Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hạch toán chị phí sx và tính giá thành sp công ty xây dựng 34 - Pdf 81

Website: Email : Tel : 0918.775.368

Lời nói đầu:
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao
phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Hai khái niệm tơng ứng để đo lờng hai mặt
đó về giá trị là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Với ý nghĩa đó, chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói, tổ chức hạch toán quá trình sản xuất
bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau đó là hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, các doanh
nghiệp buộc phải cạnh tranh, hạch toán kinh doanh thì việc hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm càng cần thiết, tiết kiệm chi phí hạ giá thành là
tăng thu nhập vừa là vũ khí cạnh tranh cuả doanh nghiệp. Trong các chỉ tiêu về
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì giá thành chiếm một vị trí đặc
biệt. Gía thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế của doanh nghiệp, giá thành cao hay
thấp phản ánh mọi cố gắng cuả doanh nghiệp nh trình độ tổ chức, kỹ thuật và
trình độ tổ chức sản xuất... , tất cả mọi mặt hoạt động, các biện pháp chi tiêu,
biện pháp quản lý có đem lại hiệu quả hay không đều thể hiện qua chỉ tiêu giá
thành, về góc độ này giá thành thực hiện chức năng bù đắp chi phí, phản ánh mức
độ tích luỹ của doanh nghiệp. Mặt khác, giá thành còn có chức năng lập giá, lúc
này nó thể hiện là vũ khí cạnh tranh hiệu quả của doanh nghiệp. Nh vậy, giá
thành sản phẩm đợc đặt trong nhiều mối quan tâm của đối tợng sử dụng thông tin.
Do đó là tiết kiệm chi phí hạ giá thành đồng thời cung cấp thông tin chính xác về
chúng là yêu cầu đặt ra có tính cấp thiết.
Trên phơng diện quản lý, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm là một
công cụ đáp ứng yêu cầu trên một cách hiệu quả.
Trong doanh nghiệp xây dựng nói riêng, với vị trí là ngành sản xuất vật
chất duy nhất có nhiệm vụ tái sản xuất tài sản cố định cho xã hội, luôn chiếm mức
vốn đầu t cao, đặc điểm kinh tế-kĩ thuật phức tạp và vừa đợc đặt trong môi trờng

Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập và duy nhất có chức năng
tạo ra và trang bị tài sản cố định cho tất cả các ngành kinh tế, tạo tiền đề cho sự
phát triển kinh tế của đất nớc. Vì vậy, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã
hội, sản phẩm của ngành xây dựng không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một doanh
nghiệp mà còn có ý nghĩa với toàn bộ nền kinh tế. Sau những năm thực hiện
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế mới, cũng nh tất cả các ngành trong cả nớc,
ngành xây dựng cơ bản ngày một thích nghi và phát triển. Với mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành xây dựng cơ bản lại càng khẳng định đợc vị trí
của mình, đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, phần lớn thu nhập
quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với vốn đầu t tài trợ từ nớc ngoài đ-
ợc sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Hàng năm ngành xây dựng cơ bản
thu hút gần 30% tổng số vốn đầu t trong cả nớc. Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý
vốn có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát vốn, lãng phí trong thi công, tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
So với những ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc
điểm kinh tế- kĩ thuật đặc trng thể hiện rất rõ ở sản phẩm và quá trình sáng tạo ra
sản phẩm của ngành. Do vậy, công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây dựng
cơ bản phải có nét đặc trng riêng phù hợp để thực hiện tốt nhất chức năng của kế
toán là thông tin và phản ánh, đồng thời cũng phải phù hợp với những chuẩn mực
kế toán chung đợc thừa nhận.
Thông thờng, sản phẩm xây dựng ở doanh nghiệp đợc thực hiện thông qua
hình thức nhận thầu hoặc theo đơn đặt hàng, sản phẩm xây lắp đợc tiêu thụ theo
giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu t (giá đấu thầu), sản phẩm sản xuất
xong không phải đem đi tiêu thụ và khách hàng đã đợc xác định trớc khi thực hiện
quá trình sản xuất sản phẩm. Vì vậy, các chi phí lu thông trong các doanh nghệp
này là không có. Chi phí phát sinh chủ yếu trong quá trình cung ứng và quá trình
sản xuất. Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp sẽ không phải tiến hành các
hoạt động xúc tiến tiêu thụ nhng mặt khác lại phải có quan hệ chặt chẽ với khách
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368

mà việc quản lý về đầu t và xây dựng là một quá trình khó khăn và phức tạp. Để
quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu t, Nhà nớc đã ban
hành những quy chế quản lý phù hợp. Yêu cầu cơ bản của quản lý đầu t và xây
dựng là:
1. Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội trong từng
thời kỳ theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng công nghiệp háo-hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu t trong nớc
cũng nh của nớc ngoài đầu t tại Việt Nam, khai thác tốt tài nguyên và tiềm năng
ngời lao động, đất đai và mọi tiềm lực khác, đồng thời bảo vệ môi trờng sinh thái,
chống hành vi tham ô, lãng phí trong hoạt động đầu t và xây dựng.
3. Xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc và thiết kế kỹ thuật đợc duyệt, bảo
đảm bền vững, mỹ quan, thực hiện cạnh tranh trong xây dựngnhằm áp dụng công
nghệ xây dựng tiên tiến, bảo đảm chất lợng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp
lý và thực hiện bảo hành công trình.
(Trích điều lệ quản lý đầu t và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số
42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định 177/CP)
Trớc đây xây dựng cơ bản là một lỗ hỏng lớn làm thất thoát nguồn vốn đàu
tcủa Nhà nớc. Để hạn chế sự thất thoát này, Nhà nớc thực hiện quản lý giá xây
dựng thông qua các chế độ chính sách về giá, các nguyên tắc, phơng pháp lập dự
toán... để xác định tổng mức vốn đầu t, tổng dự toán công trình. Đặc biệt tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành là là mối quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ hết sức quan
trọng.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp đấu
thầu, giao nhận thầu xây dựng, trong đó phơng pháp đấu thầu đợc Nhà nớc
khuyến khích áp dụng. Vì vậy để trúng thầu, đợc nhận thi công một công trình thì
doanh nghiệp phải có một giá đấu thầu hợp lý dựa trên cơ sở các định mức, các

Xác định đúng đắn và bàn giao tính toán kịp thời khối lợng công tác xây
lắp hoàn thành, định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lợng thi công dở dang theo
nguyên tắc quy định.
Thông qua việc ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá đúng kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ
phận, tổ đội thi công và toàn doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời
lập các báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. Cung
cấp chính xác, đầy đủ thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ
cho quản lýcủa lãnh đạo doanh nghiệp, đồng thời kiểm tra dợc việc thực hiện kế
hoạch hạ giá thành và nhiệm vụ hạ giá thành, vạch ra đợc những nguyên nhân làm
cho hoàn thành hoặc cha hoàn thành kế hoạch, khai thác những khả năng tiềm
tàng và đề ra những phơng hớng phấn đấu để không ngừng hạ gía thành sản phẩm
thực tế.
Để thực hiện đợc các yêu cầu trên, nhiệm vụ đặt ra cho công tác hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là:
Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, chọn phơng pháp tập
hợp và phân bổ chi phí thích hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh.
Xác định đúng đối tợng tính giá thành và lựa chọn phơng pháp tính giá
thành thích hợp. Tổ chức tốt việc tính giá thành sản phẩm.
Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp, quy định trình tự công việc phân bổ chi phí cho từng đối tợng, từng chi
tiết sản phẩm.
II-bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng.
1/ Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. 1. Khái niệm:
Sự phát sinhvà phát triển của xã hội loài ngời gắn liền vơí quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự

mục đích gì. Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho
quá trình cung cấp(chi mua sắm vật t hàng hoá), chi tiêu cho quá trình sản xuất
kinh doanh (chi cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý...) và
chi cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo... )
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi
phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản
hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quă trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi
phí và chi tiêu không những khác nhau về lợmg mà còn khác nhau về thời gian.
Có những khoản chi tiêu kỳ nàynhng cha đợc tính vào chi phí(chi mua nguyên vật
liệu về nhập kho nhng cha sử dụng) và cũng có những khoản tính vào chi phí kỳ
này nhng thực tế cha chi tiêu(chi phí trích trớc). Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi phí
và chi tiêu trong các doanh nghiệp là do đặc điểm tính chất vận động và phơng
thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quả trình sản xuất và yêu cầu
hạch toán chúng.
Có thể kết kuận rằng: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện
quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Thực chất, chi phí là sự chuyển dịch vốn,
chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá(sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ... )
Chi phí phát sinh để phục vụ nhiều chức năng trong doanh nghiệp, bao gồm
chức năng sản xuất, chức năng tiêu thụ, chức năbg quản lý doanh nghiệp. Chi
phí sản xuất là chi phí thực hiện chức năe\ng sản xuất, nó đợc tập hợp từ các
khoản chi phí phát sinh trong quá trình chế biến sản phẩm, khoản chi phí này đợc
tính vào giá thành sản xuất sản phẩm.
Nh vậy, chi phí sản xuất trong ngành xây dựng cơ bản là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các khoản hao
phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất thi

Chi phí hoạt động bất thờng: Bao gồm những chi phí ngoài dự kiến, có thể
do chủ quan hay khách quan mang lại có liên quan đến hoạt động sản xuất, chế
tạo sản phẩm.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác, phục vụ
cho việc tính giá thành cũng nh phân tích các nhân tố có ảnh hởng đến chi phí, từ
đó có biện pháp giải quyết thích hợp. Ngoài ra, nó còn giúp xác định chi pghí và
kết quả của từng hoạt động kinh doanh đúng đắn cũng nh lập báo cáo tài chính kịp
thời.
b/Phân loại theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không kể đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh thì chi
phí đợc phân loại theo yếu tố. Về thực chất, chỉ có hai yếu tố chi phí là chi phí về
lao động vật hoá và chi phí về lao động sống. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin
về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định
mức vốn lu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán, các yếu tố chi phí trên
có thể đợc chi tiết hoá theo nội dung cụ thể của chúng. Tuỳ theo yêu cầu và trình
độ quản lý ở mỗi nớc, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác
nhau. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí đợc chia làm 7 yếu
tố sau:
Yếu tố nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ... sử dụng vào sản xuất (loại trừ giá trị
nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi ).
Yếu tố nhiên liệu, động lực đợc sử dụng vào quá trình sản xuất sản phẩm
trong kỳ (trừ số sử dụng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi ).
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Phản ánh tổng số tiền lơng và
phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho công nhân, nhân viên quản lý tổ đội thi
công.
Yếu tố khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tìa sản cố

nghiệp xây dựng so với các ngành sản xuất khác là ở chỗ: Trong doanh nghệp xây
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dựng, khoản mục chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm yếu tố bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn nhng ở các doanh nghiệp khác thì có.
d/Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối l ợng sản phẩm, công
việc, lao vụ sản xuất trong kỳ:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đợc chia làm 2 loại:
Chi phí khả biến ( biến phí ): Là loại chi phí có thay đổi về lợng tơng quan
tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lợng sản phâmr sản xuất trong kỳ. Thuộc loại
chi phí này là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí cố định ( định phí ): Là chi phí không thay đổi về tổng số khi có
sự thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hoặc khối lợng công việc, lao vụ
sản xuất trong kỳ.
Phân loại chi phí thành chi phí khả biến và chi phí cố định có tác dụng quản
lý định mức và những khoản chi phí mà Nhả nớc quản lý chặt chẽ. Đặc biệt nó có
vai trò rất quan trọng đối với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn phục vụ
cho việc ra quyết định quản lý, tận dụng tiềm năng phát triển sản xuất kinh
doanh.
Trên góc độ kế toán quản trị: Những cách phân loại chi phí nêu trên đều
có tác dụng đối với việc ra quyết định của doanh nghiệp, tuy nhiên, để phục vụ
tốt hơn cho quá trình quản trị doanh nghiệp thì trong kế toán quản trị còn có
những cách phân loại sau:
a/Phân loại chi phí theo chức năng của chi phí:
Theo cách phân loại này, chi phí đợc chia làm 2 loại:
Chi phí ban đầu: Là những khoản chi phí đầu tiên chủ yêú của sản phẩm,
gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí chuyển đổi: Phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên
vật liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, nó bao gồm 2 khoản là chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.

có chi phí sản xuất chung mới có đặc điểm của chi phí hỗn hợp.
Ngoài ra có các cách phân loại sau đây nhằm mục đích cho việc ra quyết
định kinh doanh:
-Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
-Chi phí kiểm soát đợc và chi phí không kiểm soát đợc. : Llà những khoản
mục chi phí phản ánh phamj vi quyền hạn của ngời quản lý các cấp đối với những
loại chi phí đó. Ngời quản lý cấp cao có phạm vi quyền hạn rộng đối với chi phí
hơn là những ngời quản lý cấp dơí, nghĩa là họ có nhiều quyền kiểm soát và quyết
định chi phí hơn.
-Chi phi chênh lệch: là những loại chi phí có ở phơng án này mà không có
hoặc chỉ có một phần ở phơng án. Ngời ta xét chi phí này khi khi chọn phơng án
hành động.
-Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ phải chịu dù
doanh nghiệp chọn phơng án hành động nào. Chi phí chìm khômg bao giờ thích
hợp với việc ra quyết địnhvì chúng không có tính chênh lệch. Do đó, tất cả chi
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phí đã đầu t vào tài sản cố định dù theo giá trị ban đầu hay giá trị còn lại đều là chi
phí chìm.
2/Khái niệm giá thành và phân loại giá thành trong doanh nghiệp xây
dựng.
2. 1/Khái niệm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến khối lợng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Trong doanh nghiệp xây dựng, khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ đã
hoàn thành là các công trình, hạng mục công trình, khối lợng xây lắp đã hoàn
thành.
Nh ta đã biết, quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai
mặt: Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất và hai thớc đo giá trị tơng ứng

2. 2/Phân loại giá thành:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc
độ khác nhau:
Trên góc độ kinh tế chính trị: Có hai khái niệm giá thành là giá thành xã
hội và giá thành cá biệt.
Giáthành xã hội là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lợng hao phí lao động
cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trong điều kiện trung bình của nền sản xuất xã
hội.
Gía thành cá biệt là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lợng hoa phí lao động
cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trong một điều kiện cụ thể của một cơ sở sản
xuất nào đó.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý vĩ mô, nó cho phép đánh
giá việc sử dụng tài nguyên của một quốc gia, một xã hội có hiệu quả nh thế nào,
năng suất sản xuất đến đâu.
Trên góc độ kế toán tài chính: Trong doanh nghiệp xây dựng có các cách
phân loại chủ yếu sau:
a/Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành:
Theo cách phân loại này, giá thành đợc chia thành giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch và giá thành thực tế.
Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lợng xây
lắp công trình, đợc xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng cho
từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần lợi nhuận
định mức.
14
Giá trị dự toán - giá thành dự toán = lãi định mức
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là chi phí cho công
tác xây dựng, lắp đặt các cấu kiện, các máy móc thiết bị bao gồm các chi phí trực

hoạch ( thờng là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn phù hợp với sự
thay đổi của các định mức chi phí đạt đợc trong quá trình sản xuất sản phẩm.
b/Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh:
15
Giá thành kế hoạch - giá thành dự toán = mức hạ giá thành dự toán
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo cách phân loại này, giá thành đợc chia thành 2 loại:
Gía thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xởng): Là chỉ tiêu phản ánh
tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xởng sản xuất (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung). Bởi vậy giá thành sản xuất còn có tên gọi là
giá thành phân xởng.
Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm(chi phí sản
xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý). Do vậy, giá thành tiêu thụ còn đợc
gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ.
c/Phân loại giá thành theo theo phạm vị tính giá thành:
Do quá trình thi công và sản xuất sản phẩm xây lắp kéo dài, khối lợng xây
lắp lớn nên để tiện theo dõi những chi phí phát sinh, ngời ta phân chia giá thành
sản phẩm xây lắp thành gái thành hoàn chỉnh và giá thành không hoàn chỉnh.
Giá thành hoàn chỉnh: Phản ánh toàn bộ chi phí liên quan công trình,
hạng mục công trình hoàn thành hay chính là chi phí chi ra để tiến hành thi công
một công trình, hạng mục công trình kể từ khi khởi công đến khi kết thúc hoàn
thành bàn giao cho bên A (bên chủ đầu t).
Giá thành không hoàn chỉnh (giá thành công tác xây lắp thực tế): Phản
ánh giá thành một khối lợng công tác xây lắp đạt tới một điểm dừng kỹ thuật nhất
định, nó cho phép kiểm kê kịp thời chi phí phát sinh để kịp thời điều chỉnh cho
thích hợp ở những giai đoạn sau, phát hiện những nguyên nhân làm thay đổi chi
phí.
d/ Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu giá thành

Ngoài ra trên góc độ kế toán quản trị, ngời ta còn phân loại giá thành ra
làm 2 loại là giá thành đầy đủ và giá thành cần thiết.
Giá thành đầy đủ:
Gía thành cần thiết:
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm có quan hệ mật
thiết với nhau cả về mặt chất cũng nh mặt lợng. Về mặt chất, chúng đều phản ánh
chi phí lao động trên hai mặt của một quá trình thống nhất: quá trình sản xuất.
Về mặt lợng, giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhng có liên quan đến khối lợng công việc,
sản phẩm, dịch vụ, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
Có thể phản ánh mối quan hệ về lợng đó nh sau:
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Qua sơ đồ ta thấy: AC

CDBDAB
+=
tức là:
Tổng giá thành sản chi phí sxdd chi phí sxps chi phí sxdd
phẩm hoàn thành
=
đầu kỳ
+
trong kỳ
-
cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc khi không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng

kịp thời đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm. Vấn đề này có
tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý luận cũng nh thực tiễn và là nội dung cơ bản
nhất của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và
có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất
phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công
nghệ, phân xởng... và giai đoạn tính giá thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản
phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn thành theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc
phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu
hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh
nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định.
Có thể nói, việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác
nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất - tức là
đối tợng hạch toán chi phí sản xuất - và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá
thành một đơn vị - tức là đối tợng tính giá thành.
Nh vậy, xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu
chi phí. Còn xác định đối tợng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm,
bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn
vị. Đối tợng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên
dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản
phẩm.
Để phân biệt đợc đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành sản phẩm ngay cả khi chúng đồng nhất là một cần dựa vào các cơ sở sau
đây:
a/Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: Sản xuất giản đơn hay phức
tạp.
Với sản xuất giản đơn, (doanh nghiệp chỉ sản xuất một số ít mặt hàng với
khối lợng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn khép kín, liên tục, không có điểm dừng, sản

xuất phụ (sản xuất bê tông tơi, bê tông cốt thép, cột trụ,. . . ), sản phẩm mang
tính đơn chiếc, cũng có khi là hàng loạt nhỏ (sản xuất phụ) do đó đối tợng tập hợp
chi phí và đối tợng tính gía thành rất đa dạng, phức tạp, có khi, đối tợng tập hợp
chi phí là các công trình, các hạng mục công trình, các phân xởng, các tổ đội;
còn đối tợng tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình, sản phẩm,
nhóm sản phẩm.
Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tợng hạch toán chi
phí sản xuất và đối tợng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn, mang tính định h-
ớng cho cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đồng
thời thể hiện đợc mục đích và phạm vi tiến hành hai giai đoạn của công tác kế toán
nêu trên.
4. 2. Ph ơng pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối
tợng tính giá thành mà có sự phân biệt giữa hơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
và phơng pháp tính giá thành sản phẩm. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất.
a/Ph ơng pháp hạch toán chi phí sản xuất: Là một hệ thống các phơng pháp
đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn
của đối tợng hạch toán chi phí. Mỗi phơng pháp hạch toán chi phí tơng ứng cới
một loại đối tợng hạch toán chi phí nên tên gọi của phơng pháp biểu hiện đối tợng
mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí. Trong doanh nghiệp xây dựng, có những
phơng pháp tập hợp chi phí phổ biến sau:
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo công trình hay hạng mục
công trình (theo nhóm sản phẩm):Nếu là hạng mục công trình hay nhóm hạng
mục công trình thì hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến hạng mục
cong trình nào hay nhóm hạng mục công trình nào thì tập hợp cho hạng mục công
trình đó. Các khoản chi phí dợc phân chia theo khoản mục giá thành. Giá thành
thực tế của đối tợng đó chính là tổng số chi phí đợc tập hợp cho từng đối tợng, kể
từ khi khởi công đến khi hoàn thành.

bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi
phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản phẩm tạo nên thành phẩm.
Gía thành thành phẩm = Z1 + Z2 +. . . + Zn
Phơng pháp tổng cộng chi phí đợc sử dụng phổ biến trong các doanh
nghiệp khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí chế tạo,. . .
Phơng pháp hệ số: Phơng pháp hệ số đợc sử dụng trong các doanh nghiệp
mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một l-
ợng lao động nhng thu đợc đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không
tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm đợc mà phải tập hợp chung cho cỏ quá trình
sản xuất. Theo phơng pháp này, trớc hết, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi dể
quy các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến
giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá
thành từng loại sản phẩm.
Gía thành Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
đơn vị =
sản phẩm gốc tổng số sản phẩm gốc quy đổi
giá thành đơn vị giá thành đơn vị Hệ số quy đổi
sản phẩm từng loại
=
sản phẩm gốc
X
sản phẩm từng loại
Trong đó:
Sản lợng sản số lợng sản hệ số quy đổi
phẩm quy đổi
=

phẩm loại i
X
sản phẩm loại i

Đồng thời hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí phát sinh thành ba
loại: theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so với định
mức. Từ đó tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách:
giá thành giá thành chênh lệch chênh lệch
thực tế = định mức

do thay đổi

so với
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản phẩm sản phẩm định mức định mức
Việc tính toán giá thành định mức đợc tiến hành trên cơ sở các định mức
tiên tiến hiện hành ngày đầu kỳ (thờng là ngày đầu tháng). Tuỳ theo tính chất quy
trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng phơng pháp
tính giá thành sản phẩm khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết, bộ
phận sản phẩm rồi tổng hợp lại... ). Việc thay đổi định mức là việc tăng hay giảm
các định mức chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm do kết quả của việc áp
dụng các định mức mới kinh tế và tiết kiệm hơn để thay thế các định mức cũ đã lỗi
thời. Việc thay đổi định mức đợc tiến hành vào ngày đầu tháng để tiện lợi cho
việc thực hiện các định mức cũng nh kiểm tra việc thi hành các định mức. Trờng
hợp việc thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng sau mới phát
sinh ngoài phạm vi định mức và dự toán quy định đợc gọi là chênh lệch so với
định mức hay thát ly định mức đợc hạch toán trên cơ sở các chứng từ báo động
mang tính hiệu riêng hoặc theo phơng pháp kiểm kê hay phơng pháp pha cắt vật
liệu.
Chứng tử báo động là các chứng từ phản ánh xuất bổ sung vật liệu hay thay
thế vật liệu dẫn đến chênh lệch so với định mức. Còn phơng pháp pha cắt vật liệu
là phơng pháp so sánh giữa số vật liệu thực tế chi ra với số chi phí vật liệu định

việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc hợp lý, khoa học, đảm bảo
cung cấp số liệu về giá thành thực tế của sản phẩm kịp thời, phát huy đợc đầy đủ
chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế toán.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành phải tập hợp số
liệu để tính giá thành thực tế cho các đối tợng tính giá.
Để xác định kỳ tính giá thành cho thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc
điểm tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Trờng hợp sản xuất
với khối lợng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn và sản xuất liên tục, kỳ tính giá thành
thích hợp là theo kỳ báo cáo. Trờng hợp sản xuất sản phẩm mang tính đơn chiếc
hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm hoặc hàng loạt
sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thanhf thích
hợp là kỳ sản xuât, có nghĩa là tính giá thành sản phẩm khi sản phẩm hoặc đơn
đặt hàng đã hoàn thành.
Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây dựng cơ bản thì kỳ tính giá thành
thờng là:
Đối với những sản phẩm đợc sản xuất liên tục, cung cấp cho những đối t-
ợng khác nhau, chu kỳ sản xuất ngắn và sản xuất liên tục nh sản xuất gạch, ngói,.
. . thì kỳ tính giá thành là kỳ báo cáo hoặc hàng tháng.
Đối với những sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng có thời gian sản xuất
thi công dài, công việc đợc coi là hoàn thành khi khi kết thúc mọi công việc trong
đơn đặt hàng, thì khi hoàn thành toàn bộ mới tính giá thành thực tế đơn đặt hàng
đó.
Với những công trình, hạng mục công trình thì kỳ tính giá thành là thời
gian mà sản phẩm xây lắp đợc coi là hoàn thành và đợc nghiệm thu bàn giao,
thanh toán chi bên A.
Với những công trình lớn hơn, thời gian thi công dài hơn, chỉ khi nào có
một bộ phận công trình hoàn thành, có giá trị sử dụng đợc nghiệm thu bàn giao
thì lúc đó doanh nghiệp tính giá thành của bộ phận đó.
Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời gian
thi công nhiều năm mà không tách ra đợc từng bộ phận, công trình nhỏ đa vào sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status