà khoa học đã sử dụng phần mềm của Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để
chồng ghép 6 yếu tố quan trọng bị tác động của các vùng có nguy cơ nhấn chìm theo 5
kịch bản nước biển dâng từ 1-5m. Đánh giá cũng sử dụng các nguồn dữ liệu không
1m 2m 3m 4m 5m
Tổng diện tích 14.140.767 km
2
Diện tích 74.020 119.370 178.177 248.970 325.089
% 0,52 0,84 1,26 1,76 2,30
Tổng dân số 1.883.407.000 người
Dân số 37.193.866 60.155.640 90.003.580 126.207.275 162.445.397
% 1,97 3,19 4,78 6,70 8,63
Tổng GDP 7.577.206 triệu USD
GDP (triệu
USD)
158.399 255.510 394.081 592.598 772.904
% 2,09 3,37 5,20 7,82 10,20
Tổng diện tích đô thị 388.054 km
2
Đô thị 6.648 11.127 17.596 25.725 34.896
% 1,71 2,87 4,53 6,63 8,99
Tổng diện tích đất nông nghiệp 5.472.581 km
2
Đất nông
nghiệp
45.393 78.347 121.728 174.076 229.185
% 0,83 1,43 2,22 3,18 4,19
Tổng diện tích đất ngập nước 1.366.069 km
2
Đất ngập
nước
36.463 56.579 79.984 110.671 130.780
% 2,67 4,14 5,86 8,10 9,57
Nguồn: WB, 2007
% 0,29 0,52 0,85 1,24 1,65
Tổng dân số 1.306.556.000 người
Dân số 5.870.472 10.187.694 17.810.069 22.065.103 39.505.521
% 0,45 0,78 1,36 1,69 3,02
Tổng GDP 3.295.567 triệu USD
GDP (triệu
USD)
18.021 30.957 52.036 72.462 94.020
% 0,55 0,94 1,58 2,20 2,85
Tổng diện tích đô thị 241.779 km
2
Đô thị 809 1.379 2.311 3.599 5.117
% 0,33 0,57 0,96 1,49 2,12
Tổng diện tích đất nông nghiệp 3.023.617 km
2
Đất nông
nghiệp
3.442 6.951 13.501 23.716 35.190
% 0,11 0,23 0,45 0,78 1,16
Tổng diện tích đất ngập nước 579.130 km
2
Đất ngập
nước
9.184 16.685 25.988 36.109 46.003
% 1,59 2,88 4,49 6,24 7,94
Nguồn: WB, 2007
15
Hình 2. Dân số bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á
Nguồn:WB, 2007
Hình 3. Diện tích đất các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á
Khả năng thích ứng
kinh tế-xã hội
Tính nhạy cảm về
kinh tế-xã hội
Khả năng tự thích ứng
Tính nhạy cảm kinh tế-
xã hội
Cácảnh hưởng khác
Khả năng thích ứng
theo kế hoạch
Các áp lực
không liên
quan đến
khí hậu
Khả năng thích
ứng tự nhiên
Tính nhạy cảm
tự nhiên
Khả năng tự
thích ứng
Tính tổn thương tự
nhiên
Cácảnh hưởng
sinh-địa-vật lý
Khả năng thích ứng
theo kế hoạch
HỆ THỐNG KT-XH
17
Mức tiếp xúc được xác định là tính chất và mức độ, mà một hệ thống khi tiếp xúc
với các thay đổi về khí hậu như nước biển dâng.
Kịch bản A1T 2,4 1,4-3,8 0,20-0,45
Kịch bản B2 2,4 1,4-3,8 0,20-0,43
Kịch bản A1B 2,8 1,7-4,4 0,21-0,48
Kịch bản A2 3,4 2,0-5,4 0,23-0,51
Kịch bản A1F1 4,0 2,4-6,4 0,26-0,59
Nguồn: IPCC, 2007
Kịch bản A1: Nền kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh, dân số toàn cầu đạt cực đại vào
những năm giữa thế kỷ và nhiều công nghệ mới hiệu suất cao sẽ được đưa vào sử dụng. Kịch
bản A1 chia làm 3 nhóm với các hướng thay đổi khác nhau trong công nghệ:
- Nhiên liệu hóa thạch (A1F1).
- Nhiên liệu phi hóa thạch (A1T).
- Cân bằng giữa các loại năng lượng (A1B).
Kịch bản B1: Dân số toàn cầu cũng đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ giống kịch bản A1
nhưng có sự thay đổi nhanh hơn trong cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ và kinh tế nông thôn.
Kịch bản B2: Sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở mức trung bình, các giải pháp phát
triển kinh tế, xã hội và môi trường bền vững khu vực được chú trọng.
Kịch bản A2: dân số toàn cầu tăng trưởng nhanh trong khi phát triển kinh tế và
chuyển giao công nghệ chậm.
18
II. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN TỚI MỘT SỐ
QUỐC GIA CÓ BIỂN VÀ VIỆT NAM
2.1. BĂNGLAĐÉT
Bănglađét là một trong những vùng châu thổ lớn trên thế giới với 230 hệ thống sông
ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước. Trong đó lớn nhất là Hệ thống sông Hằng,
Brahmaputra và Meghna. Địa hình Bănglađét thoải từ phía Bắc xuống phía Nam với
710 km đường bờ biển. Dải ven biển phía Nam nằm song song với Vịnh Bengal ở mũi
phía Bắc của Ấn Độ Dương, nông và có dạng hình cung lõm, thường xuyên bị bão tấn
công, gây ra sóng lớn. Dải ven biển tập trung 19 trong số 64 quận của Bănglađét, trong
đó có 12 quận tiếp giáp với biển hoặc nằm trên vùng cửa sông. Dân số vùng ven biển
là 35,1 triệu người, chiếm 28% tổng dân số (năm 2003). Mật độ dân số ở vùng duyên
2
)
4 % diện tích đất
(6.300 km
2
)
17,5 % diện tích đất (25,000
km
2
).
Các khu vực bị ảnh hưởng
nhiều nhất gồm Patuakhali,
Khulna và Barisal
Bão 1991 trận bão, lốc diễn ra,
với mức tăng 10% về
cường độ, tốc độ gió tăng
từ 225 đến 248 km/h;
Bão làm nước dâng 7,4-9,1m và
làm mực nước biển dâng cao 1
m.
Ngập lụt Ngập lụt tăng 20%
.
Tăng ngập lụt ở sông
đồng bằng ngập lũ sông
Tăng diện tích bị ngập mức độ
lũ lụt.
19
Meghna và sông Hằng.
Ngập trong mùa mưa làm
tăng thiệt hại mùa màng.
Cox’s Bazar tương ứng với các mức 4,0 mm/năm, 6,0 mm/năm và 7,8 mm/năm trong
khoảng thời gian từ 1977-1998. Tốc độ triều dâng ở dải ven biển phía tây cao gấp đôi
dải ven biển phía đông. Sự khác biệt này có thể do sự sụt lún và nâng lên của nền đất,
tuy nhiên xu thế sụt lún là chủ yếu. Để đánh giá chính xác mức nước biển dâng lên ở
vùng ven biển Bănglađét, cần có những đo đạc về lượng phù sa ở các vùng châu thổ và
tốc độ nâng lên hay sụt lún của nền đất trong đó phải kể đến hai hệ thống sông lớn là
sông Hằng và sông Brahmaputra vận chuyển gần 1,6 tỷ tấn phù sa mỗi năm.
Các tác động liên quan đến nước do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những
vấn đề nghiêm trọng nhất ở Bănglađét, đặc biệt là liên quan đến ngập lụt ven biển và
ven sông. Những thay đổi về nền đáy sông do quá trình vận chuyển phù sa và trầm
tích, cũng như những thay đổi về đặc điểm hình thái do biến động mực nước và lưu
lượng dòng chảy theo mùa cũng có ý nghĩa quan trọng. Nguy cơ xói lở tăng lên khi
mực nước biển và nước sông dâng cao. Nước biển dâng cuốn trôi lớp đất bề mặt ở dải
ven biển, khiến cho khu vực trở nên dốc hơn. Dải ven biển của Bănglađét được thành
tạo bởi đất bùn và cát do vậy rất dễ tổn thương trước nước biển dâng. Xói lở còn là
nguyên nhân khiến con người phải di dời. Hầu hết người nghèo ở Bănglađét không có
đất. Nhà có thể bị sập do xói lở và nhiều lần sập như vậy khiến họ càng nghèo khổ
hơn. Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Chính sách Trái đất năm 2004 cho thấy sẽ
có khoảng 40 triệu người Bănglađét trở thành tị nạn môi trường do nước biển dâng
1m. Xu thế di cư ra các vùng ven biển khá rõ ràng ở Bănglađét. Trong khi tốc độ tăng
dân số của nước này là 1,2% (2000-2005) thì tốc độ tăng dấn số ở các vùng ven biển
thấp dưới 10m là 2,1%, ở khu vực đô thị là 2,8%. Dòng người tị nạn môi trường này
ngoài một số di dời vào sâu trong nội địa, một số khác tìm đường sang các nước láng
giềng như Ấn Độ và Pakistăng, gây những bất ổn về xã hội trong khu vực.
20
Nước biển dâng sẽ làm tăng các hoạt động làm thay đổi đặc điểm hình thái học của
sông, gia tăng lưu lượng dòng chảy và do vậy làm tăng khả năng xói lở bờ. Xói lở bờ ở
các khu vực cồn đôi khi còn xóa sổ chúng trên bản đồ của Bănglađét. Trong giai đoạn
1972-1987, đã có khoảng 196 km
2
trắng 2/3 đất nước. Trên 1.000 người chết và 30 triệu người thành vô gia cư. Khoảng 10%
diện tích trồng lúa toàn quốc mất trắng. Ngập lụt kéo dài không thể trồng cấy lại nên hàng
chục triệu hộ phải đối mặt với khủng hoảng lương thực.
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng gấp đôi sau lụt. Mười lăm tháng sau lụt, 40% trẻ có tình
trạng dinh dưỡng kém vào thời gian ngập lụt vẫn chưa trở lại được mức dinh dưỡng cũ.
Việc đối phó với trận lụt 1998 đôi khi được coi là bài học thành công về xử lý thiên tai.
Tuy nhiên, lũ lụt có tác động xấu về lâu dài, rõ nhất là về tình trạng dinh dưỡng của trẻ
vốn đã suy dinh dưỡng. Trẻ bị tác động có thể không bao giờ có khả năng phục hồi sau
hậu quả. Hộ nghèo phải chịu đựng trong thời gian trước mắt do cắt giảm tiêu dùng và
bệnh tật gia tăng, và do phải gánh chịu nợ nần chồng chất hơn.
Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008, UNDP.
21
Hai phần ba trong số 40 triệu lao động có sức khoẻ ở Bănglađét tham gia làm nông
nghiệp và các hoạt động liên quan khác. Tỷ lệ đất canh tác bị thu hẹp hàng năm là 100.000
ha, do đô thị hoá và phát triển các khu định cư. Với tốc độ mất đất này, kèm theo các nguy
cơ nhiễm mặn và thoái hóa đất, nền nông nghiệp tự cung tự cấp của Bănglađét chắc chắn sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong tương lai. Nhiễm mặn tăng do nước biển dâng làm giảm
sản lượng nông nghiệp do thiếu nguồn nước ngọt và thoái hóa đất. Độ mặn làm giảm mức
năng lượng và khả năng nảy mầm của một số loài thực vật. Trong số 2,85 triệu ha diện tích
vùng ven biển thì có tới 1,2 triệu ha đất canh tác bị nhiễm mặn ở các mức độ khác nhau.
Ngập triều trong mùa mưa, ngập trực tiếp do nước mặn và nước lợ, ranh mặn tiến sâu trong
mùa khô và ngập nước lợ do nuôi tôm là các nguyên nhân chính gây nhiễm mặn ở vùng ven
biển Bănglađét.
Người dân Bănglađét chủ yếu nuôi loài tôm hùm Ấn Độ (Peneaus monodon). Độ mặn
cần thiết cho sự phát triển tối ưu của loài tôm này là 5-25 ppt và chúng không thể nuôi trong
môi trường nước ngọt. Sự xâm nhập mặn tại các vùng duyên hải một mặt giúp nông dân mở
rộng diện tích nuôi tôm mang lại thu nhập, nhưng đồng thời cũng gây ra các ảnh hưởng môi
trường tiềm tàng khác. Các diện tích đất lớn được chuyển đổi thành các cánh đồng nước
mặn diễn ra hàng ngày. Diện tích nuôi tôm tại 3 quận Satkhira, Khulna và Bagerhat tính đến
năm 2004 là 115.900 ha, tăng gấp 87 lần so với năm 1975. Đây cũng là chỉ số về sự xâm
Bănglađét còn là một trong những nước sản xuất muối lớn trên thế giới. Bờ biển ở Cox’s
Bazar rất phù hợp với việc sản xuất muối. Khoảng 19.670 ha được sử dụng để sản xuất
muối dọc theo bờ biển Cox’s Bazar. Tại đây có 216 hồ muối với diện tích 8.153 ha chỉ
riêng ở Chakaria và Sadar thana, sản xuất ra 175.030 tấn muối hàng năm. Hơn nữa, các nhà
máy chế biến muối đều đặt gần bờ biển. Ngành công nghiệp này bị ảnh hưởng nghiêm
trọng khi mực nước biển dâng. Hai mươi triệu người trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến
sản xuất muối bị ảnh hưởng và có thể rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Nước biển dâng còn làm thay đổi vị trí của các cửa sông, gây ra sự thay đổi lớn đối với
các nơi cư trú và bãi đẻ của các loài sinh vật do tăng hàm lượng muối, phân mảnh và thu
hẹp nơi cư trú. Bănglađét còn nổi tiếng với Sundarbans, một di sản thế giới được UNESCO
công nhận. Sundarbans chính là rừng ngập mặn lớn nhất trên thế giới, nằm ở phía Đông
Nam của Bănglađét trải rộng cả 3 quận Khulna, Satkhira và Bagerhat. Khu rừng này còn là
điểm nóng về đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng trong Sách Đỏ
của IUCN và là nơi cư trú cuối cùng còn sót lại cho loài hổ Bengal (Panthera tigris). Theo
đánh giá năm 2000 của WB, Sundarbans sẽ bị nhấn chìm 15% khi nước biển dâng 10 cm,
40% khi nước biển dâng cao 25 cm và bị nhấn chìm hoàn toàn khi mực nước biển dâng 1m.
Mất Sundarbans có nghĩa mất di sản, mất đa dạng sinh học, nguồn lợi thuỷ sản, sinh kế và
sau cùng là mất đi hệ sinh thái có năng suất cao.
Bănglađét còn là nơi thu hút khách du lịch bởi có những bãi biển đẹp ở Kuakata Patenga,
Cox’s Bazar. Ngành du lịch ở Kuakata bị ảnh hưởng nhiều hơn do nằm gần bờ biển và ở
khu vực dễ bị tổn thương hơn so với Cox’s Bazar và Chittagong. Ngoài ra, còn có rất nhiều
cơ sở hạ tầng du lịch khác được xây dựng ở khu vực ven biển. Trước nguy cơ nước biển
dâng, các tài sản này sẽ bị đe doạ và tiềm năng du lịch thiên nhiên cũng bị ảnh hưởng.
Với một nước có địa hình thấp trũng như Bănglađét, thì các tác động của nước biển dâng
là quá rõ ràng. Các hoạt động sinh kế của người dân và các hệ sinh thái quan trọng bị ảnh
hưởng. Nước biển dâng sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của Bănglađét. Chính
vì vậy, Chính phủ Bănglađét cần phải có những nỗ lực lớn để giải quyết vấn đề, thông qua
một chiến lược tổng thể nhằm đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nhằm đảm
bảo tính toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ sự an toàn cho cư dân của mình. Chiến lược quốc gia
thích ứng với biến đổi khí hậu của Bănglađét là một phản ứng của chính phủ trước phiên
nước dâng, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.
Gia tăng nhiễm mặn đã làm trầm trọng thêm vấn đề cung cấp nước sạch ở các vùng
duyên hải. Công nghệ thu gom nước mưa được chính phủ và các nhóm phi chính phủ tuyên
truyền và phổ biến rộng rãi. Nền nông nghiệp thích nghi với ngập lụt được thúc đẩy thông
qua nghiên cứu các giống lúa chịu mặn ; lắp đặt hệ thống ống dùng cho tưới tiêu gần mặt
đất nhằm giảm tác động của độ mặn…
Các giải pháp thích ứng được đề xuất cho Bănglađét nhằm giảm thiểu các tác động của
biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các cơ chế hiện nay, các thực tiễn và các chiến
lược tương lai. Các giải pháp này được chia thành 2 nhóm, gồm nhóm ‘can thiệp’ và nhóm
‘hỗ trợ’.
Nhóm các giải pháp can thiệp bao gồm:
1. Thúc đẩy áp dụng nền canh tác vùng ven biển trong điều kiện độ mặn tăng.
2. Thúc đẩy ngư nghiệp vùng ven biển thông qua ương, nuôi, đa dạng hóa các thực
tiễn nuôi các loài cá có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển của Bănglađét.
3. Xây dựng các khu nhà tránh lũ, thành lập trung tâm thông tin và hỗ trợ cho tình
hình ngập lụt ngày càng tăng.
4. Giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu thông qua tái trồng rừng với sự tham
gia của cộng đồng địa phương.
5. Cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển nhằm giải quyết tình trạng
nhiễm mặn gia tăng do nước biển dâng.
6. Tăng tính ‘đàn hồi’ của cơ sở hạ tầng độ thị và các ngành công nghiệp trước các tác
động của biến đổi khí hậu, như ngập lụt và bão.
Nhóm các giải pháp hỗ trợ bao gồm:
1. Xây dựng năng lực về lồng ghép biến đổi khí hậu vào quá trình quy hoạch, thiết kế
xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý xung đột.
24
2. Tìm kiếm các giải pháp về bảo hiểm trước các thảm hoạ về biến đổi khí hậu
3. Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chính sách và các chương trình
trong các ngành/lĩnh vực khác nhau.
4. Đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở cấp trung học trở lên.
Nhóm công tác theo ngành
Tư vấn cho các bên có vai trò ở cấp vùng
Xác định các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu, các
chiến lược và giải pháp thích ứng trong tương lai
Báo cáo đánh giá theo ngành
Các tác động, tính tổn thương và các giải pháp thích ứng
tiềm tàng
Kết nối các hoạt động tiềm tàng của
NAPA
Dựa trên những tư vấn và ý tưởng từ Báo cáo đánh
giá theo ngành
Xây dựng tiêu chí
đểưu tiên các giải pháp thích ứng
Tư vấn cho các bên tham gia có vai tròở cấp
quốc gia
Ưu tiên và sắp xếp các dự án/biện pháp thích ứng
NAPA hoàn chỉnh
Danh mục các dự án tiềm tàng
được lồng ghép vào Chính sách Quốc gia
Cơ sở khung và Chương trìnhđược Chính phủ thông qua
• Khung chính sách thích
ứng
• Phương pháp và cơ sở khung
được sử dụng trong các nghiên
cứu trước đây
• Các nghiên cứu trước đây
• Báo cáo về các chiến lược
cho các hiện tượng thời
tiết khắc nghiệt.
• Kế hoạch quản lý tài
động của con người tăng lên làm cho những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và mực
nước dâng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn (Bảng 6).
Bảng 6. Số liệu thống kê 14 đơn vị hành chính ven biển ở Trung Quốc
Nguồn : Uỷ ban Thống kê Nhà nước, Trung Quốc 2000.
Trong những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc bùng nổ là nhờ có các chính sách
khuyến khích sự phát triển của các vùng duyên hải. Những chính sách đó đã thúc đẩy
xu thế và luồng di dân ra các vùng ven biển lớn nhất trong lịch sử. Nước biển dâng cao
làm tăng rủi ro ngập lụt ở các vùng dễ bị tổn thương nhất, là nguyên nhân gây tổn thất
về kinh tế và đẩy con người vào tình trạng nguy hiểm. Ngập lụt vùng duyên hải do
nước dâng kèm theo bão đã ảnh hưởng đến hàng chục triệu người và thiệt hại hàng
chục triệu USD. Trung Quốc cũng là nước nằm trong danh sách 10 nước có phần đông
Đất liền Đảo Tổng số % tổng số
Diện tích(10
6
km
2
)
1.248 0.36 1.608 16,75
Dân số (10
6
)
498,5 29,1 527,6 41,9
Mật độ dân số (người/km
2
)
321,6
GDP (10
9
USD)
596,83 438,33