Thực trạng và phương hướng phát triển nông nghiệp VN - Pdf 82

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lời nói đầu
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đờng tất yếu phải tiến hành đối với bất
cứ nớc nào, nhất là những nớc có xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp kém
phát triển muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, công
nghiệp nông thôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, có quan hệ mật thiết với sự
phát triển kinh tế xã hội nông thôn, khái niệm công nghiệp nông thôn mức chỉ nêu
ra từ những năm 70 thập kỷ này nhng thực tế công nghiệp nông thôn đã đợc hình
thành nh một thực thể kinh tế độc lập với các trình độ phát triển khác nhau, gắn
liền với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn từ rất lâu.
Hiện nay ở nhiều nớc, nhất là các nớc đang phát triển, phát triển công nghiệp
nông thôn đợc coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lợc lâu dài. Đối với Việt Nam
một quốc gia lạc hậu, 80% dân số sống ở khu vực nông thôn với một cơ cấu kinh
tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm rất bức bách.
Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn đờng
lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta, trong đó đặc biệt coi trọng phát triển
công nghiệp nông thôn, từ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực hiện công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Từ thực tiễn và trên cơ sở tham khảo ý kiến của giáo viên hớng dẫn, các cán
bộ công tác tại Vụ Công nghiệp Bộ Kế hoạch Đầu t, em đã xác định đề tài nghiên
cứu sau: Một số biện pháp phát triển công nghiệp nông thôn từ nay đến năm
2010.
Với đề tài này, em mong góp phần vào những cố gắng chung đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông thôn trong công cuộc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nớc.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 phần:
Chơng I - Cơ sở lý luận về công nghiệp nông thôn
Chơng II - Thực trạng công nghiệp nông thôn Việt Nam
Chơng III - Phơng hớng, mục tiêu và giải pháp phát triển công nghiệp
nông thôn Việt Nam đến năm 2010.

- Về mặt văn hoá, nông thôn thờng là nơi bảo tồn và lu giữ đợc nhiều di sản
văn hoá của mỗi quốc gia nh phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, các
ngành nghề cổ truyền, y phục nhà ở di tích văn hoá, lịch sử, danh lam thắng
cảnh... Nông thôn là kho tàng văn hoá dân tộc, là nơi nghỉ ngơi và du lịch xanh
hấp dẫn đối với dân đô thị trong và ngoài nớc.
- Về trình độ văn hoá, khoa học công nghệ hay mặt cơ sở hạ tầng, nông thôn
còn thấp, thua xa so với thành thị.
Trong quá trình công nghiệp hoá ở các nớc đang phát triển, vấn đề công
nghiệp hoá nông thôn xuất hiện làm nảy sinh khái niệm và tiêu chí cụ thể của
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nông thôn trong khi đó, cha có tiêu chí cụ thể về nông thôn thì trớc mắt tạm chấp
nhận tiêu chí về đô thị từ đó suy ra tiêu chí của nông thôn. ở Việt Nam, chính phủ
ra quyết định số 132 HĐBT quy định nớc ta có 5 loại đô thị:
Biểu 1 - Tiêu chí loại đô thị
Tiêu chí
Đô thị
Số dân
Tỷ lệ lao động
ngoài NN
Mật độ dân c
Đô thị loại 1 > 1 triệu > 90% > 15.000 ngời/km
2
Đô thị loại 2 350.000 - 1 triệu > 80% > 12.000 ngời/km
2
Đô thị loại 3 100.000 - 350.000 > 70% > 10.000 ngời/km
2
Đô thị loại 4 30.000 - 100.000 > 70% > 8.000 ngời/km
2
Đô thị loại 5 4.000 - 30.000 > 60% > 600 ngời/km

cả chất lợng nữa.
Vậy, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành nền kinh tế, gồm các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
phản ánh ở hai mặt chất và lợng. Còn cơ cấu kinh tế của một nớc là tổng thể các
quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế với quy mô, trình độ công
nghệ, tỷ trọng tơng ứng từng bộ phận và sự tơng tác giữa các bộ phận ấy, gắn với
điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế đã
đợc xác địh.
Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn ở mối quan hệ giữa các ngành mang tính
cố định mà luôn luôn biến động, không có một khuôn mẫu mà tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể theo không gian và thời gian. Vì vậy, cơ cấu kinh tế không cố định lâu
dài mà nó phải có những thay đổi cần thiết, thích hợp với sự thay đổi của điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội.
Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu mà chỉ là ph-
ơng tiện nhằm tăng trởng và phát triển kinh tế. Vậy nên chuyển dịch cơ cấu kinh
tế không phải là sự mong muốn chủ quan mà nó là một quá trình phát triển tất yếu.
Tuy nhiên một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả thì vai trò quản lý cũng rất quan
trọng, đặc biệt việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý cho giai đoạn hiện tại cũng
nh thời gian tới nhằm đạt đợc mục tiêu tăng trởng và phát triển đã đề ra.
3-/ Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông thôn.
Nông thôn là một trong hai khu vực kinh tế đặc trng của nền kinh tế quốc
dân, khu vực kinh tế đô thị và khu vực kinh tế nông thôn. Kinh tế nông thôn bao
gồm các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp liên quan đến sản xuất nông
nghiệp nh công nghiệp chế biến, các ngành tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch
vụ ở nông thôn. Khu vực kinh tế nông thôn sản xuất vật chất cung cấp cho xã hội
những sản phẩm lơng thực thực phẩm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, nuôi
sống con ngời. Những nhu cầu này không gì có thể thay đổi mặc dù rồi đây khoa
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
học kỹ thuật, kinh tế xã hội có phát triển đến mấy, tỷ trọng của cải vật chất đóng

nghiệp sẽ đợc chế biến tạo nên những hàng hoá có chất lợng và giá trị cao kích
thích tiêu dùng xã hội tăng lên, từ đó quay lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Việc thay đổi này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý và tạo điều kiện thúc đẩy sự
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển của các ngành. Cơ cấu kinh tế nông thôn phân theo ngành: nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chế biến nông lâm thuỷ hải sản, sản xuất vật liệu xây
dựng, điện, cơ khí.
- Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ: là thể hiện sự phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ trên phạm vi nông thôn nhằm xác lập cơ cấu kinh tế bằng việc bố trí các
ngành sản xuất nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của từng vùng.
Nhìn lại cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam đợc tổ chức gắn với các ngành
nghề và lãnh thổ có thể phân ra nh sau:
(1) Làng xã thuần nông nghiệp.
(2) Làng nông nghiệp, kiêm thêm nghề phụ
(3) Làng chuyên các ngành nghề truyền thống, thí dụ nh làng gốm sứ, làng
dệt, làng thêu ren, làng sơn mài, làng nghề chạm khắc bạc và gỗ, làng tranh, làng
luyện đúc kim loại...
(4) Làng nghề mới hình thành (ven đô thị, ven các trục đờng giao thông) thí
dụ nh các làng vận tải, làng xây dựng, làng may mặc, làng làm đồ da dụng cao
cấp, làng vật liệu xây dựng, làng chế biến và cung cấp thực phẩm cho các thành
phẩm.
(5) Các cơ sở và doanh nghiệp phi nông nghiệp (trang trại, xí nghiệp phi
nông nghiệp ở các thị trấn thi tử) thờng là quy mô nhỏ, thí dụ nh các trạm giống,
trạm sửa chữa cơ khí, ngân hàng huyện, chi nhánh điện, hạt giao thông, bu điện,
trờng học, y tế.
(6) Các xí nghiệp dịch vụ thơng mại của tỉnh.
(7) Các xí nghiệp dịch vụ thơng mại Trung ơng đặt tại địa bàn nông thôn
Trong cơ cấu kinh tế nông thôn hiện tại ở Việt Nam, một thực thể bao gồm
các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn với phạm vi trải rộng từ các dạng hình

thôn, bao gồm nhiều ngành nghề đan xen chặt chẽ với kinh tế nông thôn, nhất là
sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp nông thôn không phải là toàn bộ các hoạt
động phi nông nghiệp hoặc bó hẹp trong các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở
nông thôn, mà bao gồm bộ phận sản xuất công nghiệp và các dịch vụ có tính chất
công nghiệp ở nông thôn của thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên
nghiệp, các doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã, các
tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp
quốc doanh chế biến lơng thực thực phẩm hoặc các xí nghiệp công nghiệp khác,
quy mô vừa và nhỏ mà hoạt động của nó trực tiếp gắn với kinh tế nông thôn.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung của công
nghiệp hoá, là bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội ở khu vực nông thôn. Nó tác động tích cực và hiệu quả tới toàn bộ sự
phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng
hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Công nghiệp hoá nông thôn là khái niệm để chỉ quá trình biến đổi của công
nghiệp nông thôn từ chỗ là các hoạt động kinh tế phụ trong cơ cấu kinh tế thuần
nông truyền thống trở thành ngành sản xuất chính trong cơ cấu kinh tế mới ở nông
thôn theo hớng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp, gia tăng tỷ trọng của phi nông
nghiệp, bao gồm công nghiệp, xây dựng, thơng nghiệp, dịch vụ trên địa bàn.
Công nghiệp hoá nông thôn phải bắt đầu từ biến đổi của chính bản thân sản xuất
nông nghiệp thông qua việc tạo ra những tiền đề về năng suất lao động d thừa đủ để
hình thành, duy trì và phát triển những hoạt động công nghiệp chuyên ngành.
Công nghiệp hoá nông thôn chỉ ra quá trình thay đổi và những nỗ lực đa
ngành ở tầm vĩ mô từ các cơ quan Nhà nớc các cấp nhằm biến đổi toàn bộ cơ cấu
kinh tế ở các vùng nông thôn mà trớc hết là của sản xuất nông nghiệp. Công
nghiệp nông thôn biểu thị sự vận động nội tại của chính bản thân nông thôn bắt
đầu từ sản xuất nông nghiệp đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của thị trờng. Từ quan
điểm phục vụ phát triển nông thôn, hai khái niệm công nghiệp nông thôn và công

3-/ Vai trò công nghiệp nông thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực
hiện công nghiệp hoá.
3.1. Nội dung, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Nghị quyết TW 5 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đa ra nội dung của chơng
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, chủ yếu là:
- Đổi mới cơ cấu kinh tế nông lâm ng nghiệp để khai thác các tiềm năng
nông nghiệp về lao động, đất đai, rừng và biển theo phơng thức hợp lý và hiệu quả
nhất.
- Cải tổ cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với mục tiêu công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông thôn.
- Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng gắn với đô thị hoá nông thôn.
Sự chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trờng là điều kiện, tiền
đề cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Quá trình chuyển đổi ở nông thôn đ-
ợc thực hiện một cách có hệ thống bằng các cuộc cải cách pháp lý, thể chế và cải
cách tài chính Nhà nớc.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục tiêu phát triển của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là sử
dụng toàn bộ các tiềm năng về đất và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và phi
nông nghiệp ở nông thôn, hớng vào tạo việc làm và nâng cao hiệu quả đầu t. Các
mục tiêu cụ thể là:
- Tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và văn hoá cho nhân
dân nông thôn nói chung và cho nông dân nói riêng.
- Từng bớc chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác.
- Tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ nông thôn nhằm đạt tỷ lệ các ngành nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong kinh tế nông thôn Việt Nam tới năm 2010 t-
ơng ứng khoản 50:25:25%.
- Tạo một nền kinh tế nông thôn ổn định, phát triển góp phần tích luỹ cho
công nghiệp hoá đất nớc nói chung.
Nh vậy chơng trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn sẽ làm thay đổi căn

so sánh năm 1994.
Năm
Ngành
1994 1995 1996 1997 1998
Tổng số 100 109,5 109,3 108,2 105,8
- Nông lâm thuỷ sản 100 104,8 104,4 104,2 102,7
- Công nghiệp 100 113,9 113,9 113,1 110,9
- Xây dựng 100 112,7 116,1 111,3 108,4
- Dịch vụ 100 109,8 108,8 107,1 104,2
Nguồn: Vụ tổng hợp thông tin - Tổng cục Thống kê
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cha đi vào chiều sâu và cha đạt hiệu quả cao,
biểu hiện là chuyển dịch cơ cấu kinh tế cha gắn liền với chuyển dịch cơ cấu lao
động. Vì vậy, tình trạng cha sử dụng hết lao động không những không đợc cải
thiện mà còn có chiều hớng xấu đi. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu t thì
hiện nay lực lợng lao động ở nớc ta tăng lên đáng kể, năm 1995 tăng lên 17,6% so
với năm 1991 (41,3 triệu ngời so với 35,2 triệu ngời). Số lao động ở độ tuổi lao
động có khả năng lao động tăng 14,6% (39,3 triệu so với 34,3 triệu ngời năm
1991). Trong đó lao động khu vực thành thị là 23,4% năm 1991 tăng lên 23,9%
năm 1995, lao động khu vực nông thôn 76,6% năm 1991 và giảm xuống 76,08%
năm 1995 (29,9 triệu ngời).
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Số ngời lao động tham gia nền kinh tế năm 1995 là 35,2 triệu ngời năm 1991
là 30,3 triệu ngời. Tỷ lệ lao động tham gia nền kinh tế năm 1995 là 89,6%, năm
1991 là 88,4%. Xét theo cơ cấu thì năm 1995 tỷ lệ lao động làm việc trong ngành
công nghiệp và xây dựng là 14% so với 13,9% (1991), lao động trong ngành nông
lâm ng nghiệp là 72% (1995) so với 72,3% (1991). Theo số liệu điều tra về cơ cấu
ngành nghề của hộ nông thôn cả nớc năm 1994 thì tỷ lệ hộ nông nghiệp còn cao
hơn là 80,6%, còn hộ phi nông nghiệp chiếm 19,4% trong tổng số hộ nông thôn.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết TW5, cơ cấu kinh tế nông thôn nớc ta đã có

Biểu 4 - Cơ cấu GDP cả nớc và cơ cấu GDP nông thôn.
Năm
Ngành
Cơ cấu GDP cả nớc Cơ cấu GDP nông thôn
1996 1997 1998 1996 1997 1998
- Nông nghiệp 30,74 31,23 32,0 14,7 15,5 15,9
- Lâm nghiệp 27,2 26,22 25,7 71,5 70,8 70,3
- Thuỷ sản 24,06 43,55 42,55 13,8 13,7 13,8
Nguồn: Thông tin tài chính số 23/11/98 trang 6.
Thời gian qua do thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn số hộ và lao
động trong nông nghiệp có xu hớng giảm. Nhiều hộ đã có xu hớng chuyển sang
các hoạt động phi nông nghiệp. Năm 1994, cả nớc có khoảng 12 triệu hộ sinh sống
ở nông thôn, trong đó gồm 2 triệu hộ làm phi nông nghiệp. Hiện nay, tốc độ phát
triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn còn ở mức thấp biểu hiện ở
tỷ lệ hộ gia đình lâm nghiệp và hộ phi nông nghiệp ở một số vùng trong cả nớc
cho thấy:
biểu 5 - Tỷ lệ hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp.
Tỷ số
Cả nớc
MN TD
Bắc Bộ
DB Sông
Hồng
Khu IV

DH Miền
Trung
TN DNB DBSCL
100 100 100 100 100 100 100 100
Hộ nông nghiệp 80,6 91,4 92,2 83,0 75,6 77,9 51,0 72,1

nông nghiệp, sử dụng vốn tiết kiệm cho nông nghiệp thúc đẩy công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông nghiệp.
Hiện nay, giá trị sản phẩm công nghiệp nông thôn có xu thế tăng dần cả về
số tuyệt đối lẫn tơng đối. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp nông thôn trong
cơ cấu kinh tế nông thôn từ chỗ thấp hơn tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp,
tiến lên bằng rồi vợt nông nghiệp.
Điểm mấu chốt của công cuộc phát triển nông thôn theo quan điểm bền vững
và tích cực là phát triển và chuyển dịch nền kinh tế nông thôn từ kinh tế thuần nông
sang cơ cấu kinh tế công nông nghiệp và dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn. Hoạt
động kinh tế của lao động nông thôn có sự chuyển dịch không phải từ khu vực địa
lý này sang khu vực địa lý khác, mà là chuyển dịch từ khu vực kinh tế nông nghiệp
sang khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ ngay tại nông thôn.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đại bộ phận tài nguyên, thiên nhiên, nhân lực, các ngành nghề truyền thống
của Việt Nam đều phân bố ở những vùng nông thôn. Trong bối cảnh đó việc đa
các nguồn tài nguyên này vào quá trình công nghiệp hoá toàn quốc tất yếu phải
thông qua các hoạt động của công nghiệp nông thôn. Khi tiến hành thực hiện công
nghiệp hoá đất nớc, công nghiệp nông thôn đã đóng góp những mặt chủ yếu sau:
(1) Phân bố lại lao động, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập và sức
mua cho thị trờng nông thôn. Khi việc làm ở nông thôn không đợc tạo ra thì vấn
đề di dân ra đô thị trở nên nặng nề. Thực tế ở Việt Nam cho thấy nạn thất nghiệp
và thiếu việc làm ở nông thôn đã vợt ra khỏi phạm vi nông thôn và ảnh hởng rất rõ
đến vùng đô thị, gây ra nhiều vấn đề mà bản thân đô thị không thể tự giải quyết đ-
ợc nếu không bắt đầu bằng phát triển sản xuất, giải quyết việc làm tại nông thôn.
Tạo công ăn việc làm cho lao động tại chỗ trong khu vực nông thôn trong d
thừa lớn hiện nay và sẽ còn tăng thêm trong tơng lai (do quỹ đất nông nghiệp quá
hạn hẹp, tốc độ tăng dân số còn cao). Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và
dịch vụ công nghiệp có khả năng chuyển lao động d thừa từ nông nghiệp sang, góp
phần phân công lại lao động hợp lý trong nông thôn. Đây là xu hớng hợp quy luật,

các khía cạnh ngành và các khía cạnh lãnh thổ trong một quá trình công nghiệp
hoá thống nhất, cơ cấu ngành kinh tế xã hội hài hoà.
(4) Tăng cờng tính bền vững trong quá trình công nghiệp hoá theo nghĩa đảm
bảo cơ sở vững chắc cho tăng trởng kinh tế trong nớc trớc những biến động thất th-
ờng của thị trờng thế giới. Chỉ khi nào xây dựng đợc một nền kinh tế công nghiệp
hoá liên kết vững chắc với sản xuất nông nghiệp trong nớc, đủ sức tự đứng vững và
phát triển thì mới có thể hớng nền kinh tế vào quỹ đạo gia tăng xuất khẩu.
(5) Đẩy mạnh công nghiệp hoá nông thôn sẽ góp phần hiện đại hoá nông
thôn, giảm bớt khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn,
bảo đảm công bằng xã hội, tạo những cơ hội sống không quá khác nhau cho mọi
công dân bất kể ngời đó sinh ra ở nông thôn hay thành thị.
(6) Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống thông qua
quá trình công nghiệp hoá nông thôn sẽ là cơ hội để củng cố, tăng cờng và phát
huy những giá trị văn hoá truyền thống dân tộc thể hiện ở các mặt hàng đợc chế
biến bởi bàn tay khéo léo, khối óc tinh tế của ngời thợ thủ công Việt Nam, giới
thiệu những nét đẹp, độc đáo của văn hoá Việt Nam với bè bạn thế giới.
Nét phổ biến là công nghiệp nông thôn phát triển nhanh có hiệu quả trên các
vùng đất ít ngời đầy, đặt biệt là khu vực vốn có các làng nghề truyền thống, ngành
có lịch sử từ 300 đến 1000 năm tạo ra sản phẩm tinh xảo, mang bản sắc dân tộc,
có giá trị văn hoá nghệ thuật cao đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất, xuất khẩu nh
khảm chạm gỗ, chạm bạc, gấm mỹ nghệ, sơn mài, khảm trai. Phát triển công
nghiệp nông thôn sẽ phát huy và duy trì đợc những làng nghề truyền thống cũng
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nh gia trị văn hoá nghệ thuật của dân tộc qua các đờng nét trạm trổ điêu luyện của
các nghệ nhân.
Tóm lại, công nghiệp nông thôn có vai trò ngày càng to lớn, hiện đang thu
hút khoảng 60% tổng số lao động và 40% giá trị tổng sản lợng của tiểu thủ công
nghiệp trong cả nớc. Công nghiệp nông thôn thúc đẩy sự hình thành hoàn thiện và
mở rộng thị trờng, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng quy mô của quá

tầng, ngoài việc chia từng giai đoạn cho toàn xã hội Việt Nam; phân tầng theo sự
phát triển và thực trạng của mỗi khu vực, có nh vậy tính khả thi mới cao.
(4) Môi trờng sinh thái là vấn đề vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội.
Nếu không đề cập đến vấn đề này thì sự bùng nổ ngành nghề ở nông thôn sẽ tạo
điều kiện phá hoại môi trờng sinh thái, mà hậu quả của nó để lại rất lâu dài đến thế
hệ sau vẫn phải gánh chịu.
(5) Vấn đề xã hội về giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn đang trở nên
bức thiết, trong khi lực lợng lao động hàng năm tăng thêm vẫn giữ tỷ lệ cao.
(6) Những cản trở về mặt nhận thức dẫn đến khó khăn lớn trong hoạch định
và thực hiện chính sách phát triển công nghiệp nông thôn nói riêng và quá trình
công nghiệp hoá nói chung: thiếu nghiên cứu nhu cầu thực tế từng địa phơng do
không nghiên cứu thị trờng, không xem xét kỹ thực trạng kinh tế nông thôn ở khu
vực hoạch định, nhận thức về các khái niệm công nghiệp nông thôn hay công
nghiệp hoá nông thôn có nhiều khác biệt, cha có chính sách hiệu quả hỗ trợ cho
các doanh nghiệp, các hộ tiểu thủ công nghiệp để đạt mục tiêu phát triển công
nghiệp nông thôn.
IV-/ Những điều kiện tiền đề cho công nghiệp hoá nông thôn.
(1) Phân công lao động trong nông thôn phải thực sự diễn ra theo hớng ngời
nào giỏi nghề nào thì làm nghề đó. Ngời không có khả năng và không kiếm sống
bằng nghề nông thì chuyển sang làm nghề khác. Việc đáp ứng yêu cầu này rõ ràng
có liên quan đến vấn đề sở hữu ruộng đất nông nghiệp ở nông thôn. Một chế độ sở
hữu ruộng đất không triệt để (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, nhợng bán) hoặc
quá cứng nhắc về quyền chiếm hữu sẽ cột chặt ngời nông dân vào ruộng đất không
tạo ra một bộ phận nông dân sẵn sàng rời bỏ nông nghiệp chuyển sang hoạt động
phi nông nghiệp. Muốn vậy, cần có thể chế tồn tại thị trờng, trao đổi và chuyển
nhợng ruộng đất và thị trờng lao động trong nông thôn.
(2) Năng suất lao động trong nông nghiệp phải đủ cao để nuôi sống số ngời
không có việc làm nông nghiệp, nhng cha tìm đợc việc làm phi nông nghiệp mà
vẫn không phải quay về làm nghề nông. Hiện nay trong nông thôn Việt Nam một
số ngành nghề thủ công nghiệp vẫn chỉ là ngành nghề phụ ở nông thôn, điều kiện

màu sắc Trung Quốc đã góp phần đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hoá đất nớc làm
giảm sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, đời sống công nhân nông dân.
Xí nghiệp hơng trấn là các xí nghiệp do dân lập nên với sự giúp đỡ của Nhà
nớc, dùng vốn tích luỹ của họ để tổ chức sản xuất kinh doanh và họ tự quản lý
theo cơ chế thị trờng, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi xí nghiệp hơng trấn có trong
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều thành phần kinh tế, có các xí nghiệp tập thể của xã, thôn, xí nghiệp cá thể
hay liên doanh khác. Việc hình thành xí nghiệp hơng trấn đã thu hút hơn 100 triệu
lao động nông nghiệp trên địa bàn nông thôn chuyển sang hoạt động công nghiepẹ
dịch vụ lại các công xởng công nghiệp địa phơng ngay tạy các làng xã. Xí nghiệp
hơng trấn sản xuất thủ công nghiệp và chế biến sản phẩm phụ nông nghiệp, công
nghiệp, kiến trúc, giao thông vận tải và ngành dịch vụ thơng nghiệp diễn ra trên
địa bàn nông thôn.
Sự phát triển xí nghiệp hơng trấn đã tăng cờng thực lực kinh tế nông thôn,
tăng đầu t cho nông thôn. Xí nghiệp hơng trấn trích lợi nhuận xây dựng công việc
nông thôn dới hình thức lấy công bù nông, lấy công dựng nông. Phát triển công
nghiệp hơng trấn sẽ tăng thêm thu nhập cho nông dân, từ đó làm tăng thực lực đầu
t của nông dân vào nông nghiệp. Xí nghiệp hơng trấn tiến hành xây dựng hàng loạt
các xí nghiệp chi viện cho nông nghiệp nh các xởng sửa chữa công cụ vừa và nhỏ,
xởng hoá chất dùng cho nông nghiệp... trực tiếp phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, tăng thêm việc cung ứng có hiệu quả của t liệu sản xuất cho nông nghiệp.
Xí nghiệp hơng trấn đã chuyển dịch khối lợng lớn sức lao động dôi thừa của
nông nghiệp trong 10 năm, xí nghiệp hơng trấn đã chuyển dịch đợc gần 70 triệu
lao động d thừa, tính ra mức bình quân ruộng đất cho mỗi lao động hiện nay là
3,5ha thì bằng dôi ra đợc trên 200 triệu ha . Sự dịch chuyển lớn lao động nông
nghiệp dôi thừa sang làm công nghiệp dịch vụ đã nâng cao năng suất lao động
trong nông nghiệp, tạo điều kiện để kinh doanh nông nghiệp một cách quy mô
hơn, tạo điều kiện để hiện đại hoá nông nghiệp.
Xí nghiệp hơng trấn phát triển gắn liền với một cơ chế linh hoạt, cung ứng

thành lập trung tâm công nghiệp huyện hỗ trợ cho các xí nghiệp nông thôn, nó
nghiên cứu tiềm năng tài nguyên khu vực, cng cấp máy móc thiết bị, phân bố tín
dụng nhận đợc ở ngân hàng, giúp đỡ hoạt động thơng mại, công tác đào tạo, huấn
luyện thanh niên nông thôn để tự mình kiếm công ăn việc làm.
ấn Độ chú trọng bảo tồn và phát triển triển các ngành thủ công mỹ nghệ, tinh
hoa của dân tộc, tạo u thế vơn ra thế giới. Chính phủ thành lập các trung tâm công
nghệ và thiết kế mẫu các mặt hàng thủ công nghiệp phù hợp thị hiếu của khách hàng
các trung tâm chuyên nâng cao tay nghề cho thợ cả giữ gìn, khôi phục các nghề thủ
công cổ truyền, bồi dỡng tay nghề các nghệ nhân. Có nh vậy, phát triển công nghiệp
nông thôn ấn Độ mới có bộ mặt sáng sủa nh ngày nay.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chơng ii
thực trạng công nghiệp nông thôn Việt Nam
i-/ Thực trạng kinh tế nông thôn.
1. Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn bao gồm nông lâm thuỷ sản có
tốc độ tăng nhanh và liên tục, bình quân 4,5%/năm cao hơn nhiều so với mức tăng
thời kỳ trớc đó. Thành tựu nổi bật nhất là sản xuất lơng thực tăng nhanh và liên
tục. Từ năm 1989 - 1999 bình quân mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn lơng thực bảo
đảm an ninh lơng thực quốc gia và góp phần xuất khẩu. Bên cạnh ngành sản xuất
lơng thực xuất hiện một số ngành sản xuất hàng hoá đáp ứng thị trờng trong nớc
và xuất khẩu, bớc đầu có chỗ đứng trên thị trờng quốc tế với kim ngạch xuất khẩu
khá nh cà phê, cao su, hạt điều..., các loại cây ăn quả, mía đờng, bông vải... cũng
khá phát triển. Chăm sóc bảo vệ trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc có tiến bộ bớc
đầu chặn đứng đợc tình trạng sa sút về diện tích rừng. Kim ngạch xuất khẩu nông
lâm sản 10 năm qua từ 1989 đến 1999 đạt trên 15 tỷ đô la, bình quân hàng năm
tăng 20%, cụ thể xuất khẩu 22 triệu tấn gạo, 1,9 triệu tấn cà phê, hơn 1 triệu tấn
cao su mủ khô. So với năm 1989 khối lợng xuất khẩu năm 1999: gạo gấp 2, 67 lần,
cà phê 7 lần, cao su mủ kho 3,4 lần. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm
1998 ớc đạt 2.600 triệu đô la gấp 3,2 lần năm 1989.

Lâm nghiệp 109,6 92,1 95,6 108,3
Thuỷ sản 113,8 107,9 112,3 112
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Biểu 8 - Cơ cấu ngành nông lâm thuỷ sản (%)
1994 1995 1996 1997 1998
Nông lâm thuỷ sản 100 100 100 100 100
Nông nghiệp 85,3 84,3 84,8 84,6 83,4
Lâm nghiệp 6,5 6,8 6,0 5,5 5,8
Thuỷ sản 8,2 8,9 9,2 9,9 10,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Do khởi điểm của ngành nông lâm thuỷ sản ở mức thấp, trang thiết bị công
nghệ sản xuất lại thô sơ, hậu quả nhiều năm chiến tranh nên lơng giá trị tăng cha
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cao, cả về trồng trọt, chăn nuôi hay các ngành nghề khác, trong khi vấn đề bức xúc
tăng dân số hàng năm 1,76% dẫn đến lợng tích luỹ tái sản xuất thấp, năng suất lao
động lẫn năng suất đất đai ở nông thôn đạt giá trị thấp. Một ha đất canh tác một
năm góp khoảng 10 triệu đồng GDP, một lao động nông thôn mới làm ra khoảng
2,5 triệu đồng/năm. Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, để đánh giá đúng
thực trạng kinh tế nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng cần phải đánh giá
kết quả sản xuất nông nghiệp qua một giai đoạn nhất định.
Bảng 9 - Kết quả sản xuất nông nghiệp 4 năm 1996 - 1999
so với thời kỳ 1991 - 1995
Đơn vị tính
Bình quân 1 năm thời kỳ
1991 - 1995 1996 - 1999
1. Sản xuất lúa
Diện tích 1000 ha 6.500 7.130
Năng suất Tạ/ha 34,5 38,5
Sản lợng 1000 tán 22.480 27.460


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status