Tài liệu Tu duy - Pdf 81

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY
QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
Vấn đề tư duy, đặc biệt là năng lực tư duy liên quan đến tư tưởng và nguồn
lực trí tuệ con người, không chỉ được nghiên cứu ở phương diện triết học mà còn
được nghiên cứu nhiều phương diện khác: khoa học quản lý, giáo dục đào tạo, dạy
và học một môn học cụ thể,…Tư duy và trí tuệ, đặc biệt tư duy và trí tuệ con người
trong công tác giáo dục và đào tạo, có tác dụng vô cùng lớn lao trong hoạt động
thực tiễn quản lý giáo dục, trong quá trình dạy học,…và thông qua đó ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục và đào tạo. Nếu trong quá trình đào tạo, bằng mọi cách
phát triển tư duy và năng lực tư duy của quản lý giáo dục, của người dạy và người
học thì sẽ tạo tiềm lực, nguồn lực to lớn cho nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo, là nguồn lực cho dân tộc phát triển trong thời đại toàn cầu hóa.
I. QUÁ TRÌNH TƯ DUY
I.1. Khái niệm tư duy
1.1.1. Một số hướng tiếp cận tư duy trong tâm lý học
Tư duy là một năng lực phức tạp và kỳ diệu của con người. Đã có nhiều cách
tiếp cận để nghiên cứu, khám phá cả chiều sâu ý thức và trình độ, phương pháp tư
duy, nhưng đến nay, vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu.
(1) Chẳng hạn, hướng tiếp cận liên tưởng vấn đề tư duy, trí tuệ mà đại biểu là các
nhà triết học, tâm lý học người Anh: Đ. Ghatli (1705 – 1836), D. S. Milơ (1806 -1873), H.
Spenxơ (1820 -1903). Về sau, thuyết liên tưởng dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện do
P.I. Pavlov phát hiện, làm cơ sở sinh lý thần kinh của các mối liên tưởng tâm lý. Các nhà
liên tưởng cho rằng tư duy là quá trình thay đổi tự do tập hợp các hình ảnh, là liên tưởng
các biểu tượng. Tư duy luôn là tư duy hình ảnh. Họ quan tâm chủ yếu tới vấn đề tái tạo
các mối liên tưởng tư duy, là tư duy tái tạo. Theo họ, có 4 loại liên tưởng: liên tưởng giống
nhau, liên tưởng tương phản, liên tưởng gần nhau về không gian và thời gian, liên tưởng
nhân quả. Liên tưởng nhân quả có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tư duy. Sự
phát triển trí tuệ là quá trình tích lũy các mối liên tưởng. Thuyết liên tưởng chưa thoát khỏi
tư duy siêu hình, mới chỉ nêu ra nguyên tắc giải thích máy móc về trí tuệ mà chưa đề cập
đến bản chất, cấu trúc, vai trò của tư duy trong hoạt động của con người.
(2) Hướng tiếp cận hành động tinh thần, là đặc trưng của trường phái tâm lý

được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống. J.Watson coi hành vi trí tuệ
đồng nhất với ngôn ngữ bên trong. Từ đó, ông chia tư duy thành ba dạng: thứ nhất, là
các thói quen, kỹ xảo, ngôn ngữ đơn giản; thứ hai, giải quyết các nhiệm vụ tuy không
2
mới, nhưng ít gặp và phải có hành vi ngôn ngữ kèm theo; thứ ba, giải quyết nhiệm vụ
mới, buộc cơ thể lâm vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ
trước khi thực hiện một hành động cụ thể. Như vậy, các nhà hành vi coi tư duy giống
như kỹ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập chúng. Vấn đề học
tập và kỹ xảo đạt được là trung tâm của tâm lý học hành vi. Về sau, khoảng những
năm giũa thế kỷ XX, hướng tiếp cận hành vi phát triển nảy sinh các học thuyết mới
và phân hóa thành 3 nhánh: Tâm lý học hành vi bảo thủ; Tâm lý học hành vi mới;
Tâm lý học hành vi chủ quan.
Nhiều luận điểm của các nhà nghiên cứu tư duy theo hướng tiếp cận hành vi
không còn phù hợp với tâm lý học hiện đại. Nhưng, công lao to lơn của họ là đưa tính
khách quan, chặt chẽ khoa học vào nghiên cứu trí tuệ con người, vốn dĩ là rất phức
tạp. Muốn nghiên cứu khách quan tư duy con người thì phải nghiên cứu hành vi của
nó. Muốn huấn luyện chức năng tâm lý nào đó phải đưa chủ thể vào trong các điều
kiện xác định, tức là phải tường minh hóa nội dung dạy học theo một quy trình chặt
chẽ để qua đó có thể quan sát và kiểm soát được quá trình hình thành các hành vi tâm
lý người học. Tuy nhiên, cực đoan hóa môi trường kích thích, coi nhẹ vai trò chủ thể
của người học sẽ dẫn đến sự “đinh mệnh xã hội” trong dạy học và phát triển.
(4) Tiếp cận sinh học: Nói chung, cách tiếp cận hành vi cũng bắt nguồn từ
hướng tiếp cận sinh học, tức là chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa hành vi cá thể, thu
được do tập nhiễm và sự phức tạp hóa các hành vi bản năng của các cá thể. Tuy vậy,
tâm lý học hành vi mới chủ yếu khai thác mối quan hệ tương tác giữa hành vi với các
kích thích môi trường. Ngoài ra, nhiều công trình cũng tiếp cận tâm lý từ góc độ sinh
học, có các công trình nghiên cứu theo các hướng chính như: Nghiên cứu cơ sở sinh
lý-thần kinh của trí tuệ; Nghiên cứu vai trò và sự phát triển của các hành vi bản năng
và tự tạo trong hoạt động tâm lý của người và vật; nghiên cứu vai trò của yếu tố di
truyền trí tuệ giữa các thế hệ.

phát triển trí tuệ được hiểu là sự phát triển của hệ thống thao tác. Thao tác – đó là hành
động bên trong, nó được nảy sinh từ các hành động có đối tượng bên ngoài. Tuy nhiên,
khác với hành động, thao tác là hành động có tính rút gọn và đối tượng của nó không
phải là những sự vật có thực, mà là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu. Thao tác có tính
chất thuận nghịch (reversible); bảo tồn (conservation); tính liên kết (associative). Các
thao tác được cấu trúc thành hệ thống nhất định (cấu trúc thao tác). Thao tác trí tuệ
không có sẵn trong đầu đứa trẻ, cũng không nằm trong đối tượng khách quan, mà nằm
ngay trong sự tác động qua lại giữa chủ thể với đối tượng, thông qua hành động. Có
nghĩa là đứa trẻ tự xây dựng cấu trúc trí tuệ cho mình. Thời kỳ đầu, trẻ em tiến hành thao
tác với vật liệu là các dạng vật chất cụ thể, các hành động thực tiễn – mức thao tác cụ
thể. Sau đó, các vật liệu cụ thể được thay bằng các ký hiệu, khái niệm, mệnh đề,… trí tuệ
được phát triển tới mức thao tác hình thức - mức trưởng thành.
4
Theo J. Piaget, trí tuệ cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự
chặt chẽ, hằng định. Đây không phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá
nhân phát triển bình thường đều phải tuân theo trật tự đó. Đồng thời quá trình phát triển
này theo hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí, từng tí một (theo cơ chế đồng hóa)
và phát triển nhảy vọt chuyển giai đoạn theo nguyên lý thống hợp. Chính nhảy vọt cho
ta khái niệm giai đoạn. Mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được
coi là một giai đoạn phát triển. Một giai đoạn trí tuệ có những đặc trưng sau: thứ nhất,
các thành tựu trí khôn giai đoạn này là sự kế tiếp giai đoạn trước; thứ hai, là sự thống
hợp các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước; thứ ba, mỗi giai đoạn là một cấu trúc tổng
thể các sơ đồ chứ không phải là sự xếp chồng các sơ đồ lên nhau; thứ tư, mỗi giai đoạn
đều gồm cấu trúc đã có, đang có và các yếu tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau.
Lý thuyết phát sinh trí tuệ là một trong những học thuyết có ảnh hưởng và có uy tín
nhất trong tâm lý học thế kỷ XX. Các khía cạnh cần quan tâm nhất của học thuyết này là
cách tiếp cận phát sinh, phát triển khi giải quyết vấn đề cơ bản của tâm lý học; các phương
pháp nghiên cứu khách quan, đặc biệt là phương pháp lâm sàng; quan điểm nhấn mạnh
hoạt động trí tuệ không đơn thuần là hoạt động nhận thức, là sự tái lập lại đặc điểm của các
vật thể bên ngoài, mà chủ yếu là thay đổi chính chủ thể nhận thức. Sự thay đổi đó quy định

phát sinh, hình thành và phát triển. Ở mức độ nhất định, cách tiếp cận hoạt động gần
giống tiếp cận phát sinh trí tuệ của J.Piaget. Cả hai cách tiếp cận đều quan tâm và đề
cao thao tác, hành động trí tuệ của cá nhân, đều tìm hiểu và xác lập quá trình phát
sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em. Điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tiếp cận này
là ở chỗ, tiếp cận phát sinh chủ yếu dựa theo các nguyên tắc sinh học và lôgic học để
xác lập quy luật phát sinh về mặt lôgic - tâm lí của trí tuệ. Vì vậy, mặt cảm xúc và nội
dung xã hội của nó bị bỏ qua. Mối quan hệ giữa chủ thể với môi trường xã hội được
quy về quan hệ vật lý. Trong khi đó mặt văn hóa - xã hội của các quan hệ này mới
thực sự ảnh hưởng tới chiều hướng và phương thức phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ
em trong các nền văn hóa khác nhau và chúng là nội dung chính của học thuyết lịch
sử - văn hóa về sự phát triển tâm lí người do L.X.Vưgotxki sáng lập.
Theo cách tiếp cận hoạt động, việc nghiên cứu tâm lí, trí tuệ phải dựa trên các
nguyên tắc phương pháp luận triết học duy vật lịch sử và biện chứng: nguyên tắc
gián tiếp và nguyên tắc lịch sử - phát sinh. Từ các nguyên tắc phương pháp luận này,
các nhà tâm lí học hoạt động đã sử dụng nhiều phương pháp khách quan để phân tích,
mô tả, hình thành trí tuệ cho trẻ em. Kết quả là hàng loạt vấn đề nan giải trong tâm lí
học về trí tuệ đã được giải quyết, đặc biệt là việc chủ động tổ chức, định hướng, điều
khiển, điều chỉnh trẻ em hoạt động để qua đó hình thành và phát triển trí tuệ của
mình. Có thể nêu vấn tắt một số thành tựu mà lí thuyết hoạt động đã đạt được.
+ Về trí tuệ và cấu trúc của trí tuệ: Theo quan điểm của L.X.Vưgotxki, cần
tách ra hai mức trí tuệ: trí tuệ bậc thấp và trí tuệ bậc cao. Trí tuệ bậc thấp có phần
6
giống với trí tuệ động vật mà ta vẫn thấy trong các thực nghiệm của V.Kolơ,
U.Stecnơ trên khỉ và trí tuệ bậc cao chỉ có ở con người. Trí tuệ bậc thấp được đặc
trưng bởi mối quan hệ trực tiếp kích thích - phản ứng (như đã thấy trong các sơ đồ
S – R của hướng tiếp cận hành vi); còn trí tuệ bậc cao được đặc trưng bởi sự tham
gia của ngôn ngữ và các mối quan hệ gián tiếp giữa chủ thể với đối tượng thông
quan công cụ tâm lí (kí hiệu tâm lý).
+ Nguồn gốc khách quan của trí tuệ người không nằm trong cơ chế sinh học mà
ở trong thực tiễn đời sống văn hóa – xã hội. Trí tuệ người có nội dung xã hội – lịch sử.

nhất. Dạy học phải là một quá trình tương tác giữa trẻ em và học phải là một quá
trình tương tác giữa trẻ em và học phải là một quá trình tương tác giữa trẻ em và
người lớn, người dạy và người học là hai chủ thể của một hoạt động chung.
+ Dạy học, theo đúng chức năng của nó là dạy học phát triển. Muốn vậy, nó
không được đi sau sự phát triển, phụ họa cho sự phát triển. Dạy học phải đi trước sự
phát triển, kéo theo sự phát triển. Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển
hiện thời mà phải tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ của học sinh.
1.1.2. Khái niệm tư duy
Ý thức của con người bắt nguồn từ thuộc tính phổ biến của vật chất là thuộc
tính phản ánh, mà bộ óc người là một dạng vật chất tiến hóa cao nhất trong giới tự
nhiên, với hệ thống thần kinh phức tạp, tinh vi, nhạy cảm, có năng lực phản ánh
sáng tạo rất cao. Chính nhờ năng lực ấy mà nảy sinh ra ý thức bộ não của con
người. Theo Mác, ý thức là cái vật chất được di chuyển vào óc người và được cải
biến trong đó. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm
của quá trình nhận thức hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Nhận thức là hoạt động phản ánh, là sự xâm nhập vào sự vật để “hiểu sự
vật”, “nắm bắt” những quan hệ, những quy luật, những khuynh hướng của nó.
Trong Tâm lý học, một trong những nghiên cứu tương đối đấy đủ nhất về tư duy đã
được trình bày trong các công trình của X. L. Rubinstein. Theo Rubistein: “Tư duy – đó là
sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn
so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” (dẫn theo Đavưđov V. V.
(2000), Các dạng khái quát hóa trong dạy học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội).
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Nguyễn
Quang Uẩn (1992), (trong Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội) đã định nghĩa: “Tư
duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan
hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan”.
“Tư duy là một quá trình tâm lý liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ- quá trình
tìm tòi sáng tạo cái chính yếu, quá trình phản ánh một cách từng phần hay khái
8
quát thực tế trong khi phân tích và tổng hợp nó. Tư duy sinh ra trên cơ sở hoạt

duy được xem xét như là một quá trình, nghĩa là tư duy có nảy sinh, diễn biến và kết
thúc. Suy cho đến cùng, những quy luật của tư duy là sự phản ánh quy luật của thế
9
giới vật chất. Những hình ảnh của sự vật, từ mức độ trực tiếp, nguyên vẹn trên cơ sở
các liên tưởng, được tư duy cải biến, sửa chữa, loại bỏ những mặt phụ, ngẫu nhiên,
tìm ra những mặt chính, tất yếu và những quan hệ bền vững giữa chúng, từ đó hình
thành nên những khái niệm tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu đó của
chúng, rồi cải tạo, kết hợp để xây dựng nên hình ảnh mới về sự vật. Nhưng, đó
không phải là sự phản ánh bị động mà là sự phản ánh chủ động và sáng tạo của tư
duy. Như vậy, quá trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. K. K.
Plantonov đưa ra sơ đồ minh họa:
1.2.2. Quá trình tư duy là hoạt động trí tuệ, được diễn ra bằng cách chủ thể
tiến hành những “thao tác” trí tuệ nhất định: phân tích tổng hợp, so sánh, trừu tượng
hóa, khái quát hóa. Trong hoạt động thực tiễn, để biến đổi được hiện thực, con người
phải tìm hiểu và nhận thức nó. Chính trên cơ sở hoạt động thực tiễn đó mà làm cho
nhận thức, tư duy mang tính sáng tạo. Quá trình nhận thức là quá trình thu nhận
những hình ảnh, từ cảm giác, chuyển dần lên tri giác, biểu tượng, rồi xây dựng nên
10
Nhận thức vấn đề
Xuất hiện các liên tưởng
Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Kiểm tra giả thuyết
Chính xác hóa Khẳng định Phủ định
Giải quyết vấn đề
Hoạt động tư duy mới
những khái niệm, những hình tượng để biểu đạt bản chất của sự vật. Những khái
niệm, phạm trù là hình thức cơ bản của tư duy, mà nhờ đó tư duy không ngừng đi sâu
vào bản chất của thế giới vật chất. Hoạt động của tư duy còn là hoạt động sử dụng,
vận dụng những khái niệm, phạm trù đã có để sáng tạo ra những khái niệm, phạm trù
mới, để phản ánh các quan hệ tất yếu, các quy luật của thế giới khách quan. Hoạt

Tư duy của con người không phải là bất biến, mà nó cũng có quá trình biến
đổi và phát triển ngày càng cao. Trong nền văn minh hái lượm, nền văn minh nông
nghiệp, tư duy của con người còn đơn giản, thô sơ, còn mang nhiều tính chất phác.
Ở đó, tư duy ở cấp độ kinh nghiệm là chính, đặc biệt ở những người hoạt động thực
tiễn trực tiếp. Tư duy ở trình độ kinh nghiệm và tiền khoa học dễ dẫn tới phương
pháp tư duy phiến diện, chủ quan, rập khuôn máy móc. Nếu có yếu tố biện chứng
thì vẫn còn mang tính tự phát. Ở thời kỳ văn minh nông nghiệp, trong giới trí thức
đã xuất hiện tư duy lý luận, nhưng bên cạnh những yếu tố hợp lý, thì cũng mắc phải
bệnh không tưởng giáo điều, tư biện.
Thời đại công nghiệp đã mở ra một khả năng mới cho tư duy đi sâu vào bản chất
sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, trong thế kỷ XVII - XVIII, tư duy siêu hình vẫn thống trị
trong triết học và khoa học, mà về sau này mới được khắc phục bởi tư duy biện chứng.
Tư duy biện chứng duy vật là đỉnh cao của tư duy và trí tuệ đang phát triển
của xã hội loài người. Tư duy đó đang được bổ sung, phát triển trong điều kiện
bước vào nền văn minh trí tuệ. Nền văn minh này cũng đang đòi hỏi và tạo ra
những nội dung, những phương pháp tư duy mới. Tư duy của con người có tính độc
lập tương đối, có sức mạnh riêng của nó. Sức mạnh đó được thể hiện tập trung ở
năng lực tư duy.
1.2.3. Về sự phân loại tư duy: Tư duy và năng lực tư duy là thế giới tinh thần phong
phú. Tư duy của con người trong hoạt động thực tiễn - xã hội, tùy theo từng lĩnh vực, từng
phương diện, từ cấp độ,…, của đời sống mà có những loại hình, những mức độ, cấp độ
khác nhau. Chẳng hạn, về loại hình, có tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa,…
về hình thức thể hiện, có tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận; về phương pháp, có tư duy
biện chứng, tư duy siêu hình,… Điều này chứng tỏ rằng tư duy - đặc tính căn bản của óc
người là sản phẩm thực sự của hoạt động thực tiễn xã hội, phản ánh các góc độ, tính chất,
phương thức, trình độ của các sự vật và hiện tượng, các quan hệ trong đời sống muôn vẻ,
nhiều cấp độ của con người. Một số nhà Tâm lý học cho rằng có ba cấp độ tư duy:
(1) Tư duy trực quan, hành động: là cấp độ tư duy bằng các thao tác cụ thể
tay chân hướng vào việc giải quyết một số tình huống cụ thể trực quan.
12

trong điều kiện nhất định”.“Cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc
13
gì”. Trong Triết học, khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển khách quan nằm trong
những hiện tượng đang tồn tại, sự tồn tại những điều kiện xuất hiện khách thể, hoặc ít ra sự
không tồn tại những tình huống có thể loại trừ điều kiện xuất hiện khách thể.
Từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên
sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý
tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
2. Thuật ngữ “khả năng” thông thường có hai nghĩa. Thứ nhất, nó có nghĩa là khả
năng làm một việc nào đó: chúng ta nói rằng “anh ấy có khả năng dạy Toán” tức là anh
ấy đáp ứng yêu cầu việc dạy học môn Toán, nói anh ấy “không có khả năng dạy học”
nghĩa là anh ấy không đáp ứng được yêu cầu dạy học. Nghĩa thứ hai, theo Từ điển tiếng
Anh Oxford “có các phẩm chất cần thiết theo luật để thực hiện những công việc nhất
định” hoặc “khả năng là việc có thể đáp ứng yêu cầu công việc theo một tiêu chuẩn nhất
định và có thể áp dụng linh hoạt kỹ năng và kiến thức trong những tình huống mới”
3. Từ điển Triết học [tr. 379]: Năng lực hiểu theo nghĩa rộng là những đặc
tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống
của cá thể. Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm được hoàn thiện trong
một quá trình phát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể.
Năng lực hiểu theo nghĩa đặc biệt là toàn bộ những đặc tính tâm lý của người
thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định. Sự hình thành năng
lực đòi hỏi cá thể phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra
trong quá trình phát triển lịch sử xã hội. Năng lực của con người không những do
hoạt động bộ não quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài
người đã đạt được. Theo ý nghĩa đó thì năng lực của người gắn liền không thể tách
rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục ứng với tổ chức đó.
4. Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ
nhất định nào đó. Cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản: Tri thức về lĩnh vực
hoạt động hay quan hệ đó; Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan
hệ nào đó; Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một

này được Các nhà tâm lý học lớn như P. Janet, J. Piaget, L.X. Vưgôtxki ...đều
khẳng định vai trò của cảm xúc đối với hoạt động trí tuệ, hoạt động nhận thức của
cá nhân. “Mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc. Nó thâm nhập
ngay từ các hoạt động tri giác, đến việc lựa chọn các thao tác và ra quyết định trí
tuệ. Mức độ ảnh hưởng này rất lớn và trải ra trên một phổ rộng, từ những cảm xúc
đơn giản, đến tình cảm phức hợp và cuối cùng là sự tham gia của những linh cảm
trực giác”. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu và được kiểm nghiệm trong thực
tiễn, kết quả hoạt động sống của mỗi cá nhân không hoàn toàn tỷ lệ thuận với năng
15
lực trí tuệ đã có của cá nhân đó. Trong đa số trường hợp, thành công của mỗi cá
nhân phụ thuộc nhiều vào các yếu tố phi trí tuệ logic, đặc biệt phụ thuộc vào mức
độ thấu hiểu và kiểm soát được cảm xúc của mình cũng như của người khác. Vì
vậy, những năm gần đây, nhiều nhà tâm lý học đã tập trung nghiên cứu khả năng
thâm nhập của yếu tố trí tuệ vào trong các lĩnh vực cảm xúc – tình cảm của mỗi cá
nhân; khả năng nhận thức, kiểm soát và điều khiển chúng trong hoạt động và giao
tiếp. Từ đó, hình thành một khái niệm mới “trí tuệ cảm xúc”. Hai nhà tâm lý học
Hoa Kỳ Peter Salovey và Jonh Mayer đưa ra thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” vào năm
1990. Các ông đã đưa ra quan điểm của mình là “trí tuệ cảm xúc được hiểu là khả
năng hiểu rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt
được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân”.
Định nghĩa nêu trên đã có sự thay đổi và phát triển.
Daniel Golman (nhà Tâm lý học Hoa Kỳ, 1995) cho rằng: Trí tuệ cảm xúc là
khả năng giám sát các cảm giác và cảm xúc của bản thân và của người khác, khả
năng phân biệt chúng và khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ
và hành động của mình.
Nhà tâm lý học H. Steve (1996) lại cho rằng, trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp
giữa sự nhạy cảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc
có được do tự học hỏi, nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc sống.
Vẫn Peter Salovey (1997) đã định nghĩa lại như sau: Trí tuệ cảm xúc bao
gồm khả năng tiếp nhận đúng, đánh giá và thể hiện cảm xúc, khả năng đánh giá và

không tách rời phương pháp tư duy. Phương pháp tư duy được đổi mới, nâng cao để làm
công cụ rèn luyện và phát triển năng lực tư duy. Tất nhiên, không có một phương thức
tồn tại nào của tư duy lại tách rời nội dung biện chứng của nó.
Năng lực tư duy không chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là năng lực
tư duy biện chứng. Do đó, để phát triển năng lực tư duy, phải bồi dưỡng và phát triển
tính biện chứng của tư duy (khả năng nhận ra và thống nhất các mặt đối lập, mối liên
hệ và sự chuyển hóa giữa các khái niệm, phạm trù; năng lực trừu tượng hóa, khái quát
hóa, suy luận, theo quy luật biện chứng của tồn tại). Nâng cao năng lực tư duy không
phải là mục đích tự thân mà là để giải quyết thành công những vấn đề thực tiễn.
Thực tiễn đa dạng, phức tạp, biến đổi nhanh và thông tin, chất xám, khoa học
ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc thử thách, đọ sức, cạnh tranh trí tuệ. Thế
kỷ XXI, kỷ nguyên của khoa học công nghệ, kỷ nguyên trí tuệ, năng lực tư duy đã trở
thành một nguồn lực cơ bản nhất của mỗi con người. Vì vậy việc nâng cao năng lực
tư duy sáng tạo là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển con người ở nước ta.
1.5. Những điều kiện ảnh hưởng đến năng lực tư duy
17
Cơ sở của năng lực tư duy bao hàm cả mặt tự nhiên - sinh học và mặt xã hội -
tinh thần. Do đó, năng lực tư duy mạnh về loại hình nào, cao hay thấp, được phát
triển như thế nào, phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện, yếu tố phức tạp của từng người
và môi trường đời sống xã hội mà họ hoạt động trong đó. Cụ thể là:
Thứ nhất, năng lực tư duy phụ thuộc vào đặc tính bẩm sinh do cấu tạo của hệ
thần kinh trung ương, tâm sinh lý ở từng người. Đây là cơ sở sinh học của năng lực
tư duy không thể coi nhẹ. Khoa sinh vật học, di truyền học ngày nay đã xác định sự
thông minh của con người có cơ sở từ huyết thống, từ đặc điểm của hệ thần kinh, từ
đặc điểm của nhóm máu, từ gen di truyền. Ăngghen cũng coi năng lực tư duy lý
luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi. Tuy
nó chỉ ở dạng khả năng, tức là như một khả năng vốn có bắt nguồn từ năng lực phản
ánh của óc người, nhưng không có khả năng thì không có hiện thực.
Thứ hai, năng lực tư duy phụ thuộc vào phương thức sản xuất, môi trường
văn hóa, xã hội với tư cách là những yếu tố tạo nhu cầu cho sự phát triển tư duy, và

1.6. Những đặc trưng và yếu tố cơ bản của năng lực tư duy
Trong quá trình đổi mới, trong đó có đổi mới tư duy, nhiều nhà nghiên cứu
đã đề cập nhiều tới tư duy với các góc độ khác nhau, nhất là nội dung và phương
pháp tư duy. Có nhà nghiên cứu lưu ý đến năng lực tư duy, năng lực suy nghĩ, cho
đây là vấn đế rất quan trọng khi nói đến đổi mới tư duy. Có nhà nghiên cứu cho
rằng: “năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ, đáp ứng yêu cầu nhận
thức thế giới và bản thân con người, đảm bảo cho hành động sáng tạo của mình”.
Nhưng, năng lực tư duy cần phải được nhìn nhận, nghiên cứu một cách cụ
thể để làm rõ hơn phẩm chất và sức mạnh trí tuệ của con người, tức là làm rõ năng
lực lý tính. Năng lực tư duy là khả năng phản ánh, sản xuất tri thức, biến tri thức
thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản
chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và hiện tượng, vận dụng đúng đắn các
quy luật trong cuộc sống.
1.6.1. Những yếu tố cơ bản của năng lực tư duy
Một là, yếu tố thấp của năng lực tư duy là năng lực ghi nhớ, tái hiện, vận dụng
những tri thức đã tiếp thu, không có năng lực này thì không có cơ sở cho sự suy nghĩ và tư
duy. Nói về trí nhớ, có hai cấp độ: trí nhớ cảm tính và trí nhớ lý tính, đều thể hiện tính bền
vững của sự phản ánh. Trí nhớ, nhất là trí nhớ ở trình độ tư duy đã được khoa học thừa
nhận là một trong những năng lực thể hiện trí thông minh, phẩm chất rất quan trọng của
nhân tài (trí nhớ, ý chí, sự thông minh).
Hai là, trừu tượng hoá, khái quát hoá trên tiềm lực phân tích và tổng hợp. Nói
cách khác, đó là năng lực phân tích và tổng hợp ở trình độ lý tính, tức là có khả năng tách
bản chất khỏi hiện tượng, cái chung khỏi cái riêng, và liên kết lại với nhau trong chỉnh thể,
19
từ đó đi đến kết luận và những biểu trưng. Trừu tượng hóa được coi như là năng lực tinh
thần cơ bản nhất của tư duy con người. Trong nhận thức các hiện tượng xã hội, Các Mác
đặc biệt coi trọng sức trừu tượng hóa của tư duy.
Ba là, liên tưởng, tưởng tượng, suy luận là một loại năng lực bậc cao của tư
duy, năng lực này gắn liền với cảm xúc, tạo ra sức sáng tạo. Sức tưởng tượng phong
phú, có tiềm lực là một phẩm chất quan trọng của trí thông minh và năng lực tư duy.

tư duy nào cũng thể hiện ra ở một trình độ tư duy nhất định. Trình độ tư duy là mức độ
đạt được về nội dung và phưong pháp tư duy, còn năng lực tư duy là một sức mạnh
tinh thần, phẩm chất trí tuệ trong nhận thức, thể hiện tập trung ở phưong pháp tư duy.
1.7. Vai trò của trực giác
Từ trước tới nay, việc tìm kiếm và đi đến những nhìn nhận khác nhau về
những nhân tố định hướng, thúc đẩy hoạt động của con người, nhìn chung các nhà
khoa học đều khẳng định đó là các yếu tố bản năng, nhu cầu, lợi ích, động cơ, tình
cảm, ý chí, ước mơ, lý tưởng,... Những người khẳng định các yếu tố vật chất (sinh
học - kinh tế,..) quyết định là những người duy vật, còn những người khẳng định
yếu tố tinh thần, ý thức là quyết định thì đó là những người theo chủ nghĩ duy tâm.
Còn những người coi vật chất và tinh thần, ý thức có vai trò độc lập, vai trò như
nhau thì đó là những người theo nhị nguyên luận.
Trên thực tế, vấn đề không đơn giản như thế, mà là rất phức tạp. Nhiều người
đặt vấn đề là vô thức ở con người và các yếu tố ý thức (hữu thức) có tác động như
thế nào trong hoạt động nhận thức của con người. Có người cho rằng, yếu tố ý thức,
lý trí đóng vai trò quyết định chính hoạt động tư duy con người. Cũng có người lại
cho rằng các động lực vô thức đóng vai trò chủ yếu. Vô thức có hai cách quan niệm:
vô thức bản năng; vô thức trí tuệ tinh thần.
Những nhân tố bản năng mang tính vật chất, hoặc tinh thần mà ý thức, lý trí
không biết được, không điều khiển kiểm soát thì gọi là các nhân tố vô thức. Vô thức
được hiểu như một hệ thống nhiều mức độ, nhiều loại hình khác nhau, nằm ngoài sự
kiểm soát của ý thức. Có nhiều cách phân chia vô thức bản năng mang tính sinh vật
như phản xạ nhu cầu ăn uống, tính dục..., hoặc các hoạt động sinh-lý-hóa duy trì
hoạt động sự sống của cơ thể liên quan đến sóng điện từ, trường sinh học...; vô thức
tinh thần cũng là những kinh nghiệm sống, những tri thức trong quá trình nhận thức
ở cấp độ ý thức dần dần tích lũy “nhập kho” tạo thành các hiện tượng vô thức (gồm
cả tiềm thức), đây là điều quan trọng trên bình diện vô thức tinh thần. Từ đó mà có
trực giác bản năng và trực giác tinh thần lý tính. Do đó, không thể chỉ quy vô thức
chỉ là bản năng.
21

nhân cách và hành vi con người, nhưng điều mà ta quan tâm là vô thức tinh thần.
Vô thức tinh thần tạo ra trực giác lý tính, và trực giác lý tính có khả năng nhận thức
trực tiếp, toàn bộ, tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ với những sự bừng sáng, sáng tạo...
22
mà không cần suy luận logic. Trong não bộ thì đây là vai trò của não phải, với khả
năng vô thức, trực giác tinh thần này đã tạo ra khả năng nhận thức và hoạt động
sáng tạo của con người. Còn não trái là nhận thức có ý thức, đóng vai trò tư duy
logic, kiểm tra, phối hợp với não phải của tư duy vô thức. Trong hoạt động nghệ
thuật, khoa học, thực tiễn, quản lý, dạy học đều thấy rõ vai trò to lớn của vô thức,
tâm linh và trực giác. Nhưng ở đây có sự chuyển hóa giữa hai khả năng trên của hai
não bộ. Trong tâm thức của mỗi người có hai cơ chế hoạt động rất khác nhau, đó là
cơ chế vô tiềm thức và cơ chế hữu thức. Cơ chế hữu thức là cơ chế nhận thức theo
kiểu logic hình thức và biện chứng, còn cơ chế vô tiềm thức là cơ chế có đặc điểm
nhận thức tự động- đồng thời từ phía toàn bộ phi thời gian, phi không gian, phi
ngôn ngữ và có khả năng nhạy cảm cao, thậm chí bắt được các tần số rất thấp, các
sóng điện trong vũ trụ vô hình. Hiện tượng này gần giống các băng thu phát vô
tuyến ở dạng vật lý thông thường. Thông tin ý thức nảy sinh và truyền đi cả bằng cơ
chế ngôn ngữ và cơ chế phi ngôn ngữ nhưng không phải phi vật chất.
Trong quá trình dạy học, cũng cần nghiên cứu, hiểu phần nào cơ chế của vô
thức tiềm thức. Vô thức, tiềm thức và hữu thức, ở mỗi mặt, mỗi cấp độ, mỗi hình thức
đều có vai trò riêng, không thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Tiếp cận ý thức tinh thần
từ hữu thức đến tiềm thức và vô thức là cách tiếp cận theo chiều sâu. Không nên chỉ
dừng lại ở ý thức, và cũng không được bất khả tri, thần bí hóa vô thức. Trên thế giới
cũng đã có một số hội nghị khoa học quốc tế về vô thức, ở Viêt Nam ta cũng có một số
học giả bắt đầu nghiên cứu vấn đề vô thức, tâm linh này. Nhưng sự quan tâm chỉ mới
cấp độ trường sinh học. Việc nghiên cứu các bức xạ điện từ, trường sinh học, các dạng
sóng, các cơ thể vô hình chủ yếu nhằm cắt nghĩa các cảm ứng nhờ các hiện tượng vật
lý – sự sống để hiểu các hình thức thần giao cách cảm, thấu thị, tiên tri, hậu tri.
Trong con người, cần chú ý cả hai mặt: cái vô thức và cái hữu thức. Hai nhân
tố này tạo thành một mâu thuẫn biện chứng trong đời sống tâm thức và tư duy của

và b, những đại lượng không đổi và những đại lượng biến thiên. Trong quá trình phát
triển, toán học khảo sát những đối tượng mà quan hệ số lượng và hình dạng không gian
ngày càng trừu tượng. Trong các lý thuyết toán học hiện đại, các quan hệ về số và hình là
rất trừu tượng, người ta nói đến các tập hợp những phần tử mà các tính chất của chúng
và quy tắc thực hiện phép tính về chúng được cho bằng một hệ tiên đề.
Tính trừu tượng của đối tượng toán học chỉ “che đậy” nguồn gốc thực tế khách
quan (thường phức tạp, nhiều nấc thang, gián tiếp) của mọi khái niệm toán học, chứ
không xóa bỏ nguồn gốc đó. Lịch sử phát triển xã hội loài người chứng tỏ rằng nhu cầu
hoạt động thực tiễn của con người là điều quyết định chủ yếu sự phát triển của toán học.
24
Phạm vi của quan hệ số lượng và hình dạng không gian mà toán học nghiên
cứu không ngừng được mở rộng, trong mối liên hệ chặt chẽ với những nhu cầu của
kỹ thuật và khoa học tự nhiên làm cho nội dung định nghĩa tổng quát về toán học
ngày càng thêm phong phú. Tất nhiên, toán học không phải là sự bịa đặt trống rỗng
của các nhà thông thái. Ngược lại thì thực tiễn, đặc biệt là kỹ thuật, lại là một
phương tiện hỗ trợ không thể thay thế được trong việc nghiên cứu toán học và có
tác dụng làm thay đổi nhiều bộ mặt của toán học (chẳng hạn tác dụng của máy tính
điện tử đối với sự phát triển của toán học).
Bắt nguồn từ hiện thực, các quan hệ số lượng và hình học không gian được
trí óc con người trừu tượng hóa và nghiên cứu trong những mối liên hệ nhiều hình,
nhiều vẻ giữa chúng với nhau bằng con đường thuần túy logic. Khi lý tính sáng tạo
ra toán học bằng con đường logic thì không phải đã xa rời hiện thực, mà chính lại
càng gần hiện thực hơn và có tác dụng đối với hiện thực. Tính trừu tượng của toán
học càng cao thì phạm vi ứng dụng của toán học càng mở rộng. Về nguyên tắc,
không thể nêu ra giới hạn của sự mở rộng này.
Lịch sử loài người đã chứng tỏ, nhiều phát minh toán học đi trước khoa học và
kỹ thuật khá lâu, có khi đến hàng thế kỷ. Chẳng hạn, lý thuyết hàm biến số phức ra đời
từ cuối thế kỷ XVIII, nhưng đến cuối thế kỷ XIX mới được áp dụng vào thủy động học
và khí động học và từ đó đi vào công nghiệp hàng không hiện đại. Hình học Phiơcli ra
đời từ giữa thế kỷ XIX nhưng đến thế kỷ XX mới được áp dụng vào lí thuyết tương đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status