HỆ THỐNG HƯU TRÍ VIỆT NAM:
Hiện trạng và những thách thức
trong điều kiện dân số già hoá
GIANG THANH LONG* Tháng 4, 2004
Diễn đàn Phát triển Việt nam * Giang Thanh Long là giảng viên trường ĐH Kinh tế quốc dân, Hà nội; là nghiên cứu viên của
Diễn đàn Phát triển Việt nam. Bạn đọc có thể liên lạc với tác giả qua địa chỉ:
Tóm tắt
Bài viết này đề cập đến hệ thống hưu trí PAYG với mức hưởng được xác
công thức đưa ra.
Hệ thống có mức hưởng được xác định theo mức đóng. Là hệ thống mà mức hưởng được
xác định dựa trên khoản đóng góp của từng cá nhân theo tài khoản của họ cùng với
lợi tức thu được từ khoản đầu tư khi những người này thoả mãn các điều kiện nhất
định do hệ thống đưa ra. Người lao động là người chịu rủi ro tài chính.
Nợ lương hưu tiềm ẩn (ròng).
Chênh lệch giữa tổng mức chi trả với tổng mức dự trữ của quỹ
hưu trí.
Hệ thống tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC). Là hệ thống mà sự tham gia của người lao
động được ghi chép lại bằng tài khoản dưới dạng sổ sách (ví dụ như sổ bảo hiểm
chẳng hạn), và cuốn sổ đó ghi lại mức đóng góp cùng với mức lãi suất được hưởng
do chính phủ quy định, nhưng quỹ hưu trí không bao giờ tích luỹ thực sự trong
những tài khoản này. Thay vào đó, tiền đóng góp được sử dụng để chi trả chi những
người hưởng hiện tại, và những tài khoản đóng góp là tài khoản không tích luỹ hay
tượng trưng mà thôi. Khi người lao động đến tuổi về hưu, tài khoản tượng trưng của
anh/chị ta sẽ được chuyển thành khoản tiền hưởng đều hàng năm (nhiều hay ít phụ
thuộc vào thời gian nghỉ hưu dự tính và lãi suất) và khoản tiền này được lấy từ khoản
đóng góp của người lao động vào thời điểm đó - những người đang đóng góp để tạo
dựng cho mình một tài khoản nhất định.
Tỷ lệ phụ thuộc người già. Tỷ lệ giữa dân số trên 60 tuổi so với dân số từ 15 đến 60 tuổi.
Pay-as-you-go (PAYG). Là hệ thống an sinh xã hội mà khoản tiền thu được hiện tại (hầu hết
từ các khoản đóng góp, ví dụ như một phần nhất định trong tổng quỹ lương) được sử
dụng để chi trả cho chi phí hiện tại.
Tỷ lệ chi phí PAYG. Là tỷ lệ giữa tổng mức chi phí với tổng mức thu từ đóng góp của hệ
thống. Nó cho biết tỷ lệ đóng góp cần thiết để đảm bảo quỹ cân bằng.
Tỷ lệ thay thế. Tỷ lệ mức hưởng so với mức đóng (tính trung bình).
Tổng tỷ suất sinh. Số trẻ em mà một phụ nữ có thể có nếu chị ta sống hết độ tuổi sinh đẻ, và tỷ
lệ này được phân chia theo các lứa tuổi khác nhau.
Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em.
Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi so với dân số từ 15 đến 60 tuổi.
vào năm 1990 và 2001; và tỷ lệ sinh giảm từ 6 trẻ em/1 phụ nữ vào năm 1960 xuống
tương ứng 3,4 and 2,33 vào năm 1990 và 2001 (Tổng cục Thống kê, 2002). Theo dự
báo dân số của Liên hợp quốc (2002) cho Việt nam, vào năm 2050, dân số từ 60 tuổi trở
lên sẽ chiếm 24% tổng dân số; và tỷ lệ phụ thuộc người già và dân số tương ứng sẽ là
42% và 77%. Bên cạnh đó, hệ thống hưu trí PAYG có mức hưởng được xác định trước
do nhà nước quản lý hiện nay của Việt nam thường trong tình trạng không ổn định về
mặt tài chính do số người tham gia hệ thống có hạn, mức đóng góp thấp trong khi tỷ lệ
thay thế lại khá cao. Sự phức hợp của những nhân tố này sẽ dẫn đến một hậu quả nhãn
tiền: sự bất ổn của hệ thống do những tác động tiêu cực về mặt tài chính. Một đánh giá
thống kê gần đây đối với hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt nam cho thấy rằng quỹ bảo
hiểm sẽ cạn kiệt vào năm 2030 nếu như chúng ta không thực hiện chính sách cải cách
*
Ví dụ, Hagemann và Nicoletti (1989), Auerbach và cộng sự (1989), Holzmann (1997, 1998), và Holzmann và
cộng sự (2001).
2
hệ thống (Tổ chức Lao động quốc tế - ILO, 1998). Đây chính là nguy cơ đối với hệ
thống hưu trí Việt nam trong tương lai gần, và việc lựa chọn các chính sách nhằm duy
trì nó một cách bền vững là điều cần làm ngay.
Bài viết này sẽ phân tích sự bền vững về mặt tài chính của hệ thống hưu trí Việt
nam cho đến năm 2050. Hai khía cạnh là sự bất ổn định về mặt tài chính và sự bất công
bằng giữa các thế hệ tham gia hệ thống sẽ được trình bày cụ thể trong bối cảnh Việt
nam vẫn tiếp tục duy trì hệ thống này. Trong phần cuối cùng, bài viết gợi ý một số
phương thức chính sách để cải cách hệ thống nhằm ổn định và đảm bảo sự công bằng
giữa các thế hệ.
II. HỆ THỐNG HƯU TRÍ VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG VÀ NHỮNG THÁCH
THỨC
Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ tham gia hệ thống rất thấp vì số lượng người tham
gia chủ yếu từ khu vực nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, và có rất ít
người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo thống kê của Bảo hiểm
xã hội Việt nam (2001), tỷ lệ tham gia hệ thống đối với khu vực nhà nước là khoảng
95% đối với công chức và 93% đối với lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà
nước. Số lao động khu vực nhà nước tham gia hệ thống chiếm 86%, trong khi khu vực
tư nhân chỉ chiếm 14% (Hình 1). Điều này có thể thấy rõ hơn trong Bảng 1.
Hình 1. Số lượng người đang trực tiếp tham gia hệ thống
phân theo khu vực kinh tế trong năm 2000 (1000 người)
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
Bảng 1. Tham gia hệ thống hưu trí của các thành phần kinh tế năm 2000
Nhà nước Tư nhân
% Lực lượng lao động 10 90
% Số người đang tham gia 86 14
Tỷ lệ thực hiện (%) 95 27
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2001), Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
hiểm xã hội Việt nam nhận trách nhiệm chi trả toàn bộ cho số người được hưởng lợi
của cả hai hệ thống, và sau đó nó nhận khoản thanh toán từ chính phủ thông qua Bộ Tài
chính (MoF).
Bảng 2. Số người đóng góp và người hưởng năm 2000
Khoản mục
Số người
(1000 người)
Mức lương
trung bình
(1000 đồng)
SỐ LƯỢNG NGƯỜI ĐÓNG GÓP
Công chức nhà nước (gồm cả lực lượng
vũ trang)
1.973 775
Lao động trong các DN Nhà nước 1.854 775
Lao động khu vực tư nhân 649 1.220
Tổng 4.476 840
SỐ NGƯỜI HƯỞNG
1. Hệ thống trước năm 1995 2.168 539
Hưu trí 1589 625
Mất khả năng lao động 427 356
Tai nạn lao động 8 273
Tử tuất 144 125
2. Hệ thống sau năm 1995
243 475
Hưu trí 141 691
Tai nạn lao động 19 339
Tử tuất 83 138
Tổng 2.411 532
Hình 2. Cơ cấu đầu tư của phần dự trữ quỹ bảo hiểm xã hội năm 2000 Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
NH NN &
PTNT
10%
NH Công
thương
8%
Quỹ hỗ trợ
phát triển
40%
Trái phiếu CP
dài hạn
4%
NSNN
Ngu
ồn
: B
ộ Lao động, Thương binh và Xã hội
(2002)Đúng như bản chất của hệ thống PAYG có mức hưởng được xác định trước, phần
đóng góp và phần hưởng lợi của hệ thống hưu trí Việt nam hiện nay không tương thích
Số người về hưu thuộc hệ thống trước năm 1995
25,100 27,400
117, 4 0 0
16 5 , 3 0 0
32,956
48
440
20,708
18,939
15 , 2 7 3
19,908
0
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
35,000
<40 40-44 45-49 50-54 55-59 60+
Độ tuổi
Người
Nam Nữ
7
với nhau nên quỹ hưu trí của thể cạn kiệt trong tương lai. Vấn đề bất ổn về mặt tài chính
của quỹ hưu trí Việt nam càng được thấy rõ hơn trong điều kiện số lượng người được
phép nghỉ hưu sớm khá nhiều (mà cách này từng được coi là cách giải quyết lao động
dư thừa ở các doanh nghiệp nhà nước) và dân số già hoá có thể dự đoán được. Theo báo
cáo của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2001), tuổi về hưu trung bình trong thực
tế thấp hơn gần 5 năm so với quy định; 60% số người nghỉ hưu hiện nay đã về hưu sớm,
và 12% số người nghỉ hưu hiện nay đã nghỉ hưu khi đang còn ở độ tuổi dưới 45 (Hình
3). Điều này cho thấy rằng thời gian nghỉ hưu của những người này sẽ dài hơn khi tuổi
thọ của họ tăng lên, và vì thế mà lượng tiền chi trả cho khoản hưu trí của họ tăng nhanh
quan đến tỷ lệ tham gia hệ thống vẫn còn rất thấp và hiệu quả quản lý còn chưa cao.
Thứ hai là các thách thức trong dài hạn - được coi là hệ quả của các thách thức trong
8
ngắn hạn – có liên quan đến vấn đề dân số già hoá nhanh, và vì thế mà tỷ lệ phụ thuộc
của hệ thống cũng tăng nhanh.
Các thách thức trong ngắn hạn
Như đã đề cập ở trên, trong năm 2000, số người đóng góp cho hệ thống từ khu vực
tư nhân chỉ chiếm 14%, và tỷ lệ thực hiện của khu vực này cũng chỉ đạt 27%. Một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này chính là do quy định về việc
tham gia hệ thống quá hạn hẹp đối với khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, quá trình tái cơ
cấu kinh tế gắn với việc giãn thải lao động nên số lượng lao động trong khu vực nhà
nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, đang giảm xuống. Những lao động bị giãn
thải lại tham gia hoạt động trong khu vực tư nhân nhưng không tái đăng ký tham gia hệ
thống bảo hiểm xã hội nên tỷ lệ tham gia hệ thống giảm xuống.
Một điều cũng đáng lưu tâm là số người về hưu thuộc hệ thống trước năm 1995
chiếm tương ứng 66% và 92% tổng số người hưởng chế độ và tổng số người về hưu, và
phần lớn những người này đã về hưu sớm; do đó, gánh nặng tài chính để chi trả cho
những đối tượng này, thể hiện bằng khoản nợ lương hưu tiềm ẩn (IPD), sẽ tăng lên
trong tương lai khi mức lương hưu tối thiểu được điều chỉnh tăng và người hưởng lợi có
tuổi thọ cao hơn.
Hình 4. Tỷ lệ phụ thuộc dân số của Việt nam, 2000-2050
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
70,000
80,000
Số dân (1000 người)
Tỷ lệ phụ thuộc dân số Tỷ lệ phụ thuộc người già
15-59 60+
Trục trái
Trục trái
Trục phải
Trục phải
9
Chính sách kế hoạch hoá gia đình trong giai đoạn 1970-1990 và sự gia tăng của
tuổi thọ nhờ mức sống được cải thiện là hai nguyên nhân chính làm cho dân số Việt
nam trở nên già hơn. Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc cho Việt nam, dân số già
(từ 60 tuổi trở lên) sẽ chiếm tương ứng 13% và 24% tổng dân số năm 2025 và 2050,
tương ứng gấp hai lần và ba lần so với năm 2000. Hơn nữa, tuổi thọ trung bình của dân
số Việt nam được dự đoán là sẽ tăng từ 69,2 năm vào năm 2000 lên tương ứng 74,1 và
78,2 vào năm 2025 và 2050. Kết quả là, tỷ lệ phụ thuộc người già và dân số tăng lên
nhanh chóng và gây áp lực đối với bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Ví dụ, tỷ lệ
phụ thuộc người già và dân số sẽ tăng tương ứng từ 13% và 69% vào năm 2000 lên
42% và 77% vào năm 2050, trong khi dân số trong độ tuổi lao động sẽ giảm nhanh sau
khi đạt đến con số cao nhất vào năm 2030.
Sự bền vững về mặt tài chính của hệ thống hưu trí Việt nam chịu tác động của rất
nhiều nhân tố. Thứ nhất, tỷ lệ phụ thuộc dân số của hệ thống đang có xu hướng gia tăng
nhanh. Thứ hai, tỷ lệ đóng góp hiện tại thấp hơn so với tỷ lệ đóng góp bền vững – hay