TIỂU LUẬN "Công nghiệp hóa hiện
đại hóa ở Việt Nam"
1
trình tự hợp lí để tiến hành công nghiệp hoá. Song hiện nay cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ đang tác động một cách sâu rộng trên phạm vi toàn th
ế
giới khoảng thời gian để phát minh mới ra đời thay thế phát minh cũ ngày càng
được rút ngắn lại, xu hướng chuyển giao công nghệ giữa các nước ngày càng trở
thành đòi hỏi cấp bách, không chỉ đối với các nước lạc hậu, mà ngay cả đói với
2
các nước phát triển. Thực tế cho thấy có thể chuyển giao một cách có hiệu quả
cho các nước đi sau khi mà các nước đi sau đã có sự chuẩn bị kĩ càng để đón
nhận. Vấn đề đặt ra là các nước đi sau trong đó có nước ta cần phải làm ngững
gì đẻ iếp nhận một cách có hiệu quả nhất những thành tựu mà các nước đi trước
đã đạt
được. Bài học thành công trong quá trình công nghiệp hoá của các nước
NIC đã chỉ ra rằng: việc xây dựng một cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa với
bên ngoài ngằm tiếp nhận một cách có chọn lọc những thành tựu của các nước
đi trước kết hợp với việc đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, đó chính là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất quyế
t định sự thành công
của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá. 3
CHƯƠNG
I
: CỞ SỞ LÝ LUẬN
1. Nội dung khoa học công nghệ
Hiện nay cuộc cách mạng khoa học- công nghệ có nhiều nội dung phong
phú, trong đó có thể chỉ ra những nội dung nổi bật sau:
triển. Khoa học và công nghệ là cái không thể thiếu được trông đời sống kinh tế
– văn hoá của một quốc gia. Vai trò này của khoa học và công nghệ càng trở lên
đặc biệt quan trọng đối với nước ta đang trên con đường rút ngắ
n giai đoạn phát
triển để sớm trở thành một xã hội hiện đại. Ngay từ khi bắt đầu tiến hành công
cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định khoa học và công nghệ là cái giữ vai
trò quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản
lý, bản đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đấ
t nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn
minh, khoa học và công nghệ phải trở thành “quốc sánh hàng đầu”.
Nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh
CNH- HĐH. Nghị quyết Trung ương hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã xác định rõ :”CNH- HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học
và công nghệ” “khoa học và công nghệ phải trở thành nề
n tảng và động lực cho
CNH- HĐH”. Chỉ bằng con đường CNH- HĐH, phát triển khoa học và công
nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh
văn minh. Việc đưa khoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập những tri thức
khoa học và công nghê cần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu
cấp thiết của xã hội ta hiệ
n nay. Nghị quyết trung ương II cũng đã nhấn mạnh
phải thật sự coi “Sự phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng
của toàn dân, phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng. Bởi lẽ dù
chúng ta có tiến hành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, có đưa trang thiết
bị kỹ thuật tân tiến nhất, những quy trình công nghệ hiện đại nhất vào nước ta
thì cũng không có gì để có thể bả
o đảm đẩy mạnh được CNH- HĐH. Nếu không
có được những con người am hiểu và sử dụng chúng. Do đó, xã hội hoá tri thức
khoa học và công nghệ là một trong những nhu cầu thiết thực và cấp bách nhất
những điều kiện riêng của đất nước mình cho nên cách mạng KH- KT ở những
nước khác nhau cũng mang những màu sắc, những đặc điểm khác nhau. Do đó,
khi xem xét cuộc cách mạng KH- KT ở nước ta cần phải đặt nó trong bối cảnh
chung của cách mạng KH- KT trên thê giới.
Sau khi giành được độc lập về chính trị, nước ta có nguyện vọng sử dụng
những thành tự
u của cuộc cách mạng KT- CN hiện đại, muốn tiến hành cuộc
cách mạng đó để phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học và kỹ thuật để đưa đất
nước ta khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Nguyện vọng đó là hoàn toàn
chính đáng. Tuy nhiên, việc tiến hành cách mạng KH- CN ở nước ta gặp phải
những khó khăn lớn, do nhiều nguyên nhân
Trước hết, nước ta còn ở tình trạng lạc hậu về
mặt kinh tế, khoa học và
công nghệ. Nông nghiệp và công nghiệp chưa hết hợp thành một cơ cấu thống
nhất, sự mất cân đối trong các ngành kinh tế quốc dân trở nên trầm trọng
Về mặt văn hoá, khoa học và công nghệ thì số đông dân cư nước ta vẫn ở
tình trạng mù chữ, thiếu lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu
cán bộ văn hoá và kỹ thuật. Thêm vào đó, sự tă
ng dân số quá nhanh đã gây ra
7
những khó khăn cho việc bảo đảm lương thực, giải quyết công ăn việc làm cho
những người lao động
Ngoài những khó khăn trong nước, nước ta còn phải chịu những di sản
nặng nề do sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân để kại, đồng
thời các cường đế quốc lại đang thực hiện chính sách kìm hãm sự
phát triển
khoa học và kỹ thuật nhằm duy trì tình trạng bất bình đẳng của họ trong sự phân
công lao động quốc tế
Nếu nước ta sau khi đã được giải phóng khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa đế
n với hiện đại hoá
Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi hỏi
chúng ta phải phát triển khoa học và công nghệ. Để chuyển sang nền kinh tế thị
trường hiện đại từ điểm xuất phát thấp, nước ta không thể đi theo các bước tuần
tự như các nước đi trước đã làm, mà phải phát triển theo kiểu “nhảy vọt”,”rút
ngắn”. Đây vừa là cơ hội để tận dụng lợi thế của nước phát triển sau, vừa là
thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Muốn phát triển nhanh kinh tế thị trường theo
cách thức như vậy, nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển khoa học- công nghệ.
Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ đối với nước ta không chỉ
bắt nguồn từ đòi h
ỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, về bản chất, là một kiểu định hướng tổ chức nền kinh tế- xã hội
vừa dựa trên nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị
trường, vừa dựa trên nguyên
tắc và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Định hướng này không chỉ đòi hỏi nền
kinh tế tăng trưởng ở mức cao mà còn đòi hỏi phải xây dựng một xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh.Ở đó, phát triển con người và phát triển xã hội bền
vững được coi là trung tâm. Đâu là con đường phát triển chưacó tiền lệ. Muốn
đạt tới đó, chúng ta ph
ải có nỗ lực và sáng tạo rất cao, phải biết vận dụng những
thành tựu mới nhất của nhân loại, tránh những sai lầm mà các nước khác đã vấp
phải. Nếu không đủ trình độ trí tuệ, không đủ năng lực nội sinh thì khó có thể
thành công. Do vậy, đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật càng trở nên rất
quan trọng và bức thiết.
2.Về hướng tác động của KH- CN
9
a. Tập trung nỗ lực tiến hành cải tạo, đồng bộ, hoá và hiện đại hoá có
việc giải quyế
t các nhu cầu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công
nghiệp nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt
10
Những phân tích nêu trên đã tới gợi ý quan trọng là chiến lược phát triển
khoa học và kỹ thuật không thể không quan tâm đến việc nâng cao trình độ kỹ
thuật và công nghệ ,cải tiến .. và nên coi đây là một hướng có ý nghĩa chiến lược
cả trước mắt và lâu dài .
d.Kết hợp hữu cơ việc tập trung nỗ lực giải quyết các vấn đề trước mắt và
tiếp tục t
ăng cường tiềm lực khoa học và kỹ thuật nhằm đáp ứng những yêu
cầu mới của giai đoạn phát triển tiếp theo
3. Vai trò của KH- CN đối với một số lĩnh vực
a. Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển
nông thôn
Gần 20 năm qua sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt được
những thành tựu to lớn góp phần quan trọng ổn đị
nh và phát triển kinh tế xã hội
đưa nước ta bước sang giai đoạn mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.Tuy nhiên cho đến nay với gần 80% dân số của cả nước sống ở nông
thôn, trong đó tỷ lệ đói nghèo vẫn còn trên 22%, có nơi như ở một số huyện
miền núi còn trên 42%(theo chuân ngheò mơí). Mặt khác cũng do nền kinh tế
nước ta mới bước đầu chuyển từ nề
n sản xuất theo cơ chế tập trung, quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá còn rất thấp so với nhiều nước
trong khu vực và thế giới. Điều đó làm cho thu nhập và tích luỹ của đại bộ phận
dân cư nông thôn còn bấp bênh, sức mua có khả năng thanh toán về tư liệu sản
xuất và tư
chung, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá còn thấp
so với các nước trong khu vực và trên thế giới, khiến cho các sản phẩm làm ra
tiêu thụ khó khăn, ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập của người sản xuất. KH-CN
chưa có sự tác động cần thiết và hiệu quả bản đảm tính ổn định, bề
n vững của
nông sản hàng hoá khi gặp phải rủi ro của thiên tai và thị trường
- Phát triển công nghệ chế biến là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thực
hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhưng phát triển công nghiệp, chế
biến như thế nào lại là vấn đề bức xúc đang đòi hỏi nghiên cứu và làm rõ
- Gần đây, Nhà nước tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vậ
t chất kỹ
thuật cho nông nghiệp, nông thôn. Hiện có rất nhiều vấn đề về kỹ thuật để bảo
đảm hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước chưa được giải quyết tốt. Do đó, nông
nghiệp, nông thôn đang rất cần có sự tác động của lực lượng KH- CN
12
Tình hình trên khẳng định vai trò của KH- CN trong quá trình thực hiện
CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay và đó cũng chính là
những yêu cầu bức xúc đặt ra đối với các nhà khoa học vì sự phát triển của nông
nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để huy động được các lực lượng KH- CN phục vụ
nông nghiệp, nông thôn, chú ý các vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành
và các chính sách tác động, trong đó cốt lõi là giải quyết h
ợp lý lợi ích cho
người làm nghiên cứu, triển khai các thành tựu của KH- CN.
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật phục vụ kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một việc làm hiệu quả, đã
khẳng định vai trò, động lực chủ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, cần tổ chức, vận động thành phong trào rộng lớn
đư
a KH- CN về phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nhằm tạo ra
đoạn nhất định. Nhưng để tranh thủ tân dụng và phát huy được hết tiềm năng
của cơ hội bên ngoài này thì điều kiện tất yếu và tối thiểu là ở bên trong phải
chuẩ
n bị xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và bồi dưỡng nhân tố con người lao
động ở một nức độ tương ứng, thích đáng. Kinh nghiệm thế giới về việc giải
quyết mối quan hệ “ con người- tư kiệu sản xuất- khoa học” một cách cân đối,
hài hoà để tạo ra hiệu quả tổng hợp tối đa và tối ưu về kỹ thu
ật là khá toàn diện
và
phong phú
Việc xây dựng rõ vị trí tương quan vai trò và ảnh hưởng của KH- CN trong
hệ thống các thành tố lực lượng sản xuất như trên đã đồng thời làm sáng tỏ giới
hạn tác động của nó về mặt xã hội. Sự phát triển của khoa học không trực tiếp
dẫn tới sự thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ sở hữu. Trái lại, vai trò “ cách
mạng hoá “ c
ủa khoa học đối với việc thúc đẩy sự tăng trưởng của lực lượng sản
xuất lại bị chế ước bởi một quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng xã hội
nhất định. Nói cách khác, tiềm năng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển của
khoa học là vô tận, nhưng mức độ, giới hạn hiện thực hoá tiềm năng này l
ại phụ
thuộc “ khuôn khổ “ của quan hệ sản xuất thống trị
Tuy nhiên, sự phát triển như vũ bão của cách mạng KH- CN hiện đại đang
diễn ra từng ngày, từng giờ ở khắp mọi nơi trên thế giới đã có tác dụng cụ thể.
Sức tiến công vũ bão của phong trào giải phong dân tộc, giai cấp tư sản đã chủ