Gián án Một số kinh nghiệm rèn chữ viết cho hs lớp 1 - Pdf 80

HÌNH THÀNH CÁC YẾU TỐ QUA BIỆN PHÁP RÈN
CHỮ VIẾT - GIÚP HỌC SINH THAM GIA PHONG
TRÀO THI”VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP”.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Qua nhiều năm công tác , tôi nhận thấy trong quá trình dạy học ,thông qua
các hoạt động (nghe ,nói , đọc ,viết…. ) được thể hiện một cách thường xuyên.
Trong đó , chữ viết đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành tiếp thu các kiến
thức của học sinh. Qua đó cứ mỗi năm học trải qua các em sẽ lên lớp trên thì kiến
thức cũng được nâng cao dần theo từng giai đoạn (lớp). đông thời quá trình rèn
luyện qua nhận thức của học sinh cũng từng bứơc nâng cao. Nhưng chữ viết của
các em đáng lẽ cũng được nâng cao theo (viết đẹp) ngược lại thì còn rất nhiều hạn
chế. Chẳng những còn có chiều hướng xuống cấp trong những năm qua.
Thật vậy, khi học sinh lên học các lớp ở đầu cấp 2 thì chữ viết vẫn chưa được
phát huy nhiều do ảnh hưởng những nguyên nhân sau:
- Do trẻ tập tành học nói , học viết ,vẽ … bằng cách bắt chước làm theo ,nên
ảnh hưởng môi trường tiếp xúc nhất là ở gia đình , kể cả khi vào mẫu giáo .v.v.
chẳng hạn từ cách chơi, cách học cho nên trẻ mới có sự cảm nhận bằng nhiều cách,
vận dụng bất cứ hình thức nào (bản năng tự phát cầm , nắm , lấy tô, vẽ viết , rồi
quen dần trở thành thói quen. Cho đến khi vào cấp 1 (lớp 1 ,2, 3) từ tư thế cách
viết mang tính chất kế thừa. nếu chúng ta không có biện pháp khắc phục và kiên trì
uốn nắn những tư thế sai , lệch lạc… dẫn đến trẻ khó mà viết đẹp được và khó sửa .
- Thật vậy khi dự giờ ( chính tả, tập làm văn , tập viết ,…) nhất là phân môn “tập
viết” , khi quan sát kĩ qua một lượt thì sẽ thấy tư thế của học sinh ( ngồi cầm bút
….) đủ kiểu. chẳng hạn, ngọe cổ, uốn miệng , mặt nằm sát xuống bàn , … trông
thật vất vả , khó khăn cố gắng lắm mới viết xong bài. Thậm chí có một số em lo ra
chỉ viết mấy chữ , mấy câu ngoằn ngoeøo, lệch lạc ,…thỉnh thoảng nhìn lên thầy ,
cô hối thúc , quở trách.
- Ảnh hưởng đến hình dáng kểu chữ “in” ( đối với trẻ chậm phát triển chư linh
hoạt)
- Ảnh hưởng đến mẫu kiểu chữ viết thay đổi qua các giai đoạn trước.
Tuy nhiên , từ khi thay đổi kiểu chữ theo TT/15 thì chữ viết đã có nhiều tiến bộ

uốn nắn thường xuyên như: tư thế ngồi , cầm bút ,nói ,đọc … chuyển qua tự giác từ
hình mẫu, vật mẫu ,cả giọng điệu cử chỉ của thầy cô giáo thì trẻ thường bắt chước
và tiếp thu rất nhanh. Khi vào học cấp 1( lớp 1,2,3). Giáo viên không ngại khó cần
phải tiếp tục quan tâm nhiều hơn nữa , đồng thời phải có kế hoạch và biện pháp,
pháp hiện và sửa chữa kịp thời những tư thế (bẩm sinh) mà trẻ chưa sửa được từ
mẫu giáo ,dễ cập nhật và khắc phục ngay như ngồi ngay cầm đúng ,dễ nhìn dễ viết.
Dẫn đến viết đúng ,nhanh qua các môn học khác. Sau đó giúp học sinh lĩnh hội
cách viết nhất là chữ cái , chữ viết hoa (lớp 1,2) với kích cở mà tay cầm bút không
đúng như : nắm chặt quá , cầm quá sát ngòi bút , vã lại độ di chuyển (lia bút của
các ngón tay) không đủ cở chữ , ….(độ cao : 5 dòng li)cho HS viết dời điểm tựa cả
bàn tay , cho nên trẻ viết rất khó khăn hời hợt không đều nét từ hình độ cao ,… Khi
HS nắm được “cách viết” thì việc vận dụng trong việc luyện tập cũng thuận lợi
hơn.
+ Khi viết mẫu minh hoạ phải viết đúng mẫu (kích cở )để học sinh nắm khi luyện
tập dễ hơn viết đúng hơn.
+ Sau khi chấm bài , ngoài nhận xét ra GV cần nêu lỗi phạm của HS lệch lạc , sai
để hướng dẫn các em sửa lại.
+ Cả tư thế sai cũng nhắc nhở uốn nắn luôn để tự kiềm chế khắc phục.
Thật vậy khi Gv lên lớp ,qua tiết dự giờ thì thấy GV lúc nào cũng quan tâm đến đội
quân tí hon ,mong muốn các em chăm ngoan, chăm chú nghe giảng bài hăng hái
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 2 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
phát biểu …tiếp thu nhanh , viết đúng sạch đẹp. Thường xuyên nhắc nhở (tay , mắt
,lưng, ngồi) hoặc sửa chữa chỉ cho có (không đầy 1 phút ) rồi đâu cũng vào đó !.
Thật ra GV ai cũng phiền lòng về vấn đề này. Vì đó là thói quen (đã nói như trên)
Qua đó chúng ta ai cũng phải đặt ra những giải pháp nào để khắc phục những
nhược điểm đó. Tìm nguyên nhân từ đâu ?( từ gia đình và mẫu giáo )
@ Các biện pháp cụ thể nghĩ ra:
1. Xây dựng nề nếp cơ bản :
Ngay từ khi trẻ vào lớp 1 ta nên chú trọng đặc biệt là “tư thế”. Trước hết phải giáo
dục uốn nắn thường xuyên bất kỳ trong giờ học nào và khen ngợi những em thực

cách trình bày …
6. Thường xuyên kiểm tra sách vở học sinh và cách bảo quản:
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 3 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
Nhất là vở bài học ,vở bài làm viết , có trình bày đúng quy định chưa. Kể cả chữ
viết ,… dành vài phút trong giờ sinh hoạt lớp đều đặn để tác động thường xuyên và
cho học sinh xem tập vở các bạn viết sạch sẽ chữ đẹp. Đề nghị học sinh khắc phục
những sai xót (xé giấy hoặc bỏ giấy mới viết độ nữa trang ,vẽ bẫn ,quăn góc…)
7. Rèn luyện thường xuyên:
Dựa vào vở ập viết đúng đẹp. Nhất là mẫu cữ viết hoa,câu ,từ ứng dụng,giáo viên
kiểm tra chưa đạt thì viết lại.
B. Tổ chức tiến hành để giải quyết vấn đề ,giáo viên linh hoạt phối hợp các
biện pháp trên áp dụng cho học sinh chậm tiến và học sinh có khả năng tham
gia thi “VSCĐ”:
Qua quá trình giáo dục và động viên học sinh tham gia phong trào thi
“VSCĐ” qua thực tiễn cho thấy cần vận dụng phối hợp các yếu tố và các biện pháp
sau:
1. Hình thành cho học sinh ngay từ đầu năm, xây dựng nề nếp theo yêu cầu
chung:
- Linh hoạt ngay việc phân phối vở ,bao bìa,dán nhãn,…
- Cách trình bày vở theo yêu cầu như nội dung chấm chọn “VSCĐ” (phải ghi ngày
tháng năm trước khi ghi bài đầu tiên của từng buổi học viết cho cân xứng vừa một
dòng (cách lề khoảng 2ô). Viết tên phân môn ở giữa dòng và gạch chân ,..)
2. Phân loại chữ viết cả lớp xếp loại (ABC):
Có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ khi khảo sát chất lượng đầu năm. Đánh giá xếp
loại “VSCĐ” hàng tháng. Nhận xét vào tiết sinh hoạt lớp để kích thích các em còn
chậm sẽ có chuyển biến từng bước xếp loại từ C – B , B – A.
3. Thường xuyên gần gũi chỉ dẫn , đặc biệt sâu sát học sinh chậm tiến (kể cả
học lực)
Luôn động viên ,nhắc nhở chỉ chổ sai lệch cho học sinh thấy để khắc phục dần.
Đồng thời biểu dương khen ngợi những học sinh có tiến bộ. Từ đó bản thân các em

Nhóm 2: chữ nào viết chung trong một từ láy mang thanh huyền ( \ ) và thanh
ngang ( - ) thì viết dấu hỏi.
6. Tác động từ 3 phía ( Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm , gia đình):
Từ phiên họp định kì đầu năm. Giáo viên chủ nhiệm thông qua việc học tập, nêu ra
thuận lợi và khó khăn của lớp ,… thảo luận bàn bạc với phụ huynh học sinh đưa
ngững biện pháp để giáo dục thuyết phục trẻ tốt hơn. Thông qua kiểu chữ mới.
Nắm được cách đánh giá xếp loại “VSCĐ” cho học sinh ở 3 mức A,B,C để phụ
huynh cùng giá dục và tác động (khuyến khích ). Ký tên và nhận xét góp ý vào
phiếu liên lạc. Hỗ trợ việc học ở nhà như kiểm tra đôn đốc , nhắc nhở thực hiện
đúng được khung chữ cơ bản và kích cở của mẫu chữ mới này (viết hoa,viét
thường)(chữ vừa ,chữ nhỏ)tương tự như khung chữ củ cùng với một vài thuật ngữ (
định vị , ước lượng). Trong năm học này được dạy tiếp lớp 1 nên tôi cũng dể dàng
rèn chữ viết cho học làm nền tảng ở các lớp trên. Qua hơn một học kì tôi đã nhận
thấy công sức của tôi đỗ ra cũng mang lại cho tôi một kết quả rất khả quan sau khi
kiểm chứng.
7. Kiểm nghiệm lại kinh nghiệm :
a) Kết quả:
Qua quá trình hình thành và vận dụng sáng kiến kinh nghiệm thực tiễn đã mang lại
một niềm phấn khởi trong từ đầu năm học đến nay.
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 5 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status