Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------
NGUYỄN THÁI DŨNG
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT
THIẾT KẾ MÔ HÌNH ĐỘNG
DẠY HỌC PHẦN DI TRUYỀN
SINH HỌC 9 (TRUNG HỌC CƠ SỞ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
MÃ SỐ: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HỒNG
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: Nguyễn Văn Hồng đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy, cô trong tổ bộ môn Phương pháp
giảng dạy Sinh học thuộc khoa Sinh- KTNN, khoa Sau đại học của trường ĐH
Sư phạm- ĐH Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu, học tập
PHẦN MỞ ĐẦU 6
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu 11
1.1. Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học
11
1.2. Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học sinh học
19
1.3. Cấu trúc nội dung và thành phần kiến thức cơ bản của phần di
truyền Sinh học 9
23
1.4. Hiện trạng sử dụng PTDH phần di truyền Sinh học 9 ở trường
THCS hiện nay
28
Chƣơng 2: Sử dụng hiệu ứng của PowerPoint thiết kế mô hình
động dạy học phần di truyền Sinh học 9
30
2.1. Hiện trạng ứng dụng PowerPoint trong dạy học
30
2.2. Nguyên tắc thiết kế mô hình động
32
2.3. Quy trình thiết kế mô hình động
39
2.4. Sử dụng các mô hình động để thiết kế giáo án dạy học các cơ
chế và quá trình sinh học phần di truyền Sinh học 9- THCS theo
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS
63 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 66
3.1. Mục đích thực nghiệm
66
19 THCS Trung học cơ sở
20 THPT Trung học phổ thông
21
TLTK Tài liệu tham khảo
22
TN Thực nghiệm
23
SH Sinh học
24
SGK Sách giáo khoa
25
SGV Sách giáo viên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã đƣợc Đảng, Nhà nƣớc
và Bộ GD& ĐT đặc biệt chú ý trong những năm gần đây và đã đƣợc đề cập
trong nhiều văn bản có tính pháp lí cao
Nghị quyêt hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã chỉ
rõ: “Tập trung đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học,…”[9].
Báo cáo của Bộ Chính trị tại hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX đã đề ra những nhiệm vụ đổi mới từ năm 2001- 2010 trong
đó có nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo: “Tập trung
vào việc chỉ đạo đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, sử dụng công nghệ thông tin tiếp cận với trình
trong đó điều quan trọng là sự truyền thông tin, lĩnh hội và xử lí thông tin. Sự
truyền thông tin được diễn ra trên các kênh: kênh thị giác, kênh thính giác và kênh
khứu giác, trong đó kênh thị giác là kênh có khả năng truyền thông tin lớn nhất
điều đó cho thấy việc sử dụng các phương pháp trực quan trong dạy học sẽ tạo điều
kiện cho học sinh hình thành khái niệm nhanh hơn, ghi nhớ tốt hơn, học tập chất
lượng hiệu quả hơn. Phương pháp trực quan luôn gắn liền với việc sử dụng các
phương tiện trực quan như: máy chiếu, mô hình, tranh vẽ... ngoài các phương tiện
vật chất hoá thì phần mềm dạy học đã và đang thể hiện ưu thế của mình.
Phần mềm dạy học là một phương tiện trực quan hữu hiệu có tác dụng
kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, giúp người dạy học
thực hiện tốt việc phân hoá, cá thể hoá trong dạy học. Đây cũng là một trong
những lí do mà Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã đề ra kế hoạch thực hiện
„„Năm học 2008 - 2009 là năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT…”[5].
1.3. Xuất phát từ những ƣu điểm của phần mềm PowerPoint
PowerPoint là phần mềm có sẵn trong Microsoft Office 97/2000/XP/2003.
Với những tiện ích kì diệu và dễ sử dụng của nó mà trong thời gian gần đây phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
mềm này đã thu hút rất nhiều giáo viên nghiên cứu và sử dụng trong dạy học ở các
trường phổ thông nước ta.
PowerPoint có nhiều tính năng ưu việt như: Tạo một trình diễn bằng mẫu
thiết kế, khả năng định dạng văn bản, các chức năng lập dàn bài và tổ chức trình
diễn. Khả năng trình diễn của PowerPoint rất linh hoạt. Với số lượng lớn các
hiệu ứng PowerPoint cho phép trình bày bài giảng một cách khoa học, rõ ràng,
hình ảnh sinh động có sự kết hợp hài hoà và sắp xếp các đề mục logic. Nhờ sử
dụng PowerPoint mà việc dạy và học trở nên hấp dẫn hơn, học sinh dễ tiếp thu
bài giảng hơn.
Phần mềm PowerPoint rất hữu ích trong thiết kế các trình diễn phục vụ dạy
học nhưng hiệu quả sử dụng nó thực sự vẫn chưa cao. Các hiệu ứng sẵn có của
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Các tài liệu
của Đảng, Nhà nước và của Ngành GD& ĐT về việc đổi mới phương pháp dạy
học, về việc tăng cường ứng dụng tin học trong dạy học; phần mềm PowerPoint;
Một số công trình nghiên cứu và giáo án Sinh học 9 có sử dụng phần mềm
PowerPoint trong thiết kế bài giảng và mô hình động. SGK và SGV Sinh học 9
và một số trang Web về giáo án điện tử...
4.2. Phương pháp điều tra
- Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Điều tra về chỉ đạo thực hiện ứng dụng CNTT
trong dạy học.
- Đối với đội ngũ giáo viên phổ thông: Điều tra hiện trạng ứng dụng PowerPoint
trong dạy học các môn học nói chung và môn Sinh học nói riêng; Hiệu quả sử
dụng mô hình động dạy học phần di truyền Sinh học 9- THCS.
- Đối với học sinh: Thăm dò thái độ của học sinh về tác dụng việc sử dụng mô
hình động trong dạy học.
4.3. Trưng cầu ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành Phương pháp dạy học Sinh
học, chuyên ngành Tin học, một số nhà quản lý giáo dục và giáo viên dạy học bộ
môn Sinh học ở trường THCS về hiệu quả sử dụng mô hình động trong day học.
4.4. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS thuộc khu vực huyện Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Yên, tỉnh Bắc Giang bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng mô hình động trong
dạy học các cơ chế, quá trình sinh học phần di truyền Sinh học lớp 9- THCS.
4.5. Phương pháp phân tích số liệu bằng toán học thống kê.
5. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU: Mô hình động dạy học phần di truyền Sinh
học lớp 9- THCS bằng phần mềm PowerPoint.
- KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: Quá trình dạy học Sinh học 9- THCS.
thế giới
Khoảng 20 năm trở lại đây, máy tính điện tử đã trở thành công cụ không
thể thay thế được trong phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và nghiên cứu
khoa học. Nhiều nước như Pháp, Anh, Nhật.... đã xác định chiến lược phát triển
ứng dụng CNTT, một mặt quan trọng của chiến lược đó là giáo dục tin học phổ
thông. Vì vậy, họ đã đầu tư xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho các
viện nghiên cứu và cho các trường học. Việc đưa tin học vào trường phổ thông
trên thế giới hình thành hai xu hướng: Một là đưa tin học vào nội dung dạy học,
hai là sử dụng máy vi tính như công cụ dạy học.
Người ta rất quan tâm đến việc phân biệt giữa dạy học về máy tính và dạy
học với sự trợ giúp của máy tính. Nhật Bản đã xác định vai trò của máy tính
dùng để hỗ trợ quá trình giáo dục là rất quan trọng và đã đầu tư theo hướng này
với tốc độ phát triển nhanh chóng.
Tuỳ từng điều kiện cụ thể, mỗi nước có cách đi và phương hướng phát triển
riêng. Tuy nhiên, các nước trên đều có xu hướng chung là từng bước đưa nội
dung tin học vào phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và sử dụng máy
tính điện tử như công cụ trợ giúp cho dạy- học. Đa số các nước đều quan tâm
đến phương pháp dạy học như thế nào để học sinh nhanh chóng lĩnh hội được tri
thức cơ bản và tự học để hoàn thiện kiến thức. Trong đó, hầu hết các nước đều
phát triển phương pháp dạy cách tự học cho học sinh.
Cùng với sự phát triển của máy tính điện tử là sự phát triển của các phần
mềm hệ thống và ứng dụng. Hầu hết người sử dụng máy tính trên thế giới đã
quen với các phần mềm nổi tiếng như WinDows, Foxpro, Visual Basic... Từ nửa
sau của thế kỉ 20 sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt. Các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
phần mềm ứng dụng ngày càng được sử dụng nhiều hơn và ngày càng phát huy
thế mạnh của chúng trong lĩnh kinh tế, kĩ thuật, khoa học và giáo dục. Nhiều
phần mềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời. Phần mềm tin học là một
nghiên cứu xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều phần mềm dạy học về mô
phỏng, thí nghiệm ảo... trong dạy và học nhiều môn học ở trường phổ thông và
cho kết quả tốt. Ví dụ, một số chương trình nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy
học như:
- Đề án: “Tin học cho mọi người” năm 1970 do Pháp xây dựng.
- Chương trình MEP (Microelectonics Education Programe) năm 1980 do Anh
xây dựng.
- Đề án: CLASS (Computer Literacy And Studies in School) của Ấn Độ năm 1985.
- Chương trình phần mềm các môn học ở trung học của Australia do tổ chức
NSCU (Nationnal Software- Cadination Unit ) thành lập năm 1985.
- Hội thảo xây dựng các PMDH của các nước khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Xerilanca) năm
1985 ở Malaysia.
Việc đào tạo từ xa của các trường đại học cũng như các trung tâm nghiên
cứu đã được thực hiện trên cơ sở xây dựng hệ thống thư viện điện tử và tra cứu
thông tin qua mạng Internet.
Hiện nay, đã có phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học,
trong đó có các phần mềm về lĩnh vực dạy học SH:
- Phần mềm Biology trong Encarta (từ điển bách khoa toàn thư) gồm các kiến
thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu sinh lý, quá trình phát
triển phôi sớm...
Nhìn chung, phần mềm nước ngoài có giao diện sinh động, có âm thanh,
màu sắc trung thực, nhưng bằng tiếng nước ngoài nên khả năng sử dụng cho GV và
HS rất hạn chế. Một điều đáng nói là nội dung các phần mềm đó có ở khắp các cấp
học, chỉ phù hợp cho việc tham khảo, minh hoạ của GV khi cần thiết, không phù
hợp với chương trình SGK mới ở cấp tiểu học, THCS, THPT hiện hành. Chính vì
vậy, chúng tôi cho rằng nghiên cứu để tự thiết kế mô hình động bằng công cụ sẵn
có trong máy vi tính để chủ động sử dụng trong dạy- học là việc làm rất cần thiết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
học hóa học [22]. Tác giả cho rằng: Chỉ cần những minh họa đơn giản, có thể
hiểu được cơ chế của một số phản ứng hữu cơ xảy ra như thế nào, điều mà rất
khó có thể chứng minh được bằng thí nghiệm hóa học thông thường. Bùi Thị
Hạnh đã nghiên cứu sử dụng phần mềm PowerPoint dạy học một số nội dung
trong bài “Ancol” đã giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian, nhấn mạnh được
trọng tâm vấn đề.
Năm 2007, Nguyễn Mạnh Hưởng đã nghiên cứu thiết kế bài giảng “Cách
mạng tháng Tám” với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint [18]. Theo tác giả,
phần mềm này có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giúp học sinh đi từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng, hiểu đúng bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Vấn đề ứng dụng CNTT trong GD& ĐT được Đảng và Nhà nước ta rất coi
trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện
đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính
phủ, Bộ GD& ĐT đã thể hiện rõ điều này (Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII,
Chỉ thị số 29 của Bộ GD& ĐT (30/7/2001/CT)). Đặc biệt, chiến lược phát triển
GD& ĐT 2001 - 2010 của Bộ GD& ĐT đã yêu cầu ngành GD& ĐT phải từng
bước phát triển dựa trên CNTT, vì: “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những
thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD& ĐT, trong chuyển tải nội dung chương
trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học” [35].
1.1.3. Một số nghiên cứu ứng dụng tin học trong dạy học Sinh học
Hiện nay việc áp dụng CNTT trong dạy học Sinh học đã giúp học sinh
hiểu bài một cách dễ ràng, sâu sắc và chính xác. Đã có một số tác giả nghiên
cứu về sử dụng tin học trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông.
Năm 2002, tác giả Dương Tiến Sỹ đã sử dụng phần mềm PowerPoint thiết
kế các trình phim để dạy khái niệm môi trường và các nhân tố sinh thái. Tác giả
thiết kế được một sơ đồ hoàn chỉnh bao gồm nhân tố sinh thái tác động vào đời
sống cây xanh, các nhân tố đó được xếp vào nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh,
ngay trong thời gian tới. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cũng đã mạnh dạn ứng
dụng những thành tựu của tin học trong dạy học: Biên soạn bài giảng, thiết kế
mô hình, xây dựng ngân hàng câu hỏi, tổ chức đề thi... và đã thu hút được nhiều
các bạn đồng nghiệp và học sinh. Tác giả cho rằng các GV không phải chuyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
ngành tin học thì việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu của tin học là quan trọng
nhất và cần phải làm được ngay. Thực tế, có nhiều phần mềm có sẵn, dễ sử
dụng, hiệu quả tốt... nhưng do mắc chứng bệnh ”sính cái mới” nên chúng ta lại
không biết khai thác các tính năng kì diệu của nó mà ngược lại chúng ta lại đi
tìm những phần mềm cao cấp, không có sẵn, phức tạp, khó sử dụng, và nhiều
phần mềm còn phải đăng kí và trả tiền. Điều này đã làm giảm đi rất nhiều công
việc triển khai thực hiện và hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông trong dạy học của đội ngũ GV ở nước ta, trong đó đặc biệt là ở các
trường học thuộc khu vực miền núi. Các công trình nghiên cứu của tác giả đã
thể hiện điều đã nói trên đây:
- Hình thành biện pháp đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học bộ
môn Phương pháp dạy học Sinh học ở khoa Sinh- KTNN trường ĐHSP Thái
Nguyên [14].
- Sử dụng PowerPoint thiết kế giáo án hướng dẫn tự học trong dạy học Sinh học [13].
- Sử dụng PowerPoint xây dựng một số thí nghiệm ảo trong dạy học Sinh học
11[13].
- Ứng dụng phần mềm EMP- TEST biên soạn câu hỏi, đề thi trắc nghiệm khách
quan kết quả học tập của học sinh [15].
- Sử dụng PowerPoint thiết kế giáo án điện tử dạy học Sinh học 6 [16].
Bên cạnh các công trình của các tác giả nói trên, trong thực tiễn còn có
các công trình của một số tác giả khác nữa thuộc các bộ môn khoa học ở các cấp
học khác nhau. Công sức và trí tuệ của các tác giả đó thực sự là những ngọn lửa
cùng thắp sáng cho ngọn đuốc ứng dụng CNTT trong dạy- học do Bộ GD& ĐT
viên cũng đã biên soạn được giáo án ĐT so với yêu cầu thì chưa đạt, còn lại chỉ
có 9% giáo viên biết thiết kế mô hình động, song qua trao đổi và tìm hiểu thì
những mô hình vẫn chỉ ở mức độ đơn giản và hiệu quả đạt được vẫn chưa cao.
Như vậy, có thể nhận xét rằng: Khả năng ứng dụng phần mềm
PowerPoint của đa số các GV Sinh học còn rất hạn chế. Kết quả điều tra bảng 2
trên và những nhận xét của chúng tôi nêu ra trên đây cũng tương tự với kết quả
điều tra và đánh giá do Nguyễn Đình Tâm thực hiện năm 2008 về thực trạng
ứng dụng tin học trong dạy học sinh học của 90 giáo viên THPT ở 4 tỉnh: Lạng
Sơn, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn: [32].
Bảng 3: Thực trạng ứng dụng tin học trong dạy học sinh học Stt
Phần mềm
Thực trạng sử dụng Mức độ sử dụng
Đã
sử dụng
Chƣa sử
dụng
Thành
thạo
Chƣa
thành
thạo
SL % SL % SL % SL %
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
1 Microsoft Word 65 72 25 28 17 19 48 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
nhất. Từ cổ xưa, người ta đã sử dụng nó trong quá trình truyền đạt những kinh
nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, ở những chỗ mà lời giảng không đủ để đảm bảo cho
trẻ em hiểu thấu được đối tượng.
J.A.Cômenxki (1592 - 1679) nhà giáo dục nổi tiếng Slovakia được xem là
người đầu tiên nêu ra luận đề cơ bản về giảng dạy trực quan. Theo ông, không
hề có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảm giác. Vì vậy,
dạy- học không thể bắt đầu từ sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp của chúng.
Trực quan được xem là một phương tiện phản ánh khách quan, trung thực vào
đối tượng và các quá trình của thế giới hiện thực, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ
với việc phát triển tư duy trừu tượng của HS [37].
PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạt
động dạy học ở tất cả các khâu của QTDH. Nó không thể thiếu trong việc vận
dụng phối hợp các PPDH cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh
giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của
HS một cách hiệu quả, sánh tạo.
PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin nhằm đáp
ứng nhu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư phạm. Tuy nhiên,
PTTQ có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ sư phạm
trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của người GV. Nếu trong giờ
học, PTTQ được sử dụng không hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu về mặt sư
phạm và kinh tế. Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của
HS, lãng phí thời gian và tiền của. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng
hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng các PTTQ phải gắn liền với
việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả cho đội ngũ GV. Đây cũng chính là một
vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ, và là một khâu yếu nhất trong nhà trường
phổ thông hiện nay.
Trong lí luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin
chất. Mô hình chỉ phản ánh một số tính chất của đối tượng vật chất. Cùng một
đối tượng vật chất nhưng có thể có nhiều mô hình khác nhau và mô hình không
đồng nhất với đối tượng mà nó phản ánh. Như vậy theo cách hiểu này thì “mô
hình” thuộc về nhóm các vật tượng hình. Tuy nhiên mô hình gồm những dạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
nào? thì còn là vấn đề đang bàn cãi. Ví dụ như ta có thể phân mô hình trong lĩnh
vực vật lí thành 2 loại:
- Mô hình vật chất: Là mô hình bằng vật thể trên đó phản ánh những đặc trưng
cơ bản về mặt hình học, vật lý học, động lực học, chức năng học của đối tượng
nghiên cứu.
Ví dụ: Mô hình máy bay, mô hình hệ mặt trời, mô hình động cơ đốt trong...
loại mô hình này chỉ xảy ra trong giai đoạn thấp của quá trình nhận thức, khi cần
hình thành những biểu tượng hoặc thu thập kiến thức có tính chất kinh nghiệm.
Những kiến thức thu thập được trên mô hình là những tính chất bên ngoài của
hiện tượng, của đối tượng thực.
- Mô hình lý tưởng (hay mô hình lý thuyết): Là những mô hình trừu tượng, trên
đó về nguyên tắc người ta chỉ áp dụng những thao tác tư duy lý thuyết. Các phần
tử của mô hình và đối tượng nghiên cứu thực có thể có bản chất vật lý hoàn toàn
khác nhau nhưng hoạt động theo những quy luật giống nhau. Dạng mô hình này
có rất nhiều loại, tùy theo mức độ trừu tượng khác nhau.
+ Mô hình ký hiệu: mô hình công thức toán, mô hình đồ thị, mô hình lô gíc toán.
+ Mô hình biểu tượng: Là dạng trừu tượng nhất của mô hình lý tưởng. Những
mô hình biểu tượng không tồn tại trong không gian, trong thực tế mà chỉ có
trong tư duy của ta chỉ nêu algorit đã tạo ra mô hình rồi hình dung nó trong óc,
chứ không cần làm ra mô hình cụ thể. Với sự hình dung đó người ta có thể hiểu
được đối tượng cần nghiên cứu bằng suy luận lôgíc. Ví dụ mô hình phân tử
trong thuyết động học phân tử của chất khí là mô hình mang nhiều đặc tính
không thể diễn tả được bằng một vật cụ thể hay một kí hiệu, mà được mô phỏng
thí nghiệm của
Men đen
(Từ bài 1 đến
bài 7)
Chương này đề cập đến:
- Nhiệm vụ, nội dung vai trò của di truyền học.
- Men đen, người đặt nền móng của di truyền học, phương
pháp nghiên cứu di truyền độc đáo và ý niệm về gen (nhân tố
di truyền) của ông.
- Kết quả thực nghiệm lai một cặp tính trạng và giải thích
theo quan niệm của Men đen, sơ đồ lai từ P -> F2.
- Tương quan trội lặn hoàn toàn và không hoàn toàn.
- Nội dung và vận dụng quy luât phân li giải thích các hiện
tượng trong sản xuất và đời sống.
- Mục đích và thực chất các phương pháp phân tích di truyền:
Phân tích các thế hệ lai và lai phân tích.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
- Kết quả lai 2 cặp tính trạng và giải thích theo Men đen, sơ
đồ lai từ P -> F2.
- Nội dung, bản chất, ý nghĩa của quy luật phân li độc lập
Chương II:
Nhiễm sắc thể
(Từ bài 8 đến
bài 14)
Prôtêin.
- Mối quan hệ giữa ARN và Prôtêin thông qua sự hình thành
chuỗi axít amin. Mối quan hệ giữa gen và tính trạng thông
qua sơ đồ: Gen -> ARN -> Prôtêin -> Tính trạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
1.3.2. Kênh chữ và kênh hình trong SGK phần di truyền Sinh học 9 THCS:
* Kênh chữ: bao gồm các nội dung:
- Tên bài học.
- Nội dung bài học: được trình bày theo các đề mục.
- Phần củng cố bộ phận sau mỗi mục: các câu hỏi, bài tập sau các kí hiệu ở
cuối mỗi mục.
- Phần tóm tắt những nội dung chính của bài học là những kiến thức HS cần
phải ghi nhớ, lĩnh hội được trình bày trong khung, chữ in nghiêng.
- Phần củng cố và vận dụng kiến thức toàn bài được trình bày dưới dạng câu hỏi,
bài tập ở cuối bài, có phân hóa trình độ HS.
- Hầu hết các bài đều có phần tư liệu bổ sung ngắn gọn, súc tích qua mục “Em
có biết?”, giúp HS mở rộng kiến thức.
* Kênh hình: Trong SGK, kênh hình vừa là công cụ minh họa cho kiến
thức của bài học, vừa là nguồn tư liệu quan trọng giúp HS tìm tòi, lĩnh hội kiến
thức. Kênh hình trong SGK Sinh học 9 THCS phần di truyền có một số đặc
điểm sau:
- Một số hình đóng vai trò minh họa cho kênh chữ (hình 1.1; hình 1.2; hình 1.3;
hình 2.1; hình 2.2…).
- Một số hình là tư liệu cung cấp thông tin thay cho kênh chữ (hình 2.3; hình 4;
hình 5…).
- Một số hình đã phát huy được tính tích cực tìm tòi kiến thức của HS (hình
19.1; 19.3…).