1
MỞ ðẦU
1. Sự cần thiết của ñề tài
Qua hơn hai mươi năm ñổi mới, Việt Nam ñã có sự phát triển vượt bậc, ñạt
ñược những thành tựu rất quan trọng, ñưa nền kinh tế từng bước thoát khỏi tình
trạng ñói nghèo. ðể ñạt những thành tựu ñó, Việt Nam thực hiện hai chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1991-2000 và thời kỳ 2001-2010. Hiện tại, Việt
Nam ñang chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ
2011-2020 và Chính phủ ñang xin ý kiến ñóng góp rộng rãi về chủ ñề tư tưởng của
chiến lược này.
Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian
qua chưa thể hiện rõ ý tưởng chiến lược và các mục tiêu chủ ñạo của chiến lược ñể
ñịnh hướng cho dân tộc bứt phá, trở thành quốc gia giàu có sánh vai với các cường
quốc năm châu. Nhận thức về chiến lược phát triển còn mơ hồ, lẫn lộn nên việc
triển khai thực hiện chiến lược phát triển ñất nước chưa ñạt hiệu quả cao. Trong
bối cảnh nền kinh tế thế giới biến ñộng mạnh mẽ, các quá trình hợp tác và cạnh
tranh luôn diễn ra song hành, phức tạp và không ngừng phát triển, Việt Nam cần
phải xác ñịnh rõ xuất phát ñiểm của mình, các ñiểm mạnh, các ñiểm yếu, các cơ
hội và nguy cơ ñể từ ñó xây dựng một chiến lược phát triển có khoa học, tạo ñược
sự ñồng thuận rộng lớn trong toàn xã hội nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một
quốc gia giàu mạnh.
Những vấn ñề trên rất rộng lớn và phức tạp, nó ñang là mối bận tâm không chỉ
của các nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạch ñịnh chính sách, mà còn là của cả
dân tộc. Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn ñề về chiến lược
phát triển và hơn hết là thể hiện một bản chiến lược phát triển có ý tưởng chiến
lược, mục tiêu chiến lược rõ ràng do ñó chúng tôi chọn ñề tài “Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội Việt Nam ñến năm 2020”.
ðặt vấn ñề
Mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý luận chung về
chiến lược phát triển
Thu thập thông tin
thứ cấp
Một số yếu tố tác ñộng phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam ñến năm 2020
Tổng kết SWOT
ðề xuất chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội Việt Nam ñền 2020
Kết luận
3
lược, mục tiêu của chiến lược, các nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược và tổ chức thực
hiện chiến lược.
4. ðối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu ñược xác ñịnh là các hoạt ñộng của nền kinh tế Việt
Nam, trong ñó tập trung vào một số yếu tố chủ yếu (yếu tố ñịa lý, nguồn nhân lực,
thực trạng phát triển nền kinh tế, hệ thống tài chính, khoa học - công nghệ, kết cấu
hạ tầng, an sinh xã hội, ô nhiễm môi trường, vai trò nhà nước và bối cảnh quốc tế)
tác ñộng ñến phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song bản thân vấn ñề nghiên cứu khá rộng, phức tạp
và hơn nữa nội dung một bản chiến lược không phải là sự liệt kê tất cả các ngành,
lĩnh vực nên ñề tài chỉ xin ñề cập ñến một số vấn ñề chủ yếu trên ñược cho là cần
thiết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ñến năm 2020. ðối với
lĩnh vực an ninh và quốc phòng, ñề tài chỉ ñề cập ñến như là một bộ phận không thể
thiếu trong chiến lược phát triển mà không ñi sâu vào phân tích.
Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu của ñề tài ñược chúng tôi tiến
hành thu thập và xử lý từ các nguồn chính sau: Tổng cục Thống kê Việt Nam; các tổ
chức quốc tế WB, ADB, WEF và kế thừa một số tài liệu từ các nguồn nghiên cứu
tế - xã hội; một số quan ñiểm và lý thuyết vào nghiên cứu chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội; kinh nghiệm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở một số nước và công
tác nghiên cứu, thực thi chiến lược phát triển ở Việt Nam thời gian qua làm cơ sở lý
luận cho nghiên cứu của ñề tài.
1.1. Lý luận chung về chiến lược phát triển
1.1.1. Quan niệm chiến lược phát triển
Chiến lược phát triển là tinh thần cơ bản của ñường lối phát triển do con người
ñịnh ra, nó thể hiện chủ ñề tư tưởng và gắn liền với chủ ñề tư tưởng ấy là phạm vi
bao quát và nội dung chủ yếu của chiến lược ñược thể hiện thông qua mục tiêu, hệ
thống các quan ñiểm, biện pháp cơ bản có tính chiến lược về phát triển ở tầm cao,
tầm tổng thể, tầm dài hạn ñối với sự phát triển của một ñối tượng (hay của một hệ
thống) mà các nhà lãnh ñạo ñề ra; nó chỉ ñạo hành ñộng thống nhất của một cộng
ñồng hay một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nhằm ñạt tới mục tiêu cao nhất, lớn
nhất, tổng quát nhất ñã xác ñịnh.
Theo Ngô Doãn Vịnh (2007), ở phương Tây, người ta thường sử dụng thuật
ngữ “chiến lược quốc gia”. Chiến lược quốc gia là chiến lược ở tầm vĩ mô, là chiến
lược ở tầng cao nhất về bảo vệ, xây dựng, phát triển của quốc gia trong một thời kỳ
nhất ñịnh. Nó chẳng những gồm, gộp chiến lược về chính trị, chiến lược về kinh tế,
chiến lược về quân sự thành một khối, mà còn có sự chỉ ñạo hành ñộng trên thực tế
ñối với chiến lược của các lĩnh vực, các vấn ñề phát triển của ñất nước; Các học giả
Trung Quốc cho rằng chiến lược là những mưu tính và quyết sách ñối với những
vấn ñề trọng ñại có tính chất toàn cục và lâu dài, còn lý luận và phương pháp quyết
sách những vấn ñề trọng ñại mang tính toàn cục và lâu dài là nhiệm vụ của chiến
lược học; Các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) ñề ra chiến lược phát triển ñến
6
năm 2020; ñược coi như là tuyên bố của họ với dân chúng của EU và thế giới về
chủ trương phát triển của EU; Người Mỹ và người ðức sử dụng khái niệm “kế
hoạch chiến lược”. Những kế hoạch có tầm chiến lược về ñối nội, ñối ngoại ñược
lược trở thành hiện thực. Trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược sẽ bị ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố, mà những yếu tố này về nguyên tắc chúng luôn vận
ñộng và tương tác lẫn nhau nên ñòi hỏi sự linh hoạt, nhạy bén, kiên quyết, dứt ñiểm
của người chỉ ñạo và tổ chức thực thi chiến lược. ðồng thời, việc kiểm tra, rà soát
ñể kịp thời ñiều chỉnh chiến lược là việc làm cần thiết nhằm làm cho sự phát triển
của ñất nước trở nên ñúng ñắn, liên tục và thiết thực.
Như vậy, chiến lược phát triển là chiến lược về sự phát triển của một hệ thống,
chiến lược dẫn dắt hệ thống ñó phát triển ñúng hướng và có kết quả theo mong
muốn. Muốn hệ thống vận ñộng theo hướng có lợi thì phải ñiều khiển nó theo quy
luật vận ñộng của nó. Việc nắm bắt quy luật vận ñộng và cụ thể hóa các quy luật
thành chiến lược phát triển cho hệ thống là vấn ñề quan trọng và có tính bắt buộc
ñối với sự phát triển của hệ thống.
Chiến lược phát triển ñất nước không phải là kế hoạch phát triển dài hạn hoặc
trung hạn, càng không thể là kế hoạch phát triển ngắn hạn. Do ñó tính cụ thể, tính
lượng hóa của nó không nhiều, vừa ñủ ñảm bảo cơ sở khoa học của các chủ trương và
ñường lối phát triển dài hạn và mang tầm chiến lược của ñất nước. Trước hết mục
tiêu chiến lược phải cụ thể, các vấn ñề trọng yếu mà chiến lược ñề cập (hay những
nhiệm vụ chiến lược phải làm), các bước thực hiện và tổ chức thực hiện phải ñược thể
hiện một cách cụ thể. Ý tưởng chiến lược, mục tiêu chiến lược phát triển ñất nước
phải ñược thể hiện trong văn kiện lớn của ñảng cầm quyền hay của nhà nước; có như
thế mới tạo ra sự thống nhất và quyết tâm trong hành ñộng của cả dân tộc. Tính lượng
hóa ñược thể hiện ñể làm rõ mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển; cần tính
toán các chỉ tiêu cụ thể về kinh tế, xã hội trọng yếu. Chẳng hạn như các chỉ tiêu về
quy mô dân số, tổng sản phẩm quốc nội, tốc ñộ tăng trưởng kinh tế bình quân và một
số chỉ tiêu khác phải ñược tính toán và thể hiện bằng con số với biên ñộ nhất ñịnh. Hệ
thống các chỉ tiêu cụ thể có thể ñính kèm như phụ lục minh họa. 8
Một chiến lược phát triển cần phải có:
thống, chiến lược phát triển ñề cập ñến những vấn ñề toàn cục, những vấn ñề có
ý nghĩa ñiểm huyệt, có sức gây công phá lớn ñối với sự phát triển của toàn bộ hệ
thống. Tính hệ thống cần thể hiện yêu cầu tiên tiến của các phân hệ cấu thành
cũng như của cả hệ thống.
- Tính bao quát: thể hiện bao quát tất cả những vấn ñề cơ bản của ñất nước;
nó ñề cập những vấn ñề lớn, tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, môi trường
và an ninh quốc phòng của quốc gia có tính tới bối cảnh quốc tế; vừa bao quát
những vấn ñề dài hạn vừa ñề cập thỏa ñáng những vấn ñề ngắn hạn có tính
quyết ñịnh.
- Tính lựa chọn: Nguồn lực phát triển bao giờ cũng có hạn. ðất nước bao giờ
cũng tồn tại nhiều vấn ñề lớn cần giải quyết. Bối cảnh thế giới mỗi thời kỳ mỗi
khác. Do ñó chiến lược phát triển ñất nước phải chọn những vấn ñề then chốt ñể
tìm cách giải quyết.
- Tính linh hoạt và mềm dẻo: Chiến lược phát triển ñất nước phải có khả năng
ñiều chỉnh nhanh, thích ứng rộng phù hợp với hoàn cảnh mới.
- Tính dài hạn: Chiến lược phát triển ñất nước thường ñề cập ñến những
vấn ñề lớn, mà những vấn ñề này không thể giải quyết trọn vẹn trong một
thời gian ngắn.
- Tính thời ñại: biểu hiện ở tính hiện ñại, tính liên kết, không chỉ và không
quá bó hẹp bởi ranh giới hành chính. Những thành tựu của nhân loại phải ñược
phát huy, những thất bại của thế giới phải ñược rút kinh nghiệm và tránh.
1.1.4. Phân loại chiến lược phát triển
Tùy theo tính chất và cấp ñộ của chiến lược phát triển mà chúng ta có thể chia
chiến lược phát triển thành các loại chiến lược:
- Theo cấp ñộ: có ñại chiến lược và chiến lược bộ phận.
- Theo tính chất và lĩnh vực: có chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược phát
triển xã hội, chiến lược bảo vệ môi trường, chiến lược an ninh, chiến lược quốc
phòng, chiến lược ñối ngoại, chiến lược ñối nội và các chiến lược khác.
11
một chiến lược bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dù
thế nào ñi nữa thì việc ñảm bảo an ninh toàn diện, ñảm bảo vững chắc yêu cầu
phòng thủ và tiến công trước các lực lượng chống ñối từ bên ngoài nhằm giữ vững
ñộc lập, thịnh vượng quốc gia là những nội dung rất cơ bản của chiến lược an ninh
quốc phòng.
Chiến lược ñối ngoại: ñây là loại chiến lược ñặc biệt ñòi hỏi tính mềm dẻo, linh
hoạt và nhạy bén. Chiến lược này bao quát các vấn ñề không chỉ ñối ngoại về chính
trị, kinh tế mà còn cả các lĩnh vực hợp tác quốc tế về quân sự, cảnh sát, bảo vệ môi
trường; việc tham gia các liên minh, các tổ chức quốc tế và lựa chọn các ñối tác
chiến lược ñều phải ñựơc ñề cập ở chiến lược ñối ngoại.
Chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực và lãnh thổ: là bộ phận của chiến lược
phát triển ñất nước. Nó chi tiết và cụ thể hơn nội dung về ngành, lĩnh vực và lãnh
thổ ñã ñược ñề cập trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước. Chẳng
hạn chúng ta có: chiến lược phát triển năng lượng, chiến lược phát triển ñiện tử tin
học, chiến lược phát triển tài chính ngân hàng, chiến lược phát triển giống nòi và
nhân lực, chiến lược phát triển các vùng kinh tế ñộng lực, chiến lược phát triển các
hành lang kinh tế và các chiến lược khác.,
1.2. Một số quan ñiểm, lý thuyết cơ bản trong nghiên cứu chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội
Theo các nhà nghiên cứu khoa học của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế
hoạch và ðầu tư thì các lý thuyết trong nghiên cứu chiến lược phát triển là một
mảng ñang còn trống ở Việt Nam. Vì vậy, trong Ngô Doãn Vịnh (2007), họ ñề xuất
một số quan ñiểm và lý thuyết quan trọng cần và có thể nghiên cứu ứng dụng ñối
với hoạch ñịnh chiến lược phát triển ở Việt Nam.
1.2.1. Quan ñiểm các nước cùng phát triển
Theo các nhà nghiên cứu khoa học của Viện Chiến lược phát triển, ñây là
phương cách phù hợp trong thời ñại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế phát triển mạnh
mẽ và sâu rộng. Từ bỏ các quan ñiểm phát triển khép kín, lảng tránh trách nhiệm
chúng phát triển trái chiều sẽ cản trở lẫn nhau, làm cản trở cho sự phát triển chung
của hệ thống.
13
- Trong hệ thống tồn tại tập hợp các phần tử theo một trật tự và quan hệ tỷ lệ
nhất ñịnh. Mỗi phần tử có vị trí trong trật tự cơ cấu. Những phần tử quyết ñịnh ñến
tính chất, trình ñộ của hệ thống ñược gọi là phần tử cơ cấu. Những phần tử ít có ý
nghĩa ñối với hệ thống thì gọi là phần tử phi cơ cấu.
- Cơ cấu chuyển ñộng không ngừng, biến ñổi không ngừng; nó có thể phát triển
một cách tuần tự hoặc có bước nhảy vọt. Sự thay ñổi về cơ cấu sẽ làm cho tính chất,
trình ñộ của hệ thống thay ñổi theo. Như mọi hiện tượng, sự vật khi cơ cấu của nó
thay ñổi thì không chỉ có bản chất của hệ hống thay ñổi mà các quan hệ của nó với
các hệ thống khác cũng thay ñổi theo. ðây là ñiều cần coi trọng trong quá trình kết
cấu lại nền kinh tế ở bất kỳ giai ñoạn phát triển nào.
Như vậy, việc xác ñịnh ñược cơ cấu kinh tế ñúng ñắn ñã là rất quan trọng
nhưng tổ chức xây dựng ñược cơ cấu kinh tế ñã ñược xác ñịnh là ñúng ñắn ấy còn
quan trọng hơn. Cần phải vận dụng sáng tạo lý thuyết hệ thống và lý thuyết ñiều
khiển tác ñộng vào những phần tử cơ cấu quyết ñịnh ñến hệ thống và tìm cách tối ña
hóa ñầu ra cũng như giảm tới mức có thể ñầu vào; tối ưu hóa cơ cấu của hệ thống và
nhờ ñó làm cho hệ thống vận ñộng ñúng chiều ñã ñược xác ñịnh bằng hệ thống các
cơ chế, chính sách ñúng ñắn và có sự ñiều khiển hợp lý của Nhà nước.
1.2.3. Tự do hóa và liên kết là phương thức hữu hiệu ñể phát triển
Tự do ñể giải phóng các tiềm năng của con người phục vụ cho công cuộc phát
triển, nghĩa là tự do ñể sáng tạo và vì phát triển. Liên kết ñể ñảm bảo tự do hóa tối
ña, hữu ích và ñể tăng thêm sức mạnh; tự do hóa nhằm thúc ñẩy liên kết bền vững.
Tự do hóa kinh tế là xu thế tất yếu. Tuy nhiên, tự do hóa không làm mất ñi tính
ñộc lập cần thiết của mỗi quốc gia. Việc bảo vệ chính ñáng của mỗi quốc gia sẽ còn
tồn tại nhưng nó sẽ chỉ tồn tại trong bối cảnh hợp tác cùng có lợi.
Liên kết là xu thế ñang không ngừng phát triển và có tác dụng thực sự ñối với
sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong khi mà quan ñiểm chuỗi giá trị toàn cầu ñã và
chiến lược. Về bản chất, tư duy chiến lược là tư duy có tính ñột phá trên cơ sở
những giả ñịnh và suy ñoán.
Tư duy chiến lược về cơ bản có các bước sau: bước 1, phân tích ñiểm xuất phát
của hiện tượng; bước 2, xây dựng các giả ñịnh và kiểm tra các giả ñịnh cho chiến
15
lược; bước 3, kiến tạo tầm nhìn chiến lược; bước 4, xác ñịnh mục tiêu chiến lược;
bước 5, xác ñịnh các yếu tố then chốt ñể thực hiện mục tiêu chiến lược; và cuối
cùng, ñịnh hướng các hoạt ñộng chính của chiến lược (phụ lục 2).
Khi bàn về tư duy chiến lược phát triển, có một vấn ñề rất quan trọng, chi phối
khá lớn ñối với tư duy của nhà chiến lược, ñó là tam giác Tự do - Văn hóa - ðổi
mới. Cả ba yếu tố này có chung một tụ ñiểm và sức sống là “con người”. Tự do hay
Văn hóa hay ðổi mới không thể không gắn với con người. Con người phải là yếu tố
xuyên suốt mọi quá trình phát triển và vừa là mục tiêu vừa là phương tiện của tư
duy chiến lược.
Tự do của con người chính là cái gốc của sự phát triển. Tự do chính là ñộng lực
phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng ñồng, của cả quốc gia. Tự do và
sáng tạo luôn ñi liền với nhau. Tự do và sáng tạo theo ñúng nghĩa sẽ ñem ñến sự
thăng hoa cho sự phát triển.
Văn hoá chính là kết quả của các hoạt ñộng của con người trong quá khứ;
chúng tồn tại và ñược xã hội xem như kết tinh quý báu của con người thì chúng cần
ñược tôn vinh và phát huy thỏa ñáng; nếu chúng không ñược coi trọng một cách
khách quan tức là chúng ít có giá trị hoặc không có giá trị thì chúng phải ñược xem
xét ñể có ñịnh hướng cải tiến. Một dân tộc không coi trọng giá trị văn hóa của mình,
không hiểu biết quá khứ của mình thì không thể phát triển ñược.
ðổi mới là yêu cầu khách quan, là hành ñộng có ý thức của con người, nó giúp
con người phát hiện ra những giới hạn của mình cũng như của xã hội và tạo ra năng
lực mới cho chính bản thân con người cũng như cho cả xã hội. ðổi mới ñể phát
triển, phát triển là kết quả và là thuộc tính của tiến hóa. Trong Lý thuyết tiến hóa về
phát triển kinh tế (còn gọi là Lý thuyết tân Shumpeter về phát triển kinh tế) ñưa ra
tranh cao, tăng trưởng kinh tế ñi ñôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường, quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả.
Mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia không chỉ là tăng trưởng cao mà phải phát
triển bền vững, tức là phải tạo ra sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết
các vấn ñề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, giữa
tăng trưởng kinh tế và ñảm bảo quốc phòng an ninh. ðối với các nước ñang phát
17
triển, với ñiều kiện nguồn lực còn hạn chế, ñặc biệt là nguồn vốn ñầu tư không
nhiều, lại ñang có một khoảng cách lớn về trình ñộ phát triển so với các nước công
nghiệp phát triển, thì giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển
bền vững như thế nào cho phù hợp, không vì quá tập trung tăng trưởng nhanh ñể
mất ổn ñịnh xã hội và suy thoái môi trường, cũng không vì quá tập trung vào duy trì
ổn ñịnh xã hội và bảo vệ môi trường dẫn ñến tăng trưởng chậm, tụt hậu so với các
nước. ðây là vấn ñề nan giải, không dễ giải quyết nhưng cũng không thể lẩn tránh.
Theo Ngô Doãn Vịnh (2005), sự phát triển bền vững thường ñược phân tích ở
các khía cạnh: phát triển bền vững về mặt kinh tế ñược thể hiện khi nền kinh tế phát
triển có hiệu suất tức là ñộ gia tăng của sản lượng ñầu ra nhiều hơn là tổng phần
tăng ñầu vào; phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mục tiêu vì con người,
không chỉ là sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho thế hệ hôm nay mà còn không ñược
làm tổn hại ñến những cơ hội lựa chọn của các thế hệ mai sau; phát triển bền vững
về mặt môi trường thông qua các chỉ tiêu về chất lượng môi trường phải ñược ñảm
bảo và không ngừng cải thiện môi trường.
Thật ra, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững có mối quan hệ hết sức
chặt chẽ. Khi kinh tế phát triển sẽ giúp cho con người nâng cao ñược khả năng
hưởng thụ của mình không chỉ vật chất mà cả văn hóa xã hội và có nhiều hiểu biết,
trách nhiệm hơn về môi trường, khả năng tái ñầu tư vào bảo vệ môi trường sẽ cao
hơn và do ñó sẽ cải thiện môi trường tốt hơn. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế quá
nhanh là nguyên nhân gây nên sự sử dụng quá mức, lãng phí ngày càng tăng nguồn
tài nguyên và môi trường. Phát triển kinh tế một cách không tính toán sẽ vượt quá
nước như một công cụ phát triển, cắt bỏ một số chi phí giao dịch liên quan ñến việc
sử dụng thị trường trong nước.
Vai trò của nhà nước còn thể hiện ở việc phải duy trì tính ổn ñịnh của nền kinh
tế vĩ mô thông qua việc quản lý chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; và với
chức năng như là một chủ thể trung gian trong nền kinh tế ñể tạo ra một nền tảng
vững chắc cho các hoạt ñộng sản xuất và trao ñổi diễn ra trong nền kinh tế thị
trường tự do. Karl Marx ñã chỉ ra rằng, với vai trò là nhà thi hành pháp luật trong
nền kinh tế thị trường, nhà nước hiện ñại thể hiện sức mạnh ở chỗ: lợi ích cá nhân
1
John Wallis và Douglass North (1986), chi phí giao dịch chiếm gần một nửa thu nhập quốc dân (GNP) của
nền kinh tế Mỹ trong giai ñoạn 1870-1970.
19
của các quan chức công quyền hoàn toàn tách biệt khỏi công việc quản lý sản xuất
và tiêu thụ. Chính sự tách biệt này cho phép chính phủ hoạt ñộng như một thực thể
ñộc lập nhằm thực thi nhiệm vụ của mình.
1.3. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở một số nước
1.3.1. Trung Quốc
Trong Ngô Doãn Vịnh (2007), các học giả Trung Quốc cho rằng nước mình có
ñại chiến lược hay chiến lược tổng thể, nó bao gồm hai bộ phận cơ bản là chiến
lược an ninh quốc gia và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. ðây là chiến lược
tổng thể, cao nhất về phát triển ñất nước ñược một cơ quan của nhà nước chuyên
nghiên cứu về chiến lược phát triển quốc gia ñệ trình lên Quốc vụ viện xem xét.
Quốc vụ viện xem xét và chấp nhận ý tưởng chiến lược, mục tiêu chiến lược cũng
như con ñường ñạt ñược mục tiêu ấy và công bố tinh thần cơ bản của chiến lược với
công chúng. Họ không thông qua chiến lược theo kiểu ban hành một Nghị quyết về
chiến lược phát triển ñất nước và không pháp lý hóa văn bản chiến lược.
Việc nghiên cứu chiến lược ñược giới học giả rất quan tâm và các nhà lãnh ñạo,
những người làm chính sách hết sức coi trọng. Năm 1980, ðặng Tiểu Bình nêu ra ý
quan xây dựng, bao gồm:
- Bản chiến lược của Viện nghiên cứu tổng hợp Nhật Bản (NIRA), xác ñịnh
“Nhiệm vụ của Nhật Bản trong thế kỷ XXI”, trong ñó nêu rõ nền tảng của sự phát
triển quốc gia tập trung vào: Phát triển năng lượng, ñặc biệt là phát triển năng lượng
nguyên tử; Cải tổ cơ cấu ñối với công nghiệp; Chiến lược trong lĩnh vực an ninh
quốc gia và hệ thống các hành ñộng của Nhật trong ñiều kiện xảy ra tình huống
khủng hoảng; Chiến lược trong quan hệ Nhật Bản với các nước Bắc-Nam; Chiến
lược phát triển và củng cố quan hệ với Hoa Kỳ, các nước khu vực Châu Á Thái
Bình Dương và khu vực khác.
- Bản chiến lược của Hiệp hội các doanh nghiệp Nhật Bản (Nippon Keidanren),
với nội dung cơ bản của chiến lược là “Tiến tới xây dựng một nước Nhật Bản năng
ñộng trong thế kỷ XXI”. Trong ñó nêu rõ mục tiêu chiến lược giai ñoạn ñến 2020 là:
Xây dựng một nhà nước vững mạnh trên phạm vi toàn cầu (gồm: Vai trò nhà nước
21
ñóng góp vào hoà bình, thịnh vượng; có cộng ñồng doanh nghiệp giữ vai trò tiên
phong; minh bạch, nhỏ gọn và hiệu quả ñặt trong nguyên tắc chuyển giao quyền lực
từ khu vực nhà nước sang tư nhân, từ trung ương xuống ñịa phương); ðồng thời nêu
rõ Chương trình hành ñộng giai ñoạn ñến 2020, gồm: Lĩnh vực kinh tế và công
nghệ; Chính sách và hành ñộng của chính phủ; Lĩnh vực ngoại giao và trao ñổi hợp
tác quốc tế; Lĩnh vực giáo dục; Lĩnh vực kinh doanh.
1.3.3. Liên minh châu Âu
Theo Ngô Doãn Vịnh (2007), Liên minh châu Âu công bố chiến lược phát triển
bền vững cho thời kỳ ñến năm 2020 vào tháng 4 năm 2001. Căn cứ vào chiến lược
chung này các nước thành viên trong khối xây dựng chính sách phát triển cho quốc
gia mình.
Trong ñó, Ba Lan và Hungary có chiến lược phát triển ñất nước cho thời kỳ 10
năm hoặc 25 năm, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kinh tế và xã hội. Họ cho rằng gia
nhập khối EU là vấn ñề vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội, có ý nghĩa ñột phá ñể
thực hiện ñược chiến lược phát triển quốc gia. Cả hai nước ñều ñặc biệt coi trọng
tạo trở thành ngành có tốc ñộ tăng trưởng cao, tạo cho khu vực tư nhân tăng trưởng
vượt trội.
- Chiến lược giai ñoạn 1991-2020: ðây là bản chiến lược ñược công bố, tầm
nhìn quốc gia 30 năm. Mục tiêu của chiến lược là thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Xã
hội chu ñáo và công bằng, dân chủ. Ổn ñịnh, năng ñộng, vững mạnh và ñầy sức
cạnh tranh. Xây dựng một nền kinh tế của doanh nghiệp.
1.4. Công tác nghiên cứu và thực thi chiến lược phát triển ở Việt Nam thời
gian qua
ðến nay Việt Nam ñã qua hai thời kỳ xây dựng chiến lược: chiến lược ổn ñịnh
và phát triển kinh tế - xã hội ñến năm 2000 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001-2010.
1.4.1. Tích cực
Về nhận thức: Các nhà hoạch ñịnh chính sách và quản lý ñều khẳng ñịnh vai trò
to lớn của chiến lược; ñều thấy rằng cần phải có chiến lược ñể căn cứ ñiều hành và
lãnh ñạo quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các tư duy có tính chiến lược ñã có
23
những tác dụng nhất ñịnh trong ñịnh hướng phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi ngành,
mỗi ñịa phương.
Về nội dung: ðã xây dựng ñược chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam cho giai ñoạn 10 năm, trong ñó ñưa ra ñược tầm nhìn, phác họa ñịnh hướng
phát triển, ñề xuất những giải pháp lớn, từ ñó thấy ñược bức tranh chung phát triển
ñất nước, các vùng và ngành trong thời kỳ triển vọng. Như “Chiến lược ổn ñịnh và
phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1991-2000” là chiến lược có mục tiêu chiến lược
rõ ràng; thực hiện chiến lược này, ñất nước Việt Nam ñã ra khỏi khủng hoảng và
phát triển mạnh mẽ, thu ñược những thành tựu vượt bậc; Các bản chiến lược ñã làm
căn cứ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và các chính sách lớn.
Về mặt tổ chức nghiên cứu chiến lược: ñã có ý thức thu hút sự ñóng góp, lấy ý
kiến của ñông ñảo các nhà khoa học trong nước, các chuyên gia nước ngoài, các tổ
chức ðảng, các tổ chức quần chúng và ñại bộ phận nhân dân trong cả nước qua các
giới hạn trong các cơ quan nhà nước, các cơ quan ngoài nhà nước, ñặc biệt hệ thống
các doanh nghiệp không tham gia
3
. Theo một tổng kết của cơ quan tư vấn Nhật Bản,
việc tham gia vào hoạch ñịnh các chính sách quốc gia ở Nhật, thì 60% là các ñại gia
(các công ty và doanh nghiệp lớn), 20% là các nhà khoa học, 10% là các nhà hoạch
ñịnh chính sách của Chính phủ, chỉ có 10% là của các quan chức.
Về mặt tổ chức thực hiện chiến lược: Mang tính hình thức, giống triển khai nghị
quyết, chẳng hạn học tập, phổ biến. Thực chất chiến lược quốc gia là phải bí mật,
không công bố văn bản chiến lược cụ thể, chi tiết. Chính phủ chỉ công bố những tư
tưởng chiến lược ñã ñược lựa chọn, khi hành ñộng thì cụ thể hoá vào trong các quy
hoạch, kế hoạch. Bên cạnh ñó, công tác rà soát, ñiều chỉnh chiến lược không ñược
2
Chẳng hạn, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010” với chủ ñề là: “Chiến lược ñẩy
mạnh CNH, HðH theo ñịnh hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, xây dựng nền tảng ñể ñến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp”, ñây là chủ ñề rất chung mang tính ñạo lý, không xác ñịnh rõ ý tưởng chiến
lược và các mục tiêu chủ ñạo của giai ñoạn chiến lược. Không có các căn cứ vào tiêu chí gì ñể có thể xác
ñịnh thời kỳ chiến lược 2001-2010 chúng ta ñã (hoặc chưa) hoàn thành ñược việc “ñẩy mạnh CNH, HðH
theo ñịnh hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Cũng không xác ñịnh ñược thời kỳ 2001-2010 cần “xây dựng nền tảng
của một nước công nghiệp hóa” ñến mức ñộ như thế nào ñể có thể ñến năm 2020 nước ta trở thành một nước
công nghiệp?. Ý ñồ chiến lược không nổi rõ còn thể hiện là các nội dung cơ bản của chiến lược thời kỳ 2001-
2010 lại nêu lại các vấn ñề của nội dung chiến lược thời kỳ 1991-2000, chỉ khác về mức ñộ, không thấy sự
lựa chọn mới và trọng tâm mới.
3
Trong chiến lược phát triển thời kỳ 1991-2000 ñã tổ chức cho 6 cơ quan cùng xây dựng, chiến lược thời kỳ
2001-2010 ñã triển khai 15 chuyên ñề giao cho hầu hết các Bộ ngành tham gia xây dựng. Tất cả các cơ quan
tham gia xây dựng chiến lược của hai thời kỳ chiến lược ñều là cơ quan nhà nước. Các doanh nghiệp, các tổ
chức quần chung chỉ ñược hỏi ý kiến, không phải là những thành phần cùng tham gia hoạch ñịnh chiến lược.
Chính vì vậy, các chiến lược này chưa thực sự vào cuộc sống.