Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau 26 năm xâm lƣợc và bình định nƣớc ta, bằng các âm mƣu thâm độc
và chiến tranh xâm lƣợc tàn bạo, thực dân Pháp đã bắt triều đình nhà Nguyễn
ký điều ƣớc Hác - măng đầu hàng Pháp.
Để đặt cơ sở thống trị lâu dài trên toàn cõi Việt Nam, từ năm 1884 thực
dân Pháp xúc tiến xâm lƣợc các tỉnh trung du và thƣợng du Bắc Kỳ.
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tài nguyên, khoáng sản quí và phong phú
lại có địa bàn chiến lƣợc hết sức quan trọng nên sau khi đánh chiếm đƣợc
thành Bắc Ninh, tháng 3 năm 1884 thực dân Pháp từ Bắc Ninh mở cuộc tấn
công đánh chiếm tỉnh thành Thái Nguyên. Kể từ đó phong trào đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lƣợc của nhân dân Thái Nguyên đã nổ ra và ngày
càng mạnh mẽ.
Tuy nhiên thực dân Pháp phải mất hơn 10 năm chinh phục và bình định
phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên
mới có thể xây dựng hoàn chỉnh bộ máy thống trị, bóc lột ở vùng này.
Dƣới ách thống trị của thực dân Pháp, chịu sự tác động của phong trào
yêu nƣớc, cách mạng của nhân dân, phong trào đấu tranh của binh lính Việt
Nam chống lại chính sách cai trị của Pháp đã nổ ra ngày càng mạnh.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, chịu ảnh hƣởng của các hoạt
động của Việt Nam Quang phục hội, phát huy truyền thống yêu nƣớc đấu
tranh của binh lính Việt Nam đã làm bùng nổ cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên
do Đội Cấn và Lƣơng Ngọc Quyến lãnh đạo. Đây là cuộc nổi dậy khởi nghĩa
của binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp kéo dài nhất và có tiếng vang
nhất ở Việt Nam trong thời kỳ này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Thái Nguyên thời kỳ 1884
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Liên quan tới đề tài “Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở tỉnh
Thái Nguyên trong thời kỳ 1884 - 1918” trên nhiều khía cạnh khác nhau đã có
một số cơ quan, cá nhân giới sử học trong nƣớc đề cập đến trong một số cuốn
sách đã đƣợc công bố.
Có lẽ tác phẩm ra đời sớm nhất tố cáo chính sách thống trị, bóc lột tàn bạo
của thực dân Pháp ở Đông Dƣơng và Thái Nguyên là một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn đến khởi nghĩa Thái Nguyên bùng nổ năm 1917
đó là : “Bản án chế độ thực dân Pháp ” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tác
phẩm đƣợc Ngƣời viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921 - 1925
và đƣợc xuất bản lần đầu tiên năm 1925 tại Pari - Thủ đô nƣớc Pháp
Cuốn “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp ” của Trần Huy Liệu, tác giả
viết về cuộc chiến đấu của nhân dân cả nƣớc chống Pháp, trong đó có đề cập
đến hoàn cảnh, diễn biến cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm khởi nghĩa Thái Nguyên ( 1917 - 1997 ), Sở
văn hóa thông tin tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Viện sử học Việt Nam tổ
chức hội thảo khoa học về khởi nghĩa Thái Nguyên và cho xuất bản cuốn:
“Khởi nghĩa Thái Nguyên 80 năm nhìn lại ”. Cuốn sách mang tính chất kỷ
yếu, tập hợp các công trình khoa học và các tham luận khoa học của các nhà
nghiên cứu lịch sử về khởi nghĩa Thái Nguyên tại hội thảo. Ở góc độ và mức
độ khác nhau, các nhà khoa học đã đề cập xoay quanh các vấn đề: nguyên
nhân, hoàn cảnh lịch sử, diễn biến và tính chất khởi nghĩa Thái Nguyên trong
lịch sử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Cuốn “ Đội Cấn - Thái Nguyên ” do Việt Hải biên soạn nói về cuộc đời
của Đội Cấn, một số nét về nguyên nhân, diễn biến của cuộc khởi nghĩa Thái
Nguyên .
Năm 1917 Đào Trinh Nhất xuất bản cuốn “Lương Ngọc Quyến và cuộc
khởi nghĩa Thái Nguyên ” chủ yếu nói đến cuộc đời hoạt động cách mạng của
kỳ 1884 - 1918.
3.2. Phạm vi của đề tài
- Đề tài đề cập tới địa bàn chiến lƣợc tỉnh Thái Nguyên và truyền thống
đấu tranh của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
- Nội dung chính của đề tài là nghiên cứu Phong trào đấu tranh chống thực
dân Pháp ở tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ 1884 - 1918.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Thông qua các tƣ liệu lịch sử cụ thể, đề tài tái dựng lại bức tranh lịch sử
về phong trào kháng chiến chống Pháp ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1884 đến
năm 1918, làm nổi bật đƣợc hoàn cảnh lịch sử trong nƣớc dẫn đến phong
trào đấu tranh chống pháp của nhân dân Thái Nguyên, diễn biến của phong
trào qua các giai đoạn. Xác định vị trí, tính chất của cuộc khởi nghĩa Thái
Nguyên trong lịch sử.
4. NGUỒN TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tƣ liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các tác phẩm của:
Các Mác, Enghen, Lênin; các Văn kiện Đảng, những bài viết và tác phẩm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh; các bài viết của đồng chí Trƣờng Chinh, các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đƣợc công bố, các bài viết đăng trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự …
giáo trình các trƣờng đại học, kỉ yếu hội thảo khoa học… viết về lịch sử liên
quan đến phong trào chống Pháp của nhân dân Thái Nguyên trong những năm
1884 - 1918 là nguồn tài liệu cơ bản để thực hiện đề tài này.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết
hợp phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phƣơng
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm sáng tỏ nội dung của đề tài.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
từ 21,20 đến 20,03 độ vĩ bắc, 105,28 đến 106,16 độ kinh đông, có diện tích tự
nhiên 3.541,5 km
2
, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km. Phía bắc giáp tỉnh
Bắc Cạn, phía nam giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang,
phía tây nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và đông
nam giáp tỉnh Bắc Giang. Đơn vị hành chính Thái Nguyên thời Pháp thuộc
gồm: 1 thị xã Thái Nguyên và 7 huyện: Định Hóa, Phú Lƣơng, Đại Từ, Võ
Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên; toàn tỉnh có 51 tổng, 237 xã, 15 khu phố,
16 trại [48, tr.4]. Thái Nguyên là cửa ngõ phía nam, một phần phía đông khu
Việt Bắc, các huyện phía bắc và tây bắc vùng núi hiểm trở, các huyện phía
nam bán sơn địa tiếp giáp với trung du và đồng bằng, gần Hà Nội. Bởi thế,
trong cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp Thái Nguyên là căn cứ địa
“ Tiến khả dĩ công , thoái khả dĩ thủ”.
Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hƣớng bắc nam
thấp dần từ bắc xuống nam. Bao quanh phía tây nam là dãy núi Tam Đảo và
phía bắc là cánh cung Ngân Sơn, phía đông bắc là sơn khối Bắc Sơn. Đƣợc
các dãy núi phía bắc và đông bắc này che chắn nên Thái Nguyên ít chịu ảnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
hƣởng của gió mùa đông bắc. Địa hình Thái Nguyên với nhiều đồi thấp thuận
lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp và xây dựng các công trình công nghiệp.
Địa hình Thái Nguyên chia làm 3 vùng: Vùng phía tây và tây bắc của tỉnh bao
gồm các huyện: Đại Từ, Định Hoá và các xã phía tây của huyện Phú Lƣơng là
vùng rừng núi hiểm trở, địa hình chia cắt mạnh. Xen giữa các dải núi là các
khu ruộng nhỏ dốc, hẹp. Vùng phía Đông gồm 2 huyện Đồng Hỷ và Võ Nhai,
độ cao trung bình 500 đến 600m, địa hình phức tạp với những khối núi đá vôi
to lớn ở Thần Sa, Thƣợng Nung, Nghinh Tƣờng đặc biệt là khối núi đá vôi
Phƣơng Giao ở Đông Nam huyện Võ Nhai đồ sộ và hiểm trở, tạo ra nhiều
thung lũng hẹp và sâu.Trong lòng núi đá vôi ở các huyện Võ Nhai và Định
Nguyên hàng năm cung cấp cho đồng ruộng ven sông một khối lƣợng phù sa
rất lớn làm cho đất đai thêm phì nhiêu, màu mỡ, giữ đƣợc độ ẩm quanh năm,
thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây lƣơng thực và hoa màu.
Sông Cầu còn là tuyến giao thông đƣờng thủy quan trọng. Với vị trí nhƣ
vậy, Thái Nguyên là cầu nối giữa đồng bằng sông Hồng với các tỉnh miền núi
phía Bắc: Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Thái Nguyên có hai đoạn quốc
lộ chạy qua: Quốc lộ số 3 chạy theo hƣớng bắc - nam, từ cầu Đa Phúc (Phổ
Yên) đến cầu Ổ Gà (Phú Lƣơng), giáp với tỉnh Bắc Cạn; quốc lộ 1B chạy
theo hƣớng tây nam- đông bắc từ cầu Gia Bẩy (thành phố Thái Nguyên) đến
cầu Mỏ Gà - (Phú Thƣợng - Võ Nhai). Ngoài ra Thái Nguyên còn có hai
tuyến đƣờng sắt: Thái Nguyên - Hà Nội; Thái Nguyên - Kép cùng nhiều tuyến
giao thông nội tỉnh và liên tỉnh nhƣ đƣờng qua Đại Từ lên Tuyên Quang; xuôi
Đồng Hỷ, Phú Bình về Bắc Ninh, Hà Nội … rất thuận lợi cho việc thông
thƣơng giữa các địa phƣơng trong tỉnh và với các tỉnh bạn. Theo sách Dƣ địa
chí của Nguyễn Trãi, Thái Nguyên là phên giậu thứ hai về phƣơng Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Về giao thông, trƣớc kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên chỉ có
đƣờng thủy và đƣờng bộ. Về đƣờng thủy, từ thị xã Thái Nguyên theo sông
Cầu có thể đi tới Đáp Cầu, từ Đáp Cầu đi tiếp xà lan tới Phủ Lạng Thƣơng,
Phả Lại, Hải Phòng hoặc từ Đáp Cầu có thể đi ôtô, tàu hỏa về Hà Nội. Mùa
mƣa từ thị xã Thái Nguyên, tàu thuyền có trọng tải dƣới 60 tấn có thể đi lại dễ
dàng về Đáp Cầu, Phả Lại, Hải Phòng và ngƣợc lại. Dƣới thời Pháp thuộc đây
là con đƣờng giao thông chính đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hóa, lƣơng
thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng và binh lính đáp ứng cho các nhu cầu
về quân sự của thực dân Pháp. Về đƣờng bộ, từ tỉnh lỵ Thái Nguyên có các
con đƣờng đi Đáp Cầu, Chợ Chu, Sơn Tây và các trung tâm hành chính trực
thuộc tỉnh. Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp cho xây dựng con đƣờng từ Hà Nội
lên Phủ Lỗ, Đa Phúc qua tỉnh Thái Nguyên lên các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng.
Hệ thống giao thông tỉnh Thái Nguyên từ trƣớc cách mạng tháng Tám
Cao, Lạng; tây và nam giáp Kinh - Bắc ; có 2 lộ phủ, 9 huyện , 2 châu và 336
làng xã [65, tr.48]. Thái Nguyên lúc đó nằm dƣới sự cai quản của chế độ lạc
tƣớng. Khoảng đầu công nguyên chế độ lạc tƣớng chấm dứt, bộ chuyển thành
huyện, Vũ Định vẫn giữ tên cũ. Dƣới thời đô hộ của nhà Triệu, Thái Nguyên
nằm trong quận Giao Chỉ. Đời nhà Hán, Thái Nguyên nằm trong huyện Long
Biên thuộc quận Giao Chỉ. Đến thời Đƣờng - thế kỷ VIII, IX, X - Thái
Nguyên là đất châu Long và châu Vũ Nga thuộc An Nam đô hộ phủ.
Dƣới triều Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X) đất nƣớc đƣợc chia thành 10 đạo.
Khi Lý Thái Tổ lên ngôi (1010) rời kinh đô từ Hoa Lƣ ra Thăng Long, 10 đạo
đƣợc đổi thành 24 lộ, các vùng xa xôi hẻo lánh nhƣ Thái Nguyên nằm trong
các châu biên viễn. Đầu năm 1226, nhà Trần đổi châu thành lộ, vùng đất Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Nguyên thuộc Nhƣ Nguyệt Giang lộ. Năm 1397 nhà Trần đổi châu Thái
Nguyên thành trấn Thái Nguyên tƣơng đƣơng với tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn
và nửa tỉnh Cao Bằng ngày nay [2, tr.19].
Thời thuộc Minh (1407 - 1427), vào năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), trấn
Thái Nguyên đƣợc đổi thành phủ Thái Nguyên lệ thuộc vào ty Bố chính; năm
1426 phủ Thái Nguyên đổi thành Thái Nguyên Thừa Chính ty, gồm 3 phủ:
Thái Nguyên, Phú Bình, Thông Hóa.
Năm 1428, khi nhà Lê thành lập, Lê Thái Tổ chia đất nƣớc thành 5 đạo :
Tây Đạo, Đông Đạo, Bắc Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo. Thái Nguyên thuộc
Bắc Đạo. Dƣới đạo là trấn, lộ rồi đến phủ, huyện, châu và cuối cùng là xã.
Năm Quang Thuận thứ bẩy (1466), Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nƣớc,
từ 5 đạo đƣợc chia nhỏ thành 12 đạo Thừa Tuyên, Thái Nguyên là một trong
12 đạo Thừa Tuyên đƣợc gọi là Thái Nguyên Thừa Tuyên.
Vào năm Quang Thuận thứ 10 nhà Lê tiến hành điều tra địa hình, địa
giới của các Thừa Tuyên hoàn thành lập bản đồ quốc gia Đại Việt (1469)
khẳng định chặt chẽ hơn lãnh thổ và biên giới đất nƣớc đổi Thái Nguyên
Thừa Tuyên thành Ninh Sóc Thừa tuyên, gồm ba phủ Phú Bình, Thông Hóa,
Thực hiện Nghị quyết ngày 21-4-1965 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội
nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ ngày 1-7-1965, tỉnh Thái Nguyên hợp
nhất với tỉnh Bắc Cạn thành tỉnh Bắc Thái, gồm 13 đơn vị hành chính huyện,
thành thị trực thuộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Sau kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX ra nghị quyết về phân định lại địa
giới hành chính một số tỉnh. Bắc Thái đƣợc tách thành hai tỉnh: Bắc Cạn và
Thái Nguyên. Tỉnh Thái Nguyên đƣợc tái lập gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh
(thành phố Thái Nguyên ), 1 thị xã (thị xã Sông Công) và 7 huyện : Phú
Lƣơng, Đại Từ, Định Hoá, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Võ Nhai với 177
phƣờng , xã thị trấn.
1.2. CON NGƢỜI VÀ TRUYỀN THỐNG
1.2.1. Dân tộc, phân bố dân cƣ và đặc điểm cƣ trú, sinh sống.
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc. Chiếm đông đảo nhất
là ngƣời Kinh, sau đó là các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Sán
Chí, Hoa và h’mông… sống rải rác khắp các địa phƣơng trong tỉnh.
Dân tộc Kinh chiếm 75,4% dân số. Đây là dân tộc mang nguồn gốc bản
địa, chiếm số lƣợng đông nhất. Cƣ dân Kinh gồm nhiều bộ phận hợp thành:
dân bản địa, dân tuyển mộ vào làm công trong các mỏ, đồn điền, có bộ phận
là ngƣời di cƣ từ các vùng đồng bằng lên. Địa bàn cƣ trú của ngƣời Kinh rộng
khắp các vùng trung du phía nam đến các vùng núi rừng hẻo lánh phía bắc,
trong đó tập trung nhiều ở các khu vực thị xã Thái Nguyên. Vốn cƣ trú ở vùng
thấp, ngƣời Kinh quen với nghề trồng lúa nƣớc, hoạt động nông nghiệp kết
hợp chặt chẽ với các nghề thủ công truyền thống. Ngƣời Kinh không chỉ có
tập quán, kinh nghiệm sản xuất mà còn có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ
khoa học kỹ thuật và áp dụng chúng một cách linh hoạt.Tổ chức xã hội và
hình thái quần cƣ của ngƣời Kinh rất chặt chẽ từ thành thị đến nông thôn
trong đó tổ chức làng xã cổ truyền là rất tiêu biểu cho thiết chế làng xã Việt
Nam. Nó đƣợc hình thành trên cơ sở nền sản xuất tiểu nông, tự cấp tự túc là
16
canh, du cƣ. Ngoài lúa nƣơng, ngô đƣợc coi là cây lƣơng thực chính, đồng
bào còn trồng xen canh hoa màu kết hợp chăn nuôi và làm một số nghề thủ
công chủ yếu là dệt vải, làm giấy bản và đan lát. Ngày nay, đồng bào Dao căn
bản đã định canh, định cƣ, cuộc sống ổn định hơn.
Cao Lan và Sán Chí là các nhóm địa phƣơng của tộc ngƣời Sán Chay.
Đồng bào sinh sống tập trung ở 3 huyện: Phú Lƣơng, Định Hóa và Đại Từ.
Phần nhiều đồng bào ở nhà sàn, quần cƣ thành làng xóm nhƣ ngƣời Tày. Về
kinh tế, đồng bào làm ruộng lúa nƣớc, kết hợp trồng trọt chăn nuôi và làm
nghề thủ công gia đình: trồng bông dệt vải , đan lát…
Tộc ngƣời Sán Dìu, sinh sống chủ yếu ở các huyện Đồng Hỷ, Phú
Lƣơng, Đại Từ và Phú Bình. Đồng bào ở nhà nền đất (nhà trệt), tập trung
thành làng xóm. Về kinh tế, họ làm ruộng lúa nƣớc và khai thác các soi bãi
trồng màu kết hợp với chăn nuôi, làm nghề thủ công nhƣ dệt vải, làm giấy
bản, đan lát…
Dân tộc Hoa có mặt tại một số địa phƣơng trong tỉnh nhƣ: thị trấn Chợ
Chu, các xã: Phúc Chu, Kim Phƣợng, Bảo Cƣờng (Định Hóa); Độc Lập (Đại
Từ), Động Đạt (Phú Lƣơng); Dân chủ (Đồng Hỷ); Tân Kim (Phú Bình). Đồng
bào làm ruộng lúa nƣớc, kết hợp trồng màu, chăn nuôi và thủ công gia đình.
Đồng bào Hoa thông thạo làm nghề mật mía, đƣờng phên, làm miến, các loại
bánh kẹo…
Tộc ngƣời Mông mới vào Thái Nguyên khoảng 30 năm nay. Lúc còn
sinh sống ở Hà Giang, Cao Bằng họ phát nƣơng làm rẫy, vào Thái Nguyên (ở
Võ Nhai, Đồng Hỷ và Phú Lƣơng) ít đất rừng, đồng bào khai thác các thung
lũng trồng ngô, trồng sắn, đậu tƣơng… kết hợp chăn nuôi làm nghề thủ công
gia đình nhƣ dệt lanh, dệt vải.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Thái Nguyên trong cội nguồn sâu xa của lịch sử còn là mảnh đất xuất
hiện nền văn hóa khảo cổ thời đá cũ cách nay vài vạn năm đƣợc phản ánh
chính sách đồng hóa dân tộc tàn bạo của thế lực phong kiến phƣơng Bắc để
giành độc lập tự do cho tổ quốc và bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Kể từ khi nhà Lý định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên trở thành phên
giậu trực tiếp che trở Bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống quân
xâm lƣợc Tống (1076 -1077), phần đất phía nam Thái Nguyên từng là địa đầu
của phòng tuyến Sông Cầu, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quan
quân nhà Lý với Giặc Tống. Trên tấm bia ở Động Linh Sơn ( Đồng Hỷ ) còn
ghi sự kiện mấy ngàn quân Tống đã bỏ xác trên chiến địa Linh Sơn bên bờ
sông Cầu. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, nổi lên vai trò của Dƣơng Tự
Minh - một võ quan triều đình nhà Lý, ông trực tiếp tham gia chiến đấu góp
phần đánh tan quân xâm lƣợc Tống trên phòng tuyến sông Cầu. Khi Đàm
Hữu Lƣợng cầm đầu giặc Tống sang cƣớp phá châu Quảng Nguyên, vâng
lệnh triều Đình. Dƣơng Tự Minh cùng Nguyễn Nhƣ Mai, Lý Nghĩa Vinh cầm
quân giết giặc. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã chỉ huy đánh tan quân
giặc đem lại sự bình yên cho đất nƣớc. Cuộc đời và sự nghiệp của Dƣơng Tự
Minh là biểu tƣợng, tƣợng trƣng cho tinh thần đoàn kết gắn bó giữa các dân
tộc trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến Đại Việt. Với những đóng
góp của mình, Dƣơng Tự Minh đã đƣợc vua Lý gả hai Công Chúa Diên Bình
và Thiều Dung, đƣợc phong chức Phò Mã Lang, trông coi toàn bộ việc quân,
dân suốt một vùng khe động dọc biên giới phía Bắc và đƣợc sắc phong là
Thƣợng đẳng thần, đƣợc nhân dân ghi ơn, lập đền thờ cúng ở núi Đuổm, xã
Động Đạt, huyện Phú Lƣơng [20, tr.134]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Dƣơng Tự Minh là ngƣời con ƣu tú của đất Thái Nguyên, một tấm
gƣơng tiêu biểu cho tinh thần tận trung báo quốc, làm việc nghĩa, chống gian
tà. Cuộc đời và sự nghiệp của Dƣơng Tự Minh là biểu tƣợng tƣợng trƣng cho
tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc trong buổi đầu xây dựng quốc gia
phong kiến Đại Việt .
Sau khi nhà Lý sụp đổ, nhà Trần lên thay ( năm 1226 ), mở ra một thời
Đồng Hỷ, đánh nghĩa quân Ông Lão, thủ lĩnh Ông Lão vƣợt vòng vây tiếp tục
củng cố, xây dựng lực lƣợng và tƣ tháng 11 năm 1411 tiếp tục hoạt động trở
lại địa bàn rộng lớn hơn, gây cho giặc Minh nhiều thiệt hại nặng nề. Cuộc
khởi nghĩa của nghĩa quân Ông Lão kéo dài đến tháng 3 năm 1412 mới bị dập
tắt. Tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu kiên cƣờng, dũng cảm của nhân dân các
dân tộc Thái Nguyên trong thời kỳ này là những hoạt động của nghĩa quân “
áo đỏ ” (Hồng Y) ở Đại Từ vào cuối năm 1410, buộc nhà Minh phải điều
quân từ nhiều nơi về ứng cứu, buộc tên Mã Bá Hổ (tri phủ Thái Nguyên) phải
trực tiếp đƣa quân đàn áp. Nghĩa quân “ áo đỏ ” đã chiến đấu rất anh dũng,
phát triển phong trào ra khắp vùng Việt Bắc, gây cho giặc Minh nhiều tổn thất
nặng nề, “ làm cho chúng không thể nào đặt vững được chính quyền đô hộ
trên miền rừng núi bao la của ta” [42, tr.293]
Tháng 2 năm 1416, từ quê hƣơng ở xã Văn Yên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên, hai cha con Lƣu Trung, Lƣu Nhân Chú đến Lũng Nhài (Thuộc
vùng núi Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hoá) cùng với Lê Lợi và 16
ngƣời thân cận khác của Lê Lợi làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em quyết
tâm đánh giặc Minh, cứu nƣớc. Sau đó, theo kế sách của Lê Lợi, Lƣu Nhân
Chú đã cùng với em rể là Phạm Cuông về quê Đại Từ (Thái Nguyên) phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
động phong trào đấu tranh chống giặc Minh, xây dựng và huấn luyện lực
lƣợng Vũ Trang, dự trữ lƣơng thực, chuẩn bị khởi nghĩa.
Ngày 7-2-1428 từ Lam Sơn (Thanh Hoá), Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa
quân phất cờ khởi nghĩa.
Năm 1419, Lƣu Nhân Chú chỉ huy nghĩa quân đánh trận Nga Nhạc, truy
kích địch đến tận sào huyệt của chúng. Năm 1422, Lƣu Nhân Chú chỉ huy
nghĩa quân phá tan kế hoạch bao vây của giặc Minh, truy kích chúng đến tận
Đông Quan, tiêu diệt tên chỉ huy Phùng Quý. Năm 1425. Lƣu Nhân Chú chỉ
huy nghĩa quân tiêu diệt địch ở Thái Nguyên, đánh úp Tây Đô thu toàn bộ
thuyền, lƣơng thực, quân trang, quân dụng. Tháng 9 năm 1426 từ vùng núi
con Lƣu Trung, Lƣu Nhân Chú đã đƣợc vua Lê Thái Tổ ban Quốc tính (cho
đổi từ họ Lƣu sang họ vua) và xếp hạng công thần khai quốc. Lƣu Trung đƣợc
phong tƣớc Quốc công; Lƣu Nhân Chú đƣợc ban tƣớc Đình Thƣợng hầu [17,
tr.86]. Sau đó cả hai cha con Lƣu Trung và Lƣu Nhân Chú đều trở thành
những vị quan thanh liêm, góp phần to lớn cùng nhân dân cả nƣớc khôi phục
và xây dựng đất nƣớc sau chiến tranh.
Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu thắng thế
gây sức ép phế truất triều Lê, lập ra triều Mạc. Tình hình đó làm gay gắt thêm
các mối xung đột giữa các phe phái, dẫn đến tình trạng cát cứ và chia rẽ lâu
dài. Đất nƣớc ta bị chia thành hai miền: Bắc Triều và Nam Triều. Tƣớng nhà
Mạc chia nhau chiếm đóng vùng đất Thái Nguyên. Nhân cơ hội này các cựu
thần nhà Lê nổi quân chống lại, Đại Việt lâm vào tình trạng chiến tranh nội
bộ, nhà Minh một lần nữa tìm cách đe dọa, khống chế ta.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
Trƣớc tình hình đó, nhà Mạc không có lập trƣờng tƣ tƣởng đối phó
vững vàng mà tỏ ra hèn hạ trƣớc sự đe dọa của giặc Minh. Chiến tranh liên
tiếp xảy ra giữa Lê - Trịnh - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn suốt thế kỷ XVI, XVII,
và XVIII. Các tập đoàn phong kiến đối lập dùng chiến tranh để tiêu diệt lẫn
nhau, dẫn đến tình trạng chia cắt đất nƣớc, làm cho đời sống nhân dân vô
cùng cực khổ. Nhân dân khắp mọi nơi liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa chống lại
triều đình. Thái Nguyên là một trong những địa bàn hoạt động của nghĩa
quân Nguyễn Danh Phƣơng trong suốt 10 năm dòng (1740 - 1750) .
Theo ghi chép của Đại nam nhất thống chí thì nghĩa quân của Nguyễn
Danh Phƣơng đã xây dựng căn cứ, đắp thành lũy ở núi Độc Tôn (cách huyện
Phổ Yên 66 dặm về phía nam) và núi Ngọc Bội (cách huyện Bình Xuyên 29
dặm về phía Nam ) để chống nhau với quân triều đình.
Năm 1803, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, nhất là trấn Thái
Nguyên nhiều lần nổi dậy khởi nghĩa. Tại Thái Nguyên, tiêu biểu có cuộc
khởi nghĩa do Dƣơng Đình Cúc lãnh đạo, diễn ra suốt 18 năm (1806 -1824)
trƣng văn hóa khác nhau, đã từ lâu nhân dân các dân tộc ở Thái Nguyên đã có
truyền thống đấu tranh kiên cƣờng, bất khuất trƣớc họa ngoại xâm và bất công
xã hội.
Ngày 17- 03-1884 từ Bắc Ninh thực dân Pháp đem quân đánh chiếm
Thái Nguyên. Từ đó phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân
Thái Nguyên bùng nổ. Mặc dù những cuộc đấu tranh ở giai đoạn này còn lẻ tẻ
và mang tính tự phát song nó chính là tiền đề cho các cuộc đấu tranh của thời
kỳ sau này nhất là cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta từ 1884 - 1918
và các giai đoạn tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
CHƢƠNG 2
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM
LƢỢC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN (1884 - 1914)
2.1. CÁC CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƢỢC TỈNH
THÀNH THÁI NGUYÊN NĂM 1884.
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Sau 26 năm chinh phục Việt Nam, với điều ƣớc Hác - Măng (1883) thực
dân Pháp đã bắt nhà Nguyễn phải đầu hàng dâng toàn bộ đất nƣớc ta cho thực
dân Pháp.Tuy nhiên để đi đến thiết lập nền thống trị trên đất nƣớc ta, thực dân
pháp còn phải lo đối phó với phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ
của nhân dân ta, nhất là vùng thƣợng du Bắc Kỳ.
Ở nƣớc ta, từ năm 1867, Ngô Côn (thủ lĩnh của một đạo quân "Thái bình
thiên quốc") sau khi cuộc khởi nghĩa bị thất bại đã kéo hơn 2000 tàn quân
vƣợt biên giới Việt - Trung tràn qua các tỉnh vùng núi phía Bắc xuống Thái
Nguyên làm thổ phỉ. Để tranh giành ảnh hƣởng với thực dân Pháp ở Bắc Kỳ
và đáp ứng yêu cầu chi viện của triều đình Huế, năm 1882 quân Thanh bắt
đầu xâm nhập Bắc Kỳ, đóng rải rác trên một tuyến kéo dài từ Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Hƣng Hóa, sang đến Cao Bằng, Lạng Sơn và xuống đến Bắc