1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với bờ biển dài 3.260 km chưa kể các đảo và vùng đặc quyền kinh tế hơn 1
triệu km
2
, Việt Nam rất quan tâm đến việc bảo tồn và quản lý các nguồn lợi thủy
sản. Bởi lẽ, đây là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Ngày
25.07.1994, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 63 của Công ước Luật
biển; với tư cách là thành viên của Công ước, Việt Nam luôn luôn tôn trọng các
điều khoản của Công ước và thực thi những cam kết quốc tế của mình.
Trong những năm vừa qua, ngành thủy sản nước ta đã có những bước phát
triển nhảy vọt. Nếu như năm 1981, sản lượng thủy sản cả nước chỉ có 600 nghìn tấn
thì hiện nay đạt hơn 4,3 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu năm 1981 là 15,2 triệu USD,
nay tăng lên 4,25 tỷ USD. Việt Nam đã trở thành một trong mười nước xuất khẩu
thủy sản hàng đầu thế giới. Ngành thủy sản tạo việc làm cho hơn bốn triệu lao động,
chưa kể những lao động gián tiếp như công nghiệp chế biến, dịch vụ xuất khẩu, hệ
thống thương mại, đóng tàu,... Điều đó chứng tỏ ngành thủy sản đóng một vai trò
quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của
ngành xuất khẩu cá ngừ đại dương ở Việt Nam.
Theo ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
“Trong những năm gần đây, nghề khai thác cá ngừ đại dương phát triển khá nhanh,
cả về quy mô công nghiệp đánh bắt hải sản và quy mô nhỏ của hộ ngư dân, đặc biệt
là ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Nhận thức được hiệu quả của nghề câu
cá ngừ đại dương, thời gian qua, ngành thủy sản xem đây là đối tượng, mục tiêu để
phát triển nghề khai thác cá xa bờ” [10]. Chỉ tính riêng trong 5 tháng đầu năm 2010,
kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang hầu hết các thị trường truyền thống
như Mỹ, Nhật Bản, Canada,… đều tăng trưởng mạnh; đặc biệt, có thị trường Mỹ và
Canada tăng hơn 500% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính từ đầu năm đến nay,
kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của cả nước đạt gần 100 triệu USD, tăng hơn 100% cả
3
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro trong
quá trình xuất khẩu cá ngừ đại dương trước những thời cơ và thách thức.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là quá trình xuất khẩu cá ngừ đại dương hiện nay.
Đối tượng khảo sát là các ngư dân, các vựa, nậu, các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ
đại dương ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Tác giả nghiên cứu về rủi ro trong quá trình xuất khẩu cá
ngừ đại dương ở Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở ba tỉnh Bình Định, Phú Yên,
Khánh Hòa; đây là những tỉnh có sản lượng khai thác cá ngừ lớn nhất ở nước ta.
+ Về thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: Để tìm ra các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro
trong quá trình xuất khẩu cá ngừ đại dương ở Việt Nam, tác giả đã tiến hành phỏng
vấn trực tiếp ngư dân các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; các nậu, vựa, các
công ty, các chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn ba tỉnh nói trên.
- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp: Kết hợp kết quả điều
tra với các số liệu từ báo cáo tổng kết của các tổ chức, hiệp hội để phân tích, đánh
giá, so sánh và tổng hợp.
- Phương pháp tư duy: Tác giả sử dụng phương pháp tư duy logic trong phân
tích thực trạng công tác quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu cá ngừ đại dương ở
Việt Nam và đề xuất các giải pháp.
5. Tính mới của đề tài
Cá ngừ đại dương là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng trong việc
phát triển kinh tế của đất nước; nó đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn, góp phần cải thiện
đời sống của nhiều gia đình. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu
về cá ngừ đại dương mà mới dừng lại ở những bài báo, bài hội thảo viết về lĩnh vực
này như: Mối nguy Histamine và các biện pháp kiểm soát trong sản xuất kinh doanh
cá ngừ của Nguyễn Thị Ngọc Yến, Phó Giám đốc Trung tâm Chất lượng Thủy sản
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH
KINH DOANH XUẤT KHẨU
1.1. Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
1.1.1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
1.1.1.1. Khái niệm
Trong cuộc sống và công việc hằng ngày rủi ro có thể xuất hiện trên mọi lĩnh
vực. Rủi ro không ngoại trừ một ai, một quốc gia, một dân tộc nào.
Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi công việc kể cả trong kinh doanh, vì thế
kinh doanh luôn gắn liền với rủi ro mạo hiểm và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh
vì họ kỳ vọng sẽ thu được phần lợi nhuận, được xem như là một “sự tưởng thưởng”
cho việc dám chấp nhận mạo hiểm này. Tuy nhiên, chỉ có những nhà kinh doanh
biết phân tích, đánh giá và lường trước rủi ro để đưa ra những biện pháp phòng
ngừa rủi ro hợp lý thì mới có nhiều cơ may nhận được “sự tưởng thưởng” đó.
Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho các nhà doanh nghiệp, đặc biệt đối
với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì rủi ro càng đa dạng và phức tạp hơn.
Rủi ro trong kinh doanh là điều tất yếu, không thể loại bỏ hẳn nhưng doanh nghiệp có
thể phòng ngừa và hạn chế tác động của rủi ro bằng các biện pháp hợp lý.
Cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái
khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định
nghĩa này rất đa dạng và phong phú.
Theo trường phái truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có
thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái trung hòa: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro
có tính hai mặt: vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra
6
Nhóm rủi ro do các yếu tố khách quan
Rủi ro do hiểm họa: Những rủi ro do lũ lụt, hạn hán, động đất, dịch bệnh,…
tác động bất lợi đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hậu quả rủi ro
do thiên tai mang lại thường rất nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp phải phá sản vì rủi ro này.
Rủi ro chính trị, pháp lý: Loại rủi ro mà các nhà kinh doanh nhất là các
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu lo ngại nhất. Bởi vì, trước khi xây dựng chiến
lược kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp hay quyết định ký một hợp đồng xuất
khẩu phải dựa vào tình hình kinh tế – xã hội, dựa trên các quyết định,… một biến
động mạnh về chính trị, pháp lý xảy ra có thể làm đảo lộn mọi dự đoán của doanh
nghiệp và làm doanh nghiệp thất bại.
Rủi ro do lạm phát: Sự tăng giá bình quân của hàng hóa. Các doanh nghiệp
luôn gặp các rủi ro do các biến động kinh tế. Rủi ro lạm phát là một điển hình trong
các rủi ro do biến động kinh tế. Khi lạm phát xảy ra ở mức độ cao thì hợp đồng xuất
khẩu sẽ không có ý nghĩa. Trong kinh doanh xuất khẩu, thời gian kể từ khi tính toán
hiệu quả của thương vụ xuất khẩu đến khi nhận tiền hàng thanh toán từ phía nước
ngoài tương đối dài, trung bình 30 – 45 ngày. Do vậy, xác suất xảy ra lạm phát là
không phải nhỏ.
Rủi ro hối đoái: Sự không chắc chắn về một khoản thu nhập hay chi trả do
biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến của hợp đồng. Trong
hợp đồng xuất khẩu, rủi ro do xuất khẩu xảy ra khi ngoại tệ mà doanh nghiệp xuất
khẩu nhận được trong tương lai giảm giá so với đồng nội tệ. Nghĩa là tiền thu về được
qui đổi ra đồng nội tệ giảm so với dự kiến.
Rủi ro do sự thay đổi chính sách ngoại thương: Hệ thống các nguyên tắc,
biện pháp kinh tế, hành chính, luật pháp nhằm điều tiết các hoạt động mua bán quốc tế
của một nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Hầu hết các chính sách ngoại thương
của các nước thay đổi theo từng giai đoạn tùy theo mục đích, định hướng của nhà nước
đó trong từng thời kỳ khác nhau. Sự thay đổi thường xuyên của các định chế này là một
đe dọa lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu vì các doanh nghiệp này không những chịu
8
hiệu nào trị được. Một nhà xuất khẩu có năng lực quản lý kém sẽ liên tục gặp những rủi
ro khác nhau: tưởng làm như vậy là kịp thời nhưng thực tế là quá trễ, tính toán như vậy
tưởng là lời nhưng thực tế là lỗ, quan hệ như vậy cứ nghĩ là khách hàng hài lòng nhưng
thực tế khách hàng rất thất vọng…
Rủi ro do thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Có thể nói, rất nhiều
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam hiện nay còn thiếu nhân viên có trình độ
nghiệp vụ ngoại thương, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự thiếu hiểu biết về
luật pháp và tập quán kinh doanh quốc tế mà biểu hiện là sự hố giá, nhầm chất
lượng, thiếu số lượng, vi phạm giao kết trong hợp đồng và L/C… Một khi trình độ
nghiệp vụ của nhân viên ngoại thương còn yếu kém thì họ dễ dàng bị mắc lừa và
hậu quả là rủi ro phát sinh thường xuyên và liên tục.
Nhóm rủi ro căn cứ theo qui trình thực hiện kinh doanh xuất khẩu
Rủi ro khi chào hàng: Việc doanh nghiệp thể hiện rõ ý định bán hàng của
mình. Trong mua bán quốc tế có hai loại chào hàng chính: chào hàng cố định và
chào hàng tự do.
Chào hàng cố định là việc chào bán một lô hàng nhất định cho người mua,
mà người chào hàng bị ràng buộc vào lời chào của mình.
Chào hàng tự do là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm đối với
người phát ra nó.
Những rủi ro thường gặp khi chào hàng: không nêu rõ tên hàng, phẩm chất,
giá cả, điều kiện giao hàng, thời gian hiệu lực không rõ ràng…
Rủi ro khi đàm phán: Trong mua bán quốc tế người ta chủ yếu sử dụng các
phương thức đàm phán như: đàm phán giao dịch qua thư tín, đàm phán giao dịch
qua điện thoại, đàm phán giao dịch trực tiếp, tùy theo hình thức đàm phán qua giao
dịch và sự thông thạo của người đàm phán mà doanh nghiệp có thể gặp những rủi ro
cơ bản sau:
10
- Đối với hình thức giao dịch qua thư từ: Đó là sự chuẩn bị kém về nội dung,
hình thức làm cho khách hàng có sự nhầm lẫn về ngôn ngữ hay nội dung mà người
bán muốn chuyển tải do có sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, tập quán kinh doanh.
đồng xuất khẩu với khách hàng nước ngoài rồi mới chuẩn bị hàng sau. Đó là các đại
lí giao hàng không đủ số lượng hoặc đủ số lượng nhưng chất lượng không đủ tiêu
chuẩn xuất khẩu, chưa kể những rủi ro khác như đột biến của giá mua, thiên tai…
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng không thể tránh khỏi những rủi ro về bảo quản, bao bì,
đóng gói, kí mã hiệu… nếu không có biện pháp phòng ngừa.
Rủi ro trong quá trình vận chuyển: Tuỳ theo từng loại hợp đồng và những
điều kiện cơ sở giao hàng mà mức độ rủi ro trong quá trình vận chuyển sẽ khác nhau.
Thông thường trong quá trình vận chuyển, doanh nghiệp thường gặp những rủi ro như:
thuê phương tiện vận tải không phù hợp với tính chất hàng hóa, chèn lót, sắp đặt không
đúng kỹ thuật,… hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thường được vận chuyển bằng
đường biển, song các nhân viên nghiệp vụ của doanh nghiệp lại chưa thông thạo về
nghiệp vụ thuê tàu. Nghiệp vụ vận tải của các nhân viên này còn yếu, chưa đáp ứng
yêu cầu thực tiễn. Rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa không phải là ít.
Rủi ro trong quá trình giao nhận: Rủi ro mà các doanh nghiệp thường gặp
trong quá trình giao nhận hàng xuất khẩu do những nguyên nhân chính sau:
- Thiếu thông tin về hãng tàu, lịch trình, địa điểm, chi nhánh, chuyển tải…
không chủ động trong việc chuẩn bị hàng để giao.
- Không nắm vững các khái niệm về thời gian xếp dỡ, thời gian tàu đến cảng
xếp hàng, do đó không chủ động giao hàng để tránh bị phạt do chậm xếp hàng.
- Không nắm vững kỹ thuật giao hàng, bố trí sắp xếp hàng hóa trên phương
tiện vận tải để đảm bảo chất lượng và số lượng được giao, không sử dụng đúng
trong hợp đồng.
- Chưa thông thạo các thủ tục hải quan, hoặc không chuẩn bị đầy đủ các
chứng từ cần thiết để tiến hành kiểm hóa, ảnh hưởng đến thời gian giao hàng.
- Không thông báo giao hàng cho khách hàng biết theo qui định của hợp đồng.
12
- Không chủ động trong việc thuê tàu vì “bán FOB, mua CIF”, nên các doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam thường gặp rủi ro trong quá trình giao nhận, nhất là làm
thế nào giao hàng phù hợp với L/C. Vì thế quá trình giao hàng được tiến hành trong
thời gian ngắn và cập rập là điều tất yếu dẫn đến rủi ro lớn.
rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những rủi ro của tổ chức, trên cơ sở
đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.
Phân tích rủi ro: Xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro trên cơ sở
mới tìm ra các biện pháp phòng ngừa.
Đo lường rủi ro: Thu thập số liệu và phân tích đánh giá. Tần suất xuất hiện
rủi ro là số lần xảy ra tổn thất trong một khoảng thời gian nhất định. Mức độ nghiêm
trọng của rủi ro tổn thất mất mát.
1.1.2.4. Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro
Kiểm soát rủi ro bao gồm các kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những chương
trình nhằm đến mục tiêu né trách, đề phòng và hạn chế hay nói cách khác là kiểm
soát tần suất, độ lớn của các tổn thất và các ảnh hưởng bất lợi khác của rủi ro.
Các chương trình kiểm soát rủi ro khác nhau ở mỗi tổ chức, tuy nhiên các tổ
chức có thể sử dụng công cụ và kỹ thuật được sắp xếp theo các nhóm sau:
Né tránh rủi ro là phương pháp kiểm soát rủi ro bằng cách né tránh những
hoạt động, con người, tài sản có khả năng làm phát sinh các tổn thất. Trước hết là
chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra và sau đó loại bỏ những nguyên nhân gây
ra rủi ro.
Ngăn ngừa tổn thất: Nhóm các biện pháp làm giảm bớt tổn thất; giảm tần
suất tổn thất xảy ra hoặc giảm mức thiệt hại khi tổn thất xảy ra. Hoạt động ngăn
ngừa rủi ro là tìm cách can thiệp vào ba mắc xích đầu tiên của chuỗi rủi ro: mối nguy
hiểm, môi trường rủi ro và sự tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường.
Giảm thiểu rủi ro: Nhóm các biện pháp này sử dụng khi rủi ro đã xảy ra, tấn
công vào các rủi ro nhằm làm giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất, giảm bớt sự
thiệt hại do rủi ro gây ra. Mặc dù sử dụng sau khi tổn thất đã xảy ra nhưng các biện
pháp này phải lập kế hoạch trước khi tổn thất xảy ra thì công việc mới có hiệu quả.
14
Phân chia rủi ro: Kỹ thuật cắt rời các rủi ro độc lập nhau để nếu xảy ra tổn
thất chúng không xảy ra hiện tượng dây chuyền. Một sự kiện đơn lẻ sẽ ít gây tổn
thất nặng nề hoặc làm ảnh hưởng lớn đối với hoạt động của tổ chức. Thí dụ, người
ta ngăn rừng thành thửa, mỗi thửa vài dặm vuông tách rời nhau đề phòng khi có hỏa
nợ càng nhiều rủi ro do vỡ nợ của doanh nghiệp càng lớn, từ đó lợi suất nhà đầu tư
càng cao.
+ Chi phí giao dịch và tổn thất do gián đoạn
Chi phí giao dịch và tổn thất do gián đoạn đều ảnh hưởng bất lợi đến hiện giá
của ngân lưu từ tái đầu tư. Chi phí giao dịch bao gồm các chi phí liên quan đến việc
phát hành chứng khoán, chi phí về pháp lý, chi phí xử lý hồ sơ trong công ty... Các
chi phí này làm sụt giảm ngân lưu mong đợi ở năm tổn thất xảy ra và hồi phục dần
về mức độ ổn định hơn các năm sau.
- Tài trợ trước tổn thất bằng bảo hiểm:
Bảo hiểm có 2 chức năng: Cung cấp nguồn tài chính tài trợ cho tái đầu tư, ổn
định dòng thu nhập của doanh nghiệp.
+ Phân tích trước tổn thất của bảo hiểm: Tài trợ trước tổn thất bằng bảo hiểm
sẽ tăng thêm giá trị của vốn cổ phần so với tài trợ nợ sau khi tổn thất xảy ra.
+ Bảo hiểm và chi phí vốn: Bảo hiểm sẽ giảm rủi ro cho doanh nghiệp, vì
vậy, nhà đầu tư sẵn lòng chấp nhận một lợi suất thấp hơn, từ đó làm giảm chi phí
vốn của doanh nghiệp.
+ Bảo hiểm về tổn thất do gián đoạn: Tổn thất do gián đoạn là tổn thất thu
nhập sau khi rủi ro xảy ra và không khôi phục lại được bằng biện pháp tái đầu tư.
Tuy nhiên, phương án tái đầu tư luôn được lựa chọn dù tài trợ bằng bảo hiểm hay
bằng nợ vì lãi suất tái đầu tư. Tuy nhiên, tài trợ bằng bảo hiểm được ưa thích hơn vì
lợi suất mong đợi của cổ đông thấp hơn phương án tài trợ bằng nợ.
+ Bảo hiểm tài sản dư thừa: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng cao, nhiều công ty lâm vào cảnh phá sản. Để
giảm thiểu rủi ro khi công ty vỡ nợ, bảo hiểm đã hỗ trợ một cách hiệu quả cho trái
16
chủ. Phí bảo hiểm là tiền của cổ đông bỏ ra nhưng lợi ích từ bảo hiểm thì được
chuyển một phần qua trái chủ dưới hình thức làm giảm rủi ro vỡ nợ.
1.2. Quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh xuất khẩu
1.2.1. Quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu
1.2.1.1. Giai đoạn chuẩn bị
hợp đồng.
• Hợp đồng thường do một bên soạn thảo, trước khi ký kết bên kia cần kiểm
tra kỹ lưỡng, đối chiếu với những thỏa thuận đã đạt được trong đàm phán.
1.2.2. Quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh xuất khẩu
1.2.2.1. Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán
Nếu thanh toán bằng L/C, người bán cần:
• Nhắc nhở người mua mở L/C theo đúng yêu cầu.
• Kiểm tra L/C.
• Sau khi kiểm tra L/C nếu thấy phù hợp với hợp đồng thì tiến hành giao
hàng còn không phù hợp thì thông báo ngay cho người mua và ngân hàng mở L/C,
để tu chỉnh, cho đến khi phù hợp thì tiến hành giao hàng.
Nếu thanh toán bằng CAD, người bán cần nhắc người mua mở tài khoản ký thác
đúng theo yêu cầu, khi tài khoản đã mở cần liên hệ với ngân hàng để kiểm tra điều kiện
thanh toán, cần chú ý tên các chứng từ cần xuất trình, người cấp, số bản… kiểm tra xong
nếu thấy phù hợp thì tiến hành giao hàng.
Nếu thanh toán TT trả trước, nhắc nhở người mua chuyển tiền đủ và đúng
hạn. Chờ ngân hàng báo có rồi mới tiến hành giao hàng.
Còn các phương thức thanh toán khác như TT trả sau, D/A, D/P thì người bán
phải giao hàng rồi mới có thể thực hiện được các công việc của khâu thanh toán.
1.2.2.2. Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu
Người xuất khẩu cần phải đi gom hàng cho đủ số lượng và chất lượng như
trong hợp đồng. Ngoài ra còn chuẩn bị trước các vấn đề như bao bì đóng gói, ký mã
hiệu, vận chuyển hàng hóa đến kho riêng hay đến cửa khẩu.
1.2.2.3. Kiểm tra hàng hóa để xuất khẩu
18
Trước khi giao hàng, người xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về
phẩm chất, số lượng và trọng lượng, nếu hàng xuất khẩu là nông, lâm, thủy sản cần
phải kiểm tra khả năng lây lan (tức là kiểm dịch).
Việc kiểm nghiệm, kiểm dịch được tiến hành ở hai cấp: cấp cơ sở và cấp cửa
khẩu. Trong đó việc kiểm tra cấp cơ sở đóng vai trò quyết định còn việc kiểm tra ở
• Làm giấy yêu cầu bảo hiểm.
• Đóng phí bảo hiểm và lấy chứng thư bảo hiểm.
1.2.2.8. Lập bộ chứng từ thanh toán
Sau khi giao hàng, người bán nhanh chóng lập bộ chứng từ thanh toán trình
khách hàng hoặc ngân hàng để đòi tiền. Nếu là thanh toán theo L/C thì phải làm
đúng như yêu cầu của L/C; còn nếu thanh toán theo các phương thức khác thì làm
chứng từ theo hướng dẫn giao hàng của khách hàng (shipping intrucstion). Một bộ
chúng từ thanh toán thường có những chứng từ như sau: vận đơn đường biển; giấy
chứng nhận bảo hiểm; hóa đơn thương mại; giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa;
giấy chứng nhận trọng lượng hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; phiếu
đóng gói hàng hóa; giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật.
1.2.2.9. Giải quyết khiếu nại nếu xảy ra
Khi nhận được hồ sơ khiếu nại của người mua hoặc các bên hữu quan khác,
người bán cần nghiêm túc, nhanh chóng nghiên cứu hồ sơ, tìm phương hướng giải
quyết một cách thỏa đáng.
1.3. Những bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu
thủy sản ở Việt Nam
1.3.1. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam gặp rủi ro trong
thanh toán
Vụ Thị trường châu Âu (Bộ Công thương) cho biết, một số doanh nghiệp
Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu cá ba sa và thủy sản khác sang các công ty nước
ngoài nhưng khi thanh toán tiền hàng đã gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có trường
hợp đã giao hàng mấy năm nhưng hiện vẫn chưa nhận được tiền thanh toán điển
20
hình như Công ty Hoogland Foods BV và Công ty Star Procurement Inc (Starcom
Co Inc) của Hà Lan.
Theo thông tin dữ liệu của Phòng Thương mại Hà Lan (cơ quan chịu trách
nhiệm đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ thông tin về
doanh nghiệp Hà Lan), Công ty Hoogland Foods BV là công ty của 1 người (ông
Gert.J Hoodlands), trụ sở công ty cũng là nhà riêng và Công ty Procurement Inc có
tâm ký hợp đồng mà cần chú ý tới khả năng chuyên doanh, số lượng nhân viên, tình
hình tài chính, các điều khoản hợp đồng mà khách hàng đưa ra,… Các doanh
nghiệp cần đặc biệt chú ý tư cách pháp nhân người/công ty giao dịch và người/công
ty đứng ra ký kết hợp đồng. Vừa qua, một số cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước
ngoài như: Pakixtan, Singapore, Hà Lan… cũng đã đăng tải thông tin cảnh báo về
việc doanh nghiệp Việt Nam không được thanh toán tiền hàng khi chấp nhận
phương thức thanh toán D/A, D/P, đặc biệt là giao dịch với những đối tác mới [13].
1.3.2. Phòng ngừa rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường Bê-nanh
Thời gian qua, Thương vụ Việt Nam tại Marốc (kiêm nhiệm thị trường Bê-
nanh) đã nhận được nhiều thư của doanh nghiệp trong nước đề nghị điều tra về các
đối tác thương mại tại nước Cộng hòa Bê-nanh. Qua xác minh thực tế và làm việc
với Đại sứ quán Bê-nanh tại Marốc, Thương vụ được biết một số người tại Bê-nanh
chuyên giả danh doanh nghiệp để lừa đảo các công ty nước ngoài và đã có doanh
nghiệp Việt Nam bị lừa mất tiền. Dưới đây là một số thông tin về thị trường Bê-
nanh và các biện pháp phòng ngừa rủi ro để các doanh nghiệp tham khảo.
Một số quy định thương mại của Bê-nanh
Bê-nanh là quốc gia có quy định xuất nhập khẩu rất thông thoáng. Các điều
kiện hoạt động buôn bán tại Bê-nanh được quy định trong Luật số 90-005 ngày
15/5/1990 của nước này như sau:
- Mọi hoạt động thương mại hoặc cung ứng dịch vụ mang tính thương mại
đều được tự do tại Bê-nanh.
22
- Tự do nhập khẩu vào Bê-nanh mọi hàng hóa trừ một số mặt hàng có thể
gây tổn hại đến an ninh quốc gia, sức khỏe cộng đồng, thuần phong mỹ tục hoặc sản
phẩm mang tính chiến lược.
- Không có quy định về ngoại thương nào của Bê-nanh bắt buộc việc nhập
khẩu hàng hóa vào nước này đòi hỏi phải gửi mẫu sản phẩm trước. Các nhà xuất khẩu
nên cảnh giác với cái bẫy yêu cầu gửi hàng mẫu bắt buộc.
- Tại Bê-nanh không tồn tại Hội đồng kiểm tra hàng xuất khẩu trước khi đưa
hàng lên tàu ra nước ngoài, nhưng có một cơ quan phụ trách giám định và kiểm tra
nhưng thay đổi số điện thoại, số fax và số tài khoản.
Những biện pháp phòng ngừa rủi ro
Để phòng ngừa rủi ro khi xuất khẩu sang Bê-nanh, các doanh nghiệp cần chú
ý: Tìm hiểu thông tin về sự tồn tại trên thực tế của công ty mà mình muốn thiết lập
quan hệ thương mại. Trong trường hợp này, có thể tra cứu danh bạ các doanh
nghiệp đặt tại Bê-nanh trên trang web của Phòng Thương mại và Công nghiệp Bê-
nanh (CCIB) www.ccib.bj (mục répertoire des entreprise/ Télécherement) hoặc liên
lạc trực tiếp với Trung tâm Thủ tục Doanh nghiệp nằm trong CCIB tại Cotonou.
Trường hợp công ty không đăng ký tại CCIB, cần tìm hiểu thông tin tại Phòng thư
ký Tòa thương mại sơ thẩm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần đảm bảo chắc chắn rằng người quản lý công ty
đóng tại Bê-nanh phải là người có thẻ thương nhân hoặc thẻ nhập khẩu chuyên
nghiệp đích thực và thẻ này vẫn còn giá trị. Doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu
về doanh nghiệp Bê-nanh bằng cách yêu cầu đối tác cung cấp địa chỉ đầy đủ ngân
hàng nơi doanh nghiệp đó mở tài khoản để tiện đối chiếu và trực tiếp hỏi thông tin
(Doanh nghiệp Bê-nanh thường chỉ cung cấp tên ngân hàng uy tín nhưng ghi sai địa
chỉ, số điện thoại, fax).
Bê-nanh là một nước nói tiếng Pháp, do vậy các văn bản hành chính chính
thức như giấy phép đăng ký kinh doanh phải viết bằng tiếng Pháp. Việc gửi thư điện
tử tới các cơ quan công quyền thường không nhận được trả lời, do vậy, để tìm hiểu
đối tác, doanh nghiệp nên gửi fax hoặc gọi điện trực tiếp tới các cơ quan này [20].
24
1.3.3. Thông tin không chính xác về sản phẩm nhằm đánh tụt uy tín của đối
thủ là một "đòn" đang được sử dụng khá phổ biến
Việc đưa tin không chính xác về chất lượng hàng thủy sản Việt Nam tại các
thị trường xuất khẩu, cùng với các rủi ro khác trong quá trình xuất khẩu đang làm
cho hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng này bị ảnh hưởng không
nhỏ. Để hạn chế tình trạng này, theo các chuyên gia, các doanh nghiệp và cơ quan
chức năng cần chủ động công bố thông tin cũng như quản lý chất lượng thủy sản ở
tất cả các khâu.
thực vật.
Theo các chuyên gia, cùng với chủ động công bố thông tin, cần tiếp tục siết
mạnh quản lý chất lượng thủy sản ngay từ khâu nuôi trồng, chất lượng thức ăn, chế
biến, bảo quản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Phó Tổng thư ký Hội nghề cá
Việt Nam Bùi Văn Thưởng nhấn mạnh cần xử lý nghiêm các hành vi gian dối trong
quá trình nuôi, chế biến thủy hải sản, tránh xảy ra tình trạng không trung thực của
một vài cá nhân, doanh nghiệp mà ảnh hưởng đến toàn ngành.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng cần có cơ chế khuyến khích
chuyển mạnh sang các mô hình nuôi trồng, chế biến sản phẩm sạch. Để nâng cao
chất lượng cá tra, Chính phủ vừa chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
soạn thảo "Đề án nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long bền vững". Với một
loạt các biện pháp kiểm soát từ khâu môi trường nuôi, con giống, đến thu hoạch,
chế biến, hy vọng khi đề án này triển khai sẽ tạo bước đột phá trong nâng cao chất
lượng cá tra.
Chủ động đối phó rủi ro
Các chuyên gia cho rằng cần chủ động hơn trong nắm bắt diễn biến các thị
trường, nhất là những thị trường xuất khẩu thủy sản trọng điểm nhằm xây dựng kịch
bản đối phó sớm với những tranh chấp có thể phát sinh thì mới giảm thiểu được rủi
ro cho nông sản xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Như Tiệp, chuyện tranh chấp tay đôi giữa đối tác nước
ngoài với các ngành hàng của Việt Nam sẽ ngày một diễn biến phức tạp. Đây là xu