Nghiên cứu về đặc điểm thơ ca dân tộc Thái hiện đại - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Trang 1
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu 9
3.1. Mục đích, đối tƣợng 9
3.2. Phạm vi nghiên cứu 10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
11
6. Cấu trúc luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO THƠ CA DÂN TỘC THÁI
1.1 Thơ ca dân tộc Thái trƣớc năm 1945
14
1.2. Thơ ca dân tộc Thái từ năm 1945 đến nay 24
1.2.1. Từ năm 1945 đến năm 1975 25
1.2.2. Từ năm 1975 đến nay 35
1.3. Một số thành tựu của thơ ca dân tộc Thái thời kỳ hiện đại 47
CHƯƠNG II
NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG NUÔI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN
THƠ CA DÂN TỘC THÁI THỜI KỲ HIỆN ĐẠI

2.1. Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc- quê hƣơng của ngƣời dân tộc Thái 55
2.2. Hình ảnh con ngƣời đƣợc khắc hoạ chân thực và cảm động 65
2.3. Những nét phong tục, tập quán đậm đà bản sắc Thái 72
CHƯƠNG III

Dao có Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn...; dân tộc Tày có Nông Quốc Chấn, Y
Phƣơng, Dƣơng Thuấn...; dân tộc Thái có Cầm Biêu, La Quán Miên, Lò Cao
Nhum...; dân tộc Giáy có Lò Ngân Sủn...; dân tộc Mông có Ma A Lềnh, Mùa
A Sấu; dân tộc PaDí có Pờ Sảo Mìn… ; dân tộc Mƣờng có Vƣơng Anh, Đinh
Lăng Lƣợng...; dân tộc Chăm có Inrasara....
Là một thành viên của đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Thái
có địa bàn cƣ trú chính ở vùng thƣợng lƣu sông Thao (nậm Tào), sông Đà
(nậm Tè), sông Mã miền Bắc Việt Nam. Ngƣời Thái tự hào có nền lịch sử,
văn hoá lâu đời, có chữ viết cổ, nền văn học phong phú, trong đó nổi tiếng với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
các truyện thơ Xống chụ xôn xao, Khum lú- Nàng Ủa, Tản chụ xiết sƣơng, hay
sử thi Chƣơng Han, Khun Chƣởng, Táy pú xấc…Dân tộc Thái đã góp phần
vào sự hình thành những giá trị về nhiều mặt cho đời sống văn hoá dân tộc,
trong đó có những sáng tác văn học độc đáo mang nét đặc trƣng riêng của
ngƣời Thái.
Cùng với đội ngũ nhà văn của các dân tộc anh em khác, các nhà thơ, nhà
văn dân tộc Thái đã góp phần đƣa tiếng nói tâm hồn của dân tộc vƣợt qua núi
cao, sông sâu để hoà nhịp vào sự phát triển của nền thơ ca hiện đại nhƣ Cầm
Biêu, Lƣơng Quy Nhân, Hoàng Nó, Lò Văn Cậy, Vƣơng Trung, Cầm Hùng,
La Quán Miên, Sa Phong Ba, Cầm Bá Lai, Lò Cao Nhum, Cà Thị Hoàn…Họ
là các thế hệ nhà văn song hành cùng các thời kỳ phát triển của văn học dân
tộc Thái. Trong đó, có ngƣời vừa sáng tác thơ, vừa viết tiểu thuyết, vừa
nghiên cứu sƣu tầm, giới thiệu văn học dân gian, vừa viết truyện, ký. Và ở
lĩnh vực nào họ cũng có những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, thơ là một địa
hạt thành công và có giá trị hơn cả của văn học dân tộc Thái thời kỳ hiện đại
trên cả phƣơng diện đội ngũ và tác phẩm. Có thể kể đến các nhà thơ dân tộc
Thái tiêu biểu nhƣ: Cầm Biêu, Lƣơng Quy Nhân, Lò Văn Cậy, Vƣơng Trung,
Lò Vũ Vân (Sơn La), La Quán Miên (Nghệ An), Lò Cao Nhum (Hoà Bình).

học dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Thái nói riêng.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ ca dân tộc Thái hiện đại, luận văn chỉ ra
một số đặc điểm cơ bản của thơ ca dân tộc Thái về nội dung và hình thức
nghệ thuật. Đó là hình ảnh thiên nhiên, quê hƣơng, con ngƣời, bản mƣờng
cùng với những phong tục, tập quán giàu bản sắc của dân tộc Thái. Vẻ đẹp
hoang sơ, kỳ vĩ, thơ mộng của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc; Sự dung dị,
chân thành, nhân ái, khéo léo và tài hoa của con ngƣời miền núi...theo cách
cảm nhận riêng của những nhà thơ Thái. Bên cạnh việc chỉ ra một số đặc
điểm nội dung cơ bản, luận văn cũng khẳng định nét riêng độc đáo về nghệ
thuật trong thơ Thái hiện đại, đó là những tác phẩm có sự kết hợp, kế thừa
những lời thơ giàu hình ảnh, nhạc lý của văn học và văn hóa dân gian Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
với cá tính sáng tạo mới mẻ, hiện đại của các nhà thơ Thái...Từ đó góp phần
khẳng định vị trí và những đóng góp độc đáo của thơ Thái hiện đại đối với
nền thơ ca các dân tộc thiểu số nói chung một cách khách quan, thuyết phục.
Ngoài ý nghĩa khoa học, đề tài có tính thực tiễn quan trọng, đó là góp
thêm một tiếng nói vào việc gìn giữ, bảo tồn những nét đẹp của bản sắc văn
hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đang bị mai một dần qua việc nghiên cứu
một cách hệ thống, toàn diện về thơ ca dân tộc Thái hiện đại (cũng nhƣ một
số các dân tộc khác), bởi đây là một công việc cụ thể, có ý nghĩa cho những
ngƣời có ý thức về sự hiện diện và vai trò của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại nhƣ ý kiến của nhà thơ, nhà nghiên cứu dân tộc thiểu số Dƣơng
Thuấn “Hiện nay đã có một vài tác giả ngƣời dân tộc thiểu số làm công việc
phê bình nghiên cứu nhƣng còn yếu và lẻ tẻ. Nên nghiên cứu theo hƣớng đi
sâu vào từng tác giả, từng dân tộc hơn là nghiên cứu chung chung nhƣ hiện
nay. Trên cơ sở nghiên cứu từng tác giả, từng dân tộc sẽ đánh giá một cách
hệ thống từng tác giả hoặc từng vùng văn học” [35].
Ngoài ra, luận văn còn phục vụ trực tiếp cho việc học tập, nghiên cứu

số (NXB VHDT, 2002) của Lò Ngân Sủn, Nhà văn các dân tộc thiểu số- Đời
và văn (NXB VHDT 2003) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
Việt Nam, Văn hoá các dân tộc thiểu số- Từ một góc nhìn (NXB VHDT
2004) của Vi Hồng Nhân…và một số bài viết về văn học các dân tộc thiểu số
đăng rải rác trên các báo, tạp chí nhƣ: Văn học thiểu số trƣớc thềm thế kỷ XXI
của Mai Liễu, Bản sắc dân tộc- Nỗi lo của ngƣời cầm bút của Triệu Kim Văn;
Để văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có chất lƣợng ngang
tầm với văn học nghệ thuật cả nƣớc và Tôi muốn văn học các dân tộc thiểu số
nổi lên của Lò Ngân Sủn; Nét mới của văn học các dân tộc thiểu số của
Dƣơng Thuấn.. (đăng trên Tạp chí Văn hoá dân tộc); Văn học các dân tộc
thiểu số trong quá trình đổi mới của Đỗ Kim Cuông (Báo Đảng Cộng sản
Việt Nam); Nhìn lại văn nghệ các dân tộc thiểu số của Nông Quốc Bình (Báo
Nhân dân); Kế thừa và phát huy vốn văn hoá dân tộc trong sáng thơ của các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
tác giả dân tộc thiểu số hiện nay của Vƣơng Anh (Tạp chí xứ Thanh) hay Văn
học các dân tộc thiểu số còn một khoảng trống của Trần Thảo (Báo Khoa học
và Đời sống)….
Có thể nói rằng, văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng đã
thu hút đƣợc sự quan tâm nhất định của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học, tuy nhiên, so với số lƣợng các công trình nghiên cứu đồ sộ về thơ ca, về
văn học Việt Nam hiện đại nói chung thì số lƣợng tác phẩm, công trình tổng
kết, đánh giá về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam còn rất khiêm tốn,
trong đó, số lƣợng các bài viết, các công trình nghiên cứu, phê bình về thơ ca
dân tộc Thái lại càng ít ỏi. Những công trình, chuyên đề, bài viết trên đây đã
nêu lên đƣợc những thành tựu, những đóng góp của văn học các dân tộc thiểu
số trong đó ít nhiều có đề cập đến thơ dân tộc Thái hiện đại nhƣng mới chỉ
dừng lại ở mức độ sƣu tầm, giới thiệu một cách khái quát về thơ dân tộc Thái
nhƣ “Dân tộc Thái với các gƣơng mặt thơ: Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Lƣơng

bài viết, công trình này chủ yếu đề cập tới những phong tục tập quán của dân
tộc Thái và nhấn mạnh đến nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Thái chứ không đi
sâu vào bình diện nội dung hay nghệ thuật thơ dân tộc Thái.
Một số các tác giả ngƣời dân tộc Thái đã đƣợc giới phê bình chú ý và có
những đánh giá nhƣ: “Cầm Biêu vẫn giữ đƣợc phong cách của một ngƣời làm
thơ dân tộc trƣớc đây...ông luôn luôn có ý thức dùng hình thức thơ ca truyền
thống để thể hiện con ngƣời và cuộc sống hôm nay...” [84, tr.132]; “Thơ Cầm
Biêu xứng đáng là chiếc cầu nối cho các dân tộc anh em trong đất nƣớc ta
đến với nhau...” [11, tr. 361]; “Những bài thơ hay của các tác giả dân tộc
thiểu số thƣờng là ngắn, có khi rất ngắn, các bài thơ của Cầm Bá Lai cũng
vậy: Bài Con tép- 5 câu, Buồn- 7 câu, Chim bìm bịp- 7 câu, Rƣợu- 15 câu...”
[65, tr.96]; “Lò Cao Nhum vừa xuất hiện đã có thể đứng ngang hàng với mọi
bậc đàn anh...” [ 28, tr.413]…hay là việc phân tích, bình giảng một tập thơ
hoặc một số bài thơ của các nhà thơ dân tộc Thái nhƣ: “Hạt muối hạt tình (Lò
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Văn Cậy) nảy nở cùng cách mạng, cùng với sự đổi đời của dân tộc, đƣợc khơi
gợi từ cuộc sống, chiến đấu, lao động và từ những áng văn học dân gian dân
tộc” [65, tr.18]; “Đời đời nhớ ơn Bác (Lƣơng Quy Nhân) diễn đạt tình cảm
mộc mạc, chân thành nhƣ đời sống vốn có của ngƣời dân miền núi, khái quát
một giai đoạn đồng bào dân tộc Tây Bắc đi theo Đảng, Bác Hồ làm cách
mạng...” [3]; “Không thể nói thơ Lò Vũ Vân là một giọng thơ vui, hào sảng
nhƣng nó vẫn lóng lánh niềm tự hào về quê hƣơng, đất nƣớc, về dân tộc và
con ngƣời Tây Bắc...”[40, tr.16]…Có thể nhận thấy, những công trình, bài
viết trên đây mới chỉ dừng lại ở phạm vi bình giảng, phân tích một (hoặc một
số) bài thơ tiêu biểu của một số tác giả mà chƣa đi sâu vào phân tích, bình giá
những đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ ca dân tộc Thái hiện đại nói
chung.
Theo sự khảo sát của chúng tôi, cho đến nay chƣa có công trình nào

tài liệu sau:
- Các tác phẩm thơ của các tác giả dân tộc Thái từ năm 1945 đến nay.
- Một số tác phẩm thơ dân tộc Thái trƣớc năm 1945, đặc biệt là thơ dân
gian Thái (để so sánh, đối chiếu).
- Một số tác phẩm thơ của các dân tộc thiểu số khác để so sánh, đối chiếu
làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của thơ dân tộc Thái thời kỳ hiện đại.
- Các công trình, bài nghiên cứu về thơ ca dân tộc Thái nói riêng và các
công trình nghiên cứu về thơ dân tộc thiểu số nói chung.
- Một số tài liệu về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cố gắng làm sáng tỏ và đi đến khẳng định những đặc điểm nổi
bật của thơ dân tộc Thái hiện đại ở hai phƣơng diện cơ bản:
Tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên, quê hƣơng, con
ngƣời và những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Thái đƣợc phản
ánh và xây dựng trên cảm hứng trữ tình, ngợi ca của các nhà thơ Thái hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
đại. Từ đó đi đến khẳng định những nét đặc điểm riêng của thơ ca dân tộc
Thái hiện đại (so với các sáng tác của các nhà thơ dân tộc anh em khác).
Nghiên cứu một số hình thức nghệ thuật đƣợc sử dụng một cách đặc sắc
và hiệu quả nhƣ ngôn ngữ, hình ảnh…qua đó thấy đƣợc sự kế thừa và kết hợp
những tinh hoa của văn hoá dân gian Thái với sự sáng tạo, cách tân của các
nhà thơ dân tộc Thái thời kỳ hiện đại.
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của thơ dân tộc
Thái từ sau năm 1945 đến nay, luận văn đi đến khẳng định những thành công,
những đóng góp của thơ dân tộc Thái đối với thơ ca các dân tộc thiểu số nói
riêng và nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.


chƣơng:
Chƣơng I. Một vài nét về diện mạo thơ ca dân tộc Thái.
Chƣơng II. Những mạch nguồn cảm hứng nuôi dƣỡng và phát triển thơ
ca dân tộc Thái thời kỳ hiện đại.
Chƣơng III. Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ ca dân tộc Thái thời kỳ
hiện đại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I


thiểu số Việt Nam hiện đại là quan niệm chung nhất, phổ biến nhất của các
nhà nghiên cứu hiện nay.

1.1. Thơ ca dân tộc Thái trước năm 1945
Trƣớc cách mạng tháng 8/ 1945, văn học các dân tộc thiểu số chủ yếu là
văn học dân gian. Cũng giống nhƣ nền văn học dân gian của ngƣời Kinh, văn
học dân gian các dân tộc thiểu số gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân
lao động. Nó ra đời từ trong những câu nói, lời ca, tiếng hát, trong khi lên rẫy,
làm nƣơng, quay xa, dệt vải, đánh bắt cá hoặc trong những lời tỏ tình của nam
thanh, nữ tú, trong những trò chơi hoặc giao lƣu ở sân chơi “Hạn khuống”....
Dọc suốt chiều dài của đất nƣớc, ở các bản, làng, buôn, sóc...đều đã từng diễn
ra mọi hình thái văn học dân gian “khi thì kín đáo ẩn nấp dƣới các mái nhà, tỉ
tê bên bếp lửa gia đình, khi thì ào ạt lôi cuốn hàng mấy trăm ngƣời vào
những ngày hội, ngày lễ nhộn nhịp sôi nổi” [11, tr.63].
Có thể nói, văn học dân gian các dân tộc thiểu số cũng rất đa dạng và
phong phú không kém gì nền văn học dân gian của ngƣời Kinh, những đỉnh
cao của nền văn học dân gian Việt Nam cũng có sự góp mặt của văn học dân
gian các dân tộc thiểu số, có thể kể đến: Dân tộc Mƣờng có sử thi Đẻ đất, Đẻ
nƣớc, có dân ca Thƣờng- Rang, Bọ- Mạng, có truyện thơ Út Lót - Hồ Liêu,
Huỳ Nga - Hai Mới; Hai dân tộc Tày-Nùng có trƣờng ca Khảm Hải- Vƣợt
Biển, truyện thơ Nam Kim - Thi Đan, Đính Quân; Dân tộc Dao có trƣờng ca
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Bàn Hộ; Dân tộc Mông có Tiếng hát mồ côi, Tiếng hát làm dâu, Nàng Dơ -
Chà Tăng, ngƣời Chăm có Ariya Bini - Cam, Bini - Chăm; Các dân tộc ở Tây
Nguyên có trƣờng ca Đam San, Sinh Nhã, Kinh Dú, dân tộc Khơme có Sĩ
Thạch, Tum Tiêu, đồng bằng Sông Cửu Long có truyện cổ, dân ca…
Trong đó, dân tộc Thái cũng có những tác phẩm văn học dân gian phong
phú, đa dạng, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn học dân gian các

thành 11 chƣơng đƣợc lƣu truyền ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Giá trị và ý
nghĩa của tác phẩm tập trung ở nhân vật Chƣơng Han- nhân vật anh hùng
chiến đấu.
Với sức mạnh vô song, Chƣơng Han đã dẹp tan các bộ lạc, thống nhất
toàn bộ địa bàn cƣ trú và đem lại cuộc sống đời thái bình, thịnh trị cho ngƣời
Thái:
Từ đó Chƣơng Han đƣợc ung dung ngự trị cõi đời
Mãi mãi là chúa tể đỉnh trời bao la bát ngát ...
Chẳng còn bầy giặc lớn nào dám về đánh phá
Cả trần gian yên ổn, đẹp dạ thoả lòng
(Sử thi Chƣơng Han)
Sử thi Chƣơng Han không đề cập đến bi kịch của từng số phận cá nhân
mà nó đã đề cập một vấn đề của cả dân tộc, của cộng đồng. Mặc dù lịch sử
đƣơng thời chƣa hoàn toàn đúng với hiện thực đƣợc miêu tả trong sử thi
nhƣng với tính chất lãng mạn lịch sử, sử thi Chƣơng Han đã khái quát một
vấn đề có tính chất lớn lao, đó là “Ngƣời Thái phải đoàn kết và tập hợp lại
dƣới ngọn cờ của một anh hùng trong gia đình các dân tộc Việt Nam” [11,
tr.145]. Chƣơng Han là sử thi tiêu biểu, thể hiện khát khao về một cuộc sống
thái bình, thịnh trị của dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc- Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Một bản anh hùng ca nổi tiếng khác của dân tộc Thái là Khun Chƣởng.
Đây là một trong bộ ba anh hùng ca của ngƣời Thái ở Thái Lan, Lào và Việt
Nam. Bộ ba đó là Thạo Hùng- Thạo Chƣơng đƣợc lƣu truyền ở Thái Lan,
Lào; Chƣơng Han lƣu truyền ở vùng Tây Bắc Việt Nam và Khun Chƣởng lƣu
truyền ở vùng Nghệ An.
Nếu nhƣ Thạo Hùng-Thạo Chƣơng đƣợc đánh giá là “có tầm cỡ có thể
xếp vào trong hàng những kiệt tác văn chƣơng thế giới, tƣơng đƣơng với anh
hùng ca của Hy Lạp ...” [59, tr.2] thì Khun Chƣởng cũng đƣợc đánh giá nhƣ

dân tộc Thái đều hợp nhất vào đây” [11, tr.3]. Xống chụ xôn xao là bản tình
ca ca ngợi tình yêu thuỷ chung, bất diệt của con ngƣời, là tiếng nói tâm hồn,
mang cách cảm, cách nghĩ và khát vọng của ngƣời dân tộc Thái về tình yêu
đôi lứa, về hạnh phúc cá nhân của con ngƣời.
Với kết cấu độc đáo, tràn đầy kịch tính, ngôn ngữ kể chuyện đƣợc gọt
giũa thành lời thơ, những câu thơ gợi cảm, nhiều hình ảnh Xống chụ xôn xao
xứng đáng là “một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong kho tàng thơ ca
trữ tình cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam” [11, tr.169]. Sức sống và sự
truyền cảm của Xống chụ xôn xao còn ảnh hƣởng lớn đến các nhà thơ dân tộc
thiểu số hiện đại mà ở chƣơng tiếp theo chúng tôi sẽ có điều kiện để nói đến.
Nhƣ vậy, dân tộc Thái vốn có một kho tàng văn học dân gian phong
phú, phát triển trong đó truyện thơ, sử thi là hai loại hình tiêu biểu và có nhiều
tác phẩm đạt đến đỉnh cao. Cũng có kết cấu (gặp gỡ – ly tan - đoàn tụ) của
truyện thơ hay âm hƣởng ngợi ca, thủ pháp phóng đại của sử thi trong văn học
dân gian Việt Nam, nhƣng sử thi, truyện thơ dân tộc Thái còn có những đặc
điểm mang những nét đặc trƣng tiêu biểu cho tƣ duy, cách diễn đạt của ngƣời
Thái.
Ngoài việc thể hiện khát khao xây dựng một cuộc sống thanh bình, giàu
mạnh (sử thi Chƣơng Han, Táy pú xấc...) và khát vọng tự do trong tình yêu,
hôn nhân gia đình (truyện thơ Tản chụ xống xƣơng, Xống chụ xôn xao...) thì
sử thi và truyện thơ dân tộc Thái còn phản ánh rất rõ những phong tục, tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
quán, lễ nghi của ngƣời Thái, đó là nét sinh hoạt văn hoá đời thƣờng (ma
chay, cƣới xin, lễ hội...) hay những phong tục, lễ nghi, tín ngƣỡng (cúng phúc
thọ, cúng Mƣờng, cúng xên cha... ) của tộc ngƣời Thái.
Các loại hình văn học dân gian nhƣ sử thi, truyện thơ, ca dao, tục ngữ
của ngƣời dân tộc Thái không tách rời với những sinh hoạt văn hoá của cộng
đồng ngƣời Thái. Nếu nhƣ trong lao động thƣờng nhật: trồng lúa, dệt vải, đan

loại phát triển sau nó. Sức lôi cuốn mạnh mẽ của truyện thơ đƣợc ngƣời Thái
diễn đạt trong câu ví “Hát tiễn dặn lên, gà ấp phải bỏ ổ, cô gái quên hái rau,
chàng trai quên cày ruộng” [11, tr.168]. Và đối với sử thi, với cách nói phóng
đại, cách diễn tả “vƣợt xa hơn cái mẫu” cùng với sự tổng hợp các hình thức
nghệ thuật dân gian (giống nhƣ ở truyện thơ) đã tạo nên bề bộn, rộng
lớn...góp phần kích thích trí tƣởng tƣợng phong phú của ngƣời nghe mà theo
nhƣ Gorki đã đúc kết: “Cái đẹp đƣợc nhận thức là sự kết hợp nhiều chất liệu
khác nhau, kể cả những âm thanh, màu sắc, từ ngữ, nhờ đó mà con ngƣời,
nhà thiện nghệ chế tạo nên một hình thái tác động vào cảm xúc và lý trí nhƣ
một sức mạnh, khiến cho mọi ngƣời ngạc nhiên, tự hào và vui sƣớng với khả
năng sáng tạo của mình” [ 32, tr.79].

Nối tiếp kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng, đến thế kỷ XIX,
nghệ nhân ngƣời dân tộc Thái là Ngần Văn Hoan đã có những đóng góp rất
lớn vào việc ra đời và hình thành thơ dân tộc Thái hiện đại.
Ngần Văn Hoan tên thật là Ngần Văn Hậu, quê ở Chiềng Hạ, xã Mai Hạ
huyện Mai Châu-Hoà Bình, ông là một hiện tƣợng độc đáo của văn học Thái.
Ông đƣợc nhân dân thêu dệt nhƣ một nhân vật “truyền thuyết” gắn với sự tích
đá Cang Lạn: Sự tích nói về cuộc thi tài hát đối giữa nàng Cang Lạn và Văn
Hoan, 3 ngày 3 đêm không phân thắng bại, cuộc thi tài chỉ kết thúc và nàng
Cang Lạn chịu thua Văn Hoan khi chàng đƣa ra vế đố:
Trên trời có bao ngôi sao sáng nhất
Dƣới trần gian có bao ngọn núi cao hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Nàng Cang Lạn thua và chết hoá thành vách đá. Câu chuyện trên có thể
là hƣ cấu, tƣởng tƣợng của ngƣời dân nhƣng dù có thật hay không có thật thì
đó cũng là sự ca ngợi, khẳng định sự thông minh, tài giỏi của Ngần Văn
Hoan- một đỉnh cao trí tuệ của tri thức dân gian.


Nói về sự phát triển của thơ ca dân tộc Thái, ngoài nền tảng vững chắc là
kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng và những tác phẩm thơ hát của
nghệ nhân Ngần Văn Hoan thì không thể không nói đến những bài thơ đƣợc
sáng tác từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, những bài thơ đã phản ánh thực trạng xã
hội và sự vận động tinh thần tích cực cách mạng của quần chúng nhân dân từ
những năm 1940-1945 nhƣ: Hua Chaƣ khanh cánh ngan nha bản (Trái tim
anh dũng chớ run sợ) của Chu Văn Thịnh, Khẩu ma tứn (Lúa chó dậy) của
Cầm Biêu, Nộc cốc kăm (Chim phƣợng hoàng) và Xiêng chang năn (Đầy
tiếng than) của Cầm Ninh... Đây có thể coi là bƣớc “tiền trạm” sơ khai nhƣng
vô cùng quan trọng để góp phần hình thành một đội ngũ những nhà thơ chiến
sĩ- nghệ sĩ dân tộc Thái.
Đầu thế kỷ XX đến những năm 1944, nhiều dân tộc thiểu số ở phía Bắc
Việt Nam nói riêng và cả nƣớc nói chung chịu nhiều tầng áp bức của thực dân
và phong kiến (miền núi). Thực dân Pháp với chính sách ngu dân đã kìm hãm
sự phát triển của kinh tế, xã hội miền núi bằng cách duy trì chế độ tù trƣởng,
thổ ty, phìa tạo đã hết sức lỗi thời và vô cùng dã man, tàn bạo. Các dân tộc
thiểu số đã không can tâm làm kiếp trâu ngựa, đã vùng lên chống lại. Cuộc
khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9/ 1940) đã mở đầu cho phong trào cách mạng ở
vùng miền núi phía Bắc, nhân dân các dân tộc thiểu số nô nức đi theo cách
mạng, tuyên truyền và vận động bà con theo Đảng, cách mạng...Đi cùng với
phong trào đấu tranh đó là cả một phong trào thơ ca cách mạng xuất hiện và
mau chóng phát triển. Đó là những sáng tác “Có vần, có điệu, dễ đọc, dễ hiểu,
đọc êm tai, dễ nghe. Bất kỳ già trẻ ai cũng đọc đƣợc. Nó lại dễ ngẫm nghĩ,
làm cho ngƣời ta cảm động...” [80, tr.87] . Trong không khí cách mạng “nhƣ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
một dòng thác mạnh” tràn lên vùng các dân tộc thiểu số và từ chính
sách“kháng chiến văn hoá, văn hoá kháng chiến” những ngƣời có năng khiếu

thiểu số yêu nƣớc đã tin tƣởng và một lòng đi theo cách mạng. Họ dùng văn
chƣơng để làm công cụ tuyên truyền đấu tranh và nói lên tiếng nói, tình cảm
của những ngƣời dân tộc miền núi với Đảng, Bác. Mặc dù những sáng tác ấy
còn gần với dân ca, truyện cổ, với lời thoại sinh hoạt, “thơ chƣa mấy chất
thơ” (Cầm Biêu) nhƣng đó là sự khởi đầu rất đáng quý để các nhà nghệ sĩ-
chiến sĩ khai phá con đƣờng bứt lên thành tác giả- góp phần hình thành, phát
triển đội ngũ của nền thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Dù số lƣợng tác phẩm chƣa nhiều nhƣng “Thơ cách mạng đã khơi sâu....
nỗi đau mất nƣớc, hiểu rõ cảnh ngộ dân tộc bị chìm đắm trong vòng nô lệ,
nung nấu lòng căm thù, rèn đúc chí khí cách mạng kiên cƣờng. Thơ ca đã gợi
nhiều tình cảm, nhiều suy nghĩ và lên đƣờng tìm cách mạng” [86, tr.83] và
góp phần khẳng định vị trí của thơ cách mạng các dân tộc thiểu số với với thơ
văn cách mạng cả nƣớc.

Nhƣ vậy, cũng nhƣ các dân tộc thiểu số khác, trƣớc năm 1945, thơ ca dân
tộc Thái chủ yếu là thơ ca dân gian với thành tựu nổi bật là sử thi và truyện
thơ trữ tình. Tiếp đó, nghệ nhân Ngần Văn Hoan đã đánh dấu bƣớc chuyển
tiếp từ thơ dân gian đến thơ thành văn của dân tộc Thái với những lời thơ
trong các tác phẩm “hát thơ”. Đặc biệt sự xuất hiện của một số bài thơ cách
mạng của các nhà thơ Thái nhƣ Cầm Biêu, Cầm Ninh hay Chu Văn Thịnh...
(thời kỳ từ năm 1940-1944) đã đánh dấu một bƣớc phát triển mới cho thơ ca
Thái. Dù những bài thơ cách mạng ấy còn mang đậm dấu vết của kiểu thơ dân
gian nhƣng ít nhiều đã có những yếu tố hiện đại, đây chính là nền tảng quan
trọng dẫn tới sự hình thành và phát triển của thơ ca dân tộc Thái hiện đại từ
sau cách mạng tháng 8/ 1945.

1. 2. Thơ ca dân tộc Thái từ năm 1945 đến nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status