Báo cáo thực tập tại Bộ Kế Hoạch – Đầu Tư - Pdf 81

LỜI MỞ ĐẦU
Vụ tài chính tiền tệ là một trong số các cơ quan giúp cho Bộ Kế Hoạch-
Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Vụ có chức năng quản
lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, xây dựng các cân đối lớn như cân
đối NSNN, cân đối tiền – hàng, tham mưu về chính sách tài chính, tiền tệ,
chính sách huy động và sử dụng nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội một cách có hiệu quả. Kể từ khi thành lập cho tới nay, Vụ Tài Chính- Tiền
Tệ đã không ngừng nổ lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đạt
được những kết quả đáng khích lệ góp phần vào sự phát triển của đất nước. Có
thể thấy, Vụ Tài Chính- Tiền Tệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công
tác điều hành, quản lý lĩnh vực tài chính, tiền tệ của đất nước. Trong thời gian
5 tuần thực tập tổng hợp tại Vụ, dưới sự hướng dẫn của chuyên viên Vũ Ngọc
Hưng và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân viên của Vụ, tôi đã có cơ
hội được tìm hiểu về Vụ, về chức năng nhiệm vụ, tình hình công tác của Vụ
Tài Chính – Tiền Tệ. Qua đó, tôi đã có được những hiểu biết sâu hơn về công
tác của Vụ trong thời gian qua. Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo THS. Đặng
Thị Lệ Xuân, anh Vũ Ngọc Hưng cùng các cán bộ Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã
giúp đỡ tôi hoàn thành bản báo cáo này.
1
PHẦN I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ BỘ KẾ HOẠCH - ĐẦU TƯ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bộ Kế Hoạch – Đầu Tư
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, ngày
31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập ủy ban Nghiên cứu
kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ một kế
hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn hóa.
Đến ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho ủy ban
Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết). Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên
cứu, soạn thảo và trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế

theo ngành, vùng lãnh thổ.
- Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy có
liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong
và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể các nguồn từ nước ngoài để
xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đói chủ yếu của nền kinh tế quốc
dân.
- Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy
ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối
tổng hợp kế hoạch.
- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực
hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế
- kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nước; điều
phối quản lý và sử dụng nguồn ODA; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp
tác, liên doanh.
- Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà
nước.
- Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển
kinh tế - xã hội.
3
- Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
công chức, viên chức trực thuộc Bộ quản lý.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính
sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển.
3. Cơ cấu tổ chức của Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư
Khối các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm:

KHỐI CƠ QUAN GIÚP BỘ
THỰC HIỆN CHỨC NĂNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
KHỐI CÁC TỔ CHỨC HÀNH
CHÍNH SỰ NGHIỆP
4
trình độ thạc sĩ, 550 người có trình độ đại học và cao đẳng, 153 cán bộ đảng
viên có trình độ lý luận chính trị cao cấp, 401 người có trình độ lý luận chính
trị trung cấp.
II. TÌM HIỂU CHUNG VỀ VỤ TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ
Ngày 8/10/1955 cùng với sự ra đời của Uỷ Ban Kế Hoạch Quốc Gia,
theo nghị quyết của Hội đồng Chính Phủ, Phòng Tài Chính và Thương Mại -
tiền thân của Vụ Tài Chính Tiền Tệ hiện nay đã được thành lập. Phòng Tài
Chính và Thương Mại có nhiệm vụ tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện kế
hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1955-1957) và kế hoạch 3 năm cải
tạo và phát triển kinh tế - xã hội (1958-1960), nghiên cứu trình chính phủ các
cơ chế, chế độ về tài chính, kế hoạch hoá giá thành, phí lưu thông.
Ngày 9/10/1961, Hội đồng Chính Phủ ra Nghị định số 158-CP quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ Ban Kế Hoạch Nhà
Nước với cơ cấu gồm Văn phòng, Tổng cục quản lý xây dựng cơ bản và 14
Vụ chuyên môn, trong đó có Vụ Kế hoạch Tài Chính và Giá Thành. Tổng số
cán bộ của Vụ lúc đó gồm 12 người với 1 vụ trưởng, 2 vụ phó và 9 cán bộ.
Ngay sau khi thành lập, Vụ Kế Hoạch Tài Chính và Giá Thành đã tham gia
vào việc lập kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất và kế hoạch thời chiến giai
đoạn 1966-1975.
Đến cuối những năm 70, đầu những năm 80, tên gọi của Vụ được
chuyển thành Vụ Kế Hoạch Tài Chính – Giá Thành – Giá Cả. Số lượng cán bộ
của Vụ thời kỳ này lên tới trên 30 cán bộ. Chức năng của Vụ thời kỳ này
được phân công bao gồm: tổng hợp kế hoạch giá thành, chi phí lưu thông và

Ban Bí Thư và Thủ Tướng xem xét quyết định. Ngoài cân đối trên, Bộ còn
giao cho Vụ nhiệm vụ xây dựng chỉ tiêu giá thành giá cả và phí lưu thông hợp
lý giao cho các Bộ, ngành căn cứ trên chế độ lập kế hoạch, hạch toán và thống
kê giá thành.
Đến giai đoạn đổi mới, từ sau năm 1986, xuất phát từ chủ trương đường
lối đổi mới theo định hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, nhiệm vụ của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng được thay đổi cho phù hợp
với thực tế. Các nhiệm vụ mang tính cụ thể, vi mô trước đây đã được thay thế
dần bằng việc hoạch định các chính sách và cân đối mang tính vĩ mô.
Tháng 4/1996, Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư đã có quyết định số 97
BKH/TCCB, căn cứ Nghị định số 75/CP, quy định về chức năng nhiệm vụ và
tổ chức bộ máy của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ với những nội dung chính gồm:
- Xác định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch của lĩnh vực tài chính, tiền tệ,
giá cả.
- Xây dựng các bảng cân đối tổng hợp về tài chính - tiền tệ trong thời kỳ kế
hoạch: cân đối tài chính, cân đối ngân sách Nhà nước, cân đối tổng thể tiền
tệ, cân đối tín dụng, cân đối tiền mặt, cân đối thanh toán quốc tế, cân đối
6
ngoại tệ, cân đối tiền hàng và các giải pháp thực hiện các cân đối trên; xác
định chỉ số lạm phát dự kiến trong kỳ kế hoạch.
- Tham gia với Bộ Tài Chính phân bổ kế hoạch thu chi ngân sách trong kỳ kế
hoạch cho các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và
các địa phương.
- Phối hợp với các Vụ trong Bộ, với Bộ Tài Chính và các Bộ, Ngành xác
định kinh phí cho các dự án, chương trình quốc gia( thuộc khoản chi thường
xuyên của ngân sách) và phân bổ kinh phí của các chương trình, dự án cho
các ngành địa phương, các đơn vị sử dụng.
- Nghiên cứu đề xuất các chủ trương biện pháp và cơ chế chính sách lớn trên
lĩnh vực tài chính, tiền tệ, giá cả.
- Kiểm tra, theo dõi và lập báo cáo quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm việc

- Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch của: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước
và toàn ngành ngân hàng (trừ Ngân hàng Chính sách xã hội), Quỹ hỗ trợ
phát triển, các Quỹ tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao.
Nhiệm vụ của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ ngày càng được mở rộng và đổi
mơi về nội dung, phù hợp với xu hướng đổi mới của nền kinh tế trong đó có
nhiều chức năng do Vụ chủ trì thực hiện. Vụ Tài Chính - Tiền Tệ ngày càng có
những đóng góp quan trọng vào điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng.
3.Cơ cấu tổ chức của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ được tổ chức thành 2 bộ phận là: nhóm tài chính
và nhóm tiền tệ. Nhóm tài chính có chức năng thực hiện tất cả các nhiệm vụ
được giao có liên quan tới lĩnh vực tài chính như: tham gia xây dựng kế hoạch
thu chi ngân sách, phối hợp phân bổ thu chi ngân sách, tổng hợp vốn đầu tư
phát triển, phân bổ vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia, lập kế hoạch giải
ngân, vay, trả nợ ODA….Nhóm tiền tệ có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
được giao có liên quan tới lĩnh vực tiền tệ như: tham gia xây dựng kế hoạch
Vụ Trưởng
Vụ Phó
Vụ Phó Vụ Phó
Nhóm tiền tệNhóm tài chính
8
cung ứng tiền tệ, xây dựng các chính sách tiền tệ, kiểm soát, điều chỉnh lượng
cung tiền trong lưu thông, theo dõi đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiền
tệ, ….Vụ làm việc theo chế độ chuyên viên. Biên chế của Vụ do Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư quyết định riêng.

PHẦN II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ THỰC
TẬP

hiên từ đó xác định tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu và tính ra dự kiến các
chỉ tiêu cho năm kế hoạch. Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã đưa ra phương pháp tiếp
cận tính toán các chỉ tiêu kế hoạch NSNN mà cơ bản là các khoản thu, chi và
thâm hụt NSNN dựa trên giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Cách tiếp cận
vĩ mô để tính tổng thu NSNN của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã đưa ra mức thu
sát với thực tế hơn, điều đó chứng tỏ phương pháp đề ra là đúng đắn. Thông
qua việc sử dụng tiếp cận mới này, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ trong quá trình xây
dựng kế hoạch ngân sách hàng năm đã chứng minh khả năng thu hiện thực
thường cao hơn nhiều so với cách tính toán của Bộ Tài Chính và do đó đã được
lãnh đạo Bộ và Chính Phủ chấp nhận. Thu NSNN từ chổ không đủ chi thường
xuyên đến có tích luỹ và đáp ứng lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển trong đó
có chi xây dựng cơ bản. Mức thu NSNN những năm qua đã tăng dần qua các
năm. Bội chi NSNN cũng đã được tính toán căn cứ trên GDP.
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng đã đưa ra một số nguyên tắc khác và quán
triệt trong quá trình tính toán NSNN, trong đó có nguyên tắc đẩy mạnh thu nội
địa, tạo ra sự vững chắc trong thu ngân sách bằng cách tránh thất thu và nuôi
dưỡng nguồn thu. Về chi NSNN, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng đã đề xuất và
kiên định nguyên tắc “lường thu mà chi”, có thu mới chi, không có thu thì cắt
giảm chi. Đây là những nguyên tắc tưởng chừng như đơn giản nhưng lại vô
cùng quan trọng, nó đảm bảo cho sự chi tiêu đúng mức, tiết kiệm và bảo đảm
ổn định nền kinh tế, không để xảy ra tình trạng chi tiêu quá mức khả năng có
thể của nền kinh tế. Vụ cũng đưa ra nguyên tắc tốc độ tăng chi đầu tư phát
triển trong NSNN phải cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên, do vậy trong
những năm qua chi đầu tư phát triển trên tổng chi NSNN trong những năm qua
luôn đạt cao ở mức trên 28% tổng chi NSNN.
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã tích cực nghiên cứu triển khai cùng Bộ Tài
Chính Kế hoạch chi tiêu trung hạn NSNN( MTEF), áp dụng thí điểm cho một
số ngành với nội dung chủ yếu: phân bổ NSNN 3 năm; chi NSNN theo mô
hình trên xuống, dưới lên; gắn đặc biệt với các đối tượng ưu tiên. Công tác xây
dựng dự toán NSNN từng bước căn cứ vào mục tiêu, chương trình và kết quả

trong hoạch định và đề xuất chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng. Các chính
sách về tỷ giá, quản lý ngoại hối, chính sách lãi suất, sử dụng các công cụ tiền
tệ đã được Vụ nghiên cứu và đề xuất trong các giai đoạn phát triển kinh tế
như:
Các chính sách nhằm Hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính - tiền
tệ ở các nước Đông Nam Á vào nước ta.
Những năm 1997 – 1998, các nước Đông Nam Á lâm vào cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng, đe doạ sự phát triển và ổn định kinh tế nước
ta. Trước tình hình đó, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã được giao nhiệm vụ cố vấn
11
cho Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư đưa ra các giải pháp hạn chế tác động của cuộc
khủng hoảng khu vực vào nước ta. Các chính sách điều chỉnh tỷ giá theo biên
độ, hạn chế nhập khẩu để giảm nhu cầu về ngoại tệ, bắt buộc các đơn vị kinh tế
có thu ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng, hạn chế đưa ngoại tệ ra nước ngoài.
Vay và trả nợ nước ngoài được đẩy mạnh kiểm tra, giám sát…Các biện pháp
chính sách trên đã hạn chế tối đa tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng khu
vực, đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tiếp tục được duy
trì ở mức cao thời gian 10 năm qua.
Xây dựng chính sách kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bước sang năm 1998 – 2000, nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát
do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực. Do đó, Vụ
Tài Chính - Tiền Tệ đã cùng tham gia xây dựng giải pháp kích cầu nhằm hạn
chế thiểu phát để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao. Trong
các giải pháp đó có giải pháp bơm thêm vốn vào đầu tư nhằm kích cầu sản
xuất. Các chính sách kích cầu tiêu dùng đã được ban hành. Việc mua trả góp,
mua trả chậm hàng tiêu dùng hay vay vốn để xây dựng nhà cửa hoặc mua hàng
đã được triển khai rộng.
Tham gia xây dựng hệ thống giải pháp và chính sách chống lạm phát
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã đưa ra các biện pháp kiểm soát chi tiêu
NSNN, tiết kiệm chi trong chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả trong chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status