Tài liệu chuyên đề tốt nghiệp "tổng quan về ngân sách xã" doc - Pdf 84

GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN
SÁCH CẤP XÃ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH TRÀ VINH
Giáo viên hướng dẫn: Lê Quang Cường
Họ tên sinh viên: Trần Phạm Phú Quốc
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 1
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH XÃ 1
I. Ngân sách Nhà nước và hệ thống ngân sách 1
1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước 1
2. Bản chất và vai trò của ngân sách Nhà nước 1
2.1. Bản chất 1
2.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước trong cơ chế thị trường. 3
3. Hệ thống ngân sách Nhà nước. 8
3.1 Khái niệm : 8
3.2 Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam. 8
II. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách xã 9
1. Khái niệm, đặc điểm của ngân sách xã 10
1.1 Khái niệm ngân sách xã 10
1.2 Đặc điểm của ngân sách xã 10
2. Vai trò của ngân sách xã 11
III. Nội dung thu – chi ngân sách xã 12
1. Thu ngân sách xã 12
1.1 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%. 12
1.2 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết 13
1.3 Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 14
2. Chi ngân sách xã 14

2.1. Những mặt chung 49
2.2. Về tổ chức và điều hành thu, chi ngân sách xã 50
2.3 Về việc thực hiện chế độ kế toán ngân sách xã 51
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 53
I. Phương hướng hoàn thiện 53
II. Giải pháp hoàn thiện 55
1. Tổ chức thu ngân sách xã 55
2. Tổ chức quản lý chi thương xuyên ngân sách xã: 56
3. Kiện toàn tổ chức ngân sách xã. 57
4. Quan tâm chế độ đãi ngộ cán bộ xã, phường 57
5. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Hội đồng nhân dân 58
6. Phân định lại địa giới hành chính phù hợp với khả năng quản lý của chính quyền xã. 58
7. Khuyến khích thành lập các tổ chức tín dụng nông thôn bên cạnh các kênh phân phối khác
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 3
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
58
8. Đẩy mạnh công tác khuyến nông 59
PHẦN KẾT LUẬN 59
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 4
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH XÃ
I. Ngân sách Nhà nước và hệ thống ngân sách
1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, bao giờ
cũng gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và sự tồn tại phát triển của kinh tế
hàng hóa tiền tệ.
Sở dĩ ngân sách Nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước
là do khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn lực để nuôi sống bộ máy Nhà

chính và được thể hiện ở phần thu cũng như chi ngân sách Nhà nước. Hệ thống
các quan hệ tài chính tạo nên bản chất kinh tế của ngân sách Nhà nước, được thể
hiện dưới những hình thức cụ thể. Những quan hệ tài chính này bao gồm :
Thứ nhất : Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với các doanh
nghiệp sản xuất và kinh doanh. Quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình
hình thành thu của quỹ ngân sách Nhà nước bằng hình thức thuế của tất cả các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế .
Thứ hai : Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với các đơn vị thuộc
lĩnh vực phi sản xuất vật chất. Các đơn vị không sản xuất kinh doanh là những
đơn vị quản lý nhà nước nằm trong các lĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành
chính và an ninh quốc phòng, những đơn vị này không sản xuất ra của cải vật
chất nhưng hoạt động của nó lại rất cần thiết cho xã hội. Quan hệ kinh tế giữa
ngân sách Nhà nước với những đơn vị này được phát sinh trong quá trình phân
phối lại các khoản thu nhập bằng việc ngân sách Nhà nước cấp kinh phí cho các
đơn vị quản lý Nhà nước theo các dự toán kinh phí. Quan hệ giữa ngân sách Nhà
nước với các đơn vị dự toán thể hiện khi sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước .
Thứ ba : Quan hệ giữa ngân sách Nhà nước với hộ gia đình và dân cư.
Mối quan hệ về mặt tài chính giữa Nhà nước và hộ gia đình, dân cư được thể
hiện thông qua phân phối lại giữa ngân sách Nhà nước với ngân sách hộ gia đình
và dân cư. Một bộ phận dân cư làm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước thông qua
các khoản thuế, lệ phí, ủng hộ tự nguyện, đồng thời một bộ phận dân cư khác
nhận từ ngân sách Nhà nước các khoản trợ cấp xã hội theo chính sách qui định.
Thứ tư : Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với thị trường tài chính.
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi không chỉ các nhà doanh nghiệp mà cả Nhà nước,
các đơn vị không sản xuất kinh doanh, các hiệp hội tổ chức quần chúng và dân cư
phải tiếp cận với thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Xuất phát từ chính sách tài
chính - tiền tệ, từ cung cầu về vốn trên thị trường, Nhà nước có thể tham gia trên
thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của Kho bạc Nhà
nước (tín phiếu, trái phiếu, chứng từ đầu tư) nhằm huy động vốn của tất cả các
chủ thể trong xã hội đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách Nhà nước hoặc

- Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sở để hình thành nguồn
thu của ngân sách Nhà nước. Nếu mức động viên của ngân sách Nhà nước là
hợp lý và tối ưu thì sẽ không tác động cực đến quá trình hoạt động cũng như các
quyết định của các chủ thể kinh doanh .
- Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước và thực hiện các khoản chi của ngân sách Nhà nước .
- Tỷ lệ động viên ( tỷ suất thu ) của ngân sách Nhà nước trên GDP. Trong
cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đánh giá mức độ động viên của ngân sách
Nhà nước trên thu nhập quốc dân sản xuất.
b. Vai trò điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội của ngân sách Nhà nước.
Đây là vai trò của ngân sách Nhà nước được xuất phát từ những điều kiện
kinh tế - xã hội cụ thể trong một giai đoạn phát triển nhất định. Thay đổi cơ chế
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 7
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế ở nước ta hiện nay đã tác động trực tiếp đến ngân sách Nhà nước và
được thể hiện ở hai mặt :
- Thay đổi cơ cấu thu và chi của ngân sách Nhà nước.
- Thay đổi vai trò nhiệm vụ của ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế,
đặc biệt là thay đổi phương pháp cấp phát tài chính cho các nhu cầu của doanh
nghiệp với ngân sách Nhà nước khi là nghĩa vụ tài chính .
Trong cơ chế thị trường kinh tế, Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã
hội bằng việc định hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
bằng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch tổng thể nền kinh tế quốc
dân, bằng sử dụng các công cụ tài chính, giá cả, tiền tệ dưới hình thức các luật
và pháp lệnh, chính sách, cơ chế trong lĩnh vực phân phối phù hợp với vai trò
của Nhà nước với cơ chế kinh tế, cơ chế tài chính và với những yêu cầu của
chính sách tài chính quốc gia, ngân sách Nhà nước.
- Công cụ quản lý kinh tế trong cơ chế thị trường. Bằng quá trình phân
phối, huy động và sử dụng các nguồn tài chính bằng cơ chế hoạt động ngân sách
Nhà nước tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô và tác

Hoạt động của ngân sách Nhà nước thường xuyên gắn liền với các hoạt
động của nền kinh tế thị trường mà một trong những đặc điểm nỗi bật của nền
kinh tế thị trường là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh
nhằm đạt được lợi thế trên thị trường và hạn chế mức độ rủi ro mạo hiểm. Hai
yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn
nhau và chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường. Sự chi phối hai yếu tố cơ
bản này dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế từ
ngành này sang ngành khác. Song trong thực tế, việc dịch chuyển vốn của các
doanh nghiệp sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lời hơn diễn ra theo một quá
trình phức tạp, khó khăn và đối với nền kinh tế dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác
động tiêu cực trực tiếp đến sự ổn định của cơ cấu kinh tế. Do đó nhằm đảm bảo
lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp và lợi ích của xã hội, đồng thời giữ vững cơ
cấu kinh tế đã xác định, Nhà nước sử dụng ngân sách Nhà nước tác động lên thị
trường. Đối với thị trường hàng hóa, khi nhu cầu về một loại hàng nào đó vượt
cung làm cho giá cả tăng cao, Nhà nước có thể điều tiết bằng cách đưa dự trữ
loại hàng đó ra thị trường để cân đối cung cầu và trên cơ sở đó bình ổn giá cả và
hạn chế khả năng kéo theo tăng giá đồng loạt. Trong trường hợp cung của một
loại hàng hóa nào đó vượt quá nhu cầu xã hội làm cho giá mặt hàng đó giảm
mạnh dẫn đến nguy cơ thiệt hại về lợi ích kinh tế cho người sản xuất kinh doanh
và dẫn đến xu hướng dịch chuyển vốn sang các ngành nghề khác thì lúc này Nhà
nước sẽ tác động lên thị trường và giá cả bằng việc mua hàng hóa đó với một giá
thích hợp hoặc vận dụng hình thức trợ giá để đảm bảo lợi ích của người sản xuất
kinh doanh cũng như lợi ích của xã hội trong quá trình phát triển kinh tế. Sự
điều tiết của Nhà nước lên thị trường hàng hóa được thực hiện bằng việc bố trí
các khoản chi ngân sách Nhà nước về dự trữ tài chính, dự trữ Nhà nước trong
ngân sách hàng năm bao gồm dự trữ bằng tiền, vàng, ngoại tệ, các loại hàng hoá
vật tư chiến lược.
Bên cạnh thị trường hàng hóa, Nhà nước còn tác động đến thị trường tiền
tệ, thị trường vốn bằng việc vận dụng đồng bộ các công cụ tài chính, giá cả tiền
tệ trong đó ngân sách Nhà nước là một trong những công cụ quan trọng. Ngân

số và kế hoạch hóa gia đình cho các đối tượng: người nghèo, trẻ em mồ côi,
khuyết tật, người già không nơi nương tựa, diện chính sách. Là nguồn bổ sung
thu nhập của một số tầng lớp dân cư trong xã hội, nó góp phần tăng cường tính
ổn định trong đời sống kinh tế - xã hội .
3. Hệ thống ngân sách Nhà nước.
3.1 Khái niệm :
Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính
quyền Nhà nước. Hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước
hết đó là chế độ xã hội của một Nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính. ở
nước ta với mô hình Nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức
theo hai cấp : Ngân sách Trung Ương và Ngân sách Địa phương, trong đó ngân
sách Địa phương bao gồm các cấp ngân sách sau : Ngân sách Tỉnh - Thành phố ;
ngân sách Quận - Huyện và ngân sách Xã - Phường .
3.2 Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam .
Hệ thống ngân sách nhà Nước Việt Nam là một thể thống nhất, giữa các
cấp ngân sách gắn với nhau bởi hệ thống các quan hệ tài chính. Ngân sách
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 10
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
Trung Ương với ngân sách Địa phương và giữa các cấp trong ngân sách Địa
phương có mối quan hệ với nhau thông qua các khoản trợ cấp theo mục tiêu.
Các khoản trợ cấp này bảo đảm cân đối ngân sách Địa phương, giúp địa phương
khắc phục những khó khăn do điều kiện lịch sử, điều kiện tự nhiên xã hội tạo ra.
Cơ cấu hệ thống ngân sách Nhà nước được mô tả theo sơ đồ sau:
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 11
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ hệ thống ngân sách Nhà nước

Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc :
+ Ngân sách mỗi cấp được phân định nhiệm vụ chi và nguồn thu cụ thể.
+ Thực hiện cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới

quyền Nhà nước cấp xã trong quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ về
quản lý kinh tế, xã hội trên địa bàn.
Xét về bản chất : Ngân sách xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa chính
quyền Nhà nước cấp xã với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình phân phối
các nguồn tài chính nhằm tạo lập quỹ ngân sách xã; trên cơ sở đó mà đáp ứng
cho các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ chủ chính
quyền Nhà nước cấp xã.
1.2 Đặc điểm của ngân sách xã
Ngân sách xã là một cấp trong hệ thống ngân sách Nhà nước nên nó cũng
mang đầy đủ những đặc điểm chung của ngân sách Nhà nước; thêm vào đó là
đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt căn bản với các cấp ngân sách khác.
+ Đặc điểm chung
- Hoạt động của ngân sách xã luôn gắn chặt với hoạt động của chính
quyền Nhà nước cấp xã
- Quản lý ngân sách xã nhất thiết phải tuân theo một chu trình chặt chẽ và
khoa hoc.
- Phần lớn các khoản thu, chi của ngân sách xã được thực hiện theo
phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp.
+ Đặc điểm riêng
Hiện nay ngân sách Việt Nam bao gồm 4 cấp. Tuy chức năng, nhiệm vụ
giống nhau, phạm vi và qui mô hoạt động có khác nhau nhưng ngân sách xã có
đặc điểm riêng; đó là : ngân sách xã vừa là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ
thống ngân sách nhà nước, vừa là một đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí. Đặc
điểm riêng này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thiết lập các chính sách trong
quản lý ngân sách xã
2. Vai trò của ngân sách xã
- Ngân sách xã là nguồn tài chính chủ yếu để đảm bảo cho chính quyền
Nhà nước cấp xã thực thi các nhiệm vụ kinh tế xã hội trên địa bàn. Để thực hiện
các chức năng nhiệm vụ về quản lý kinh tế, xã hội trên địa bàn theo sự phân cấp
trong hệ thống chính quyền Nhà nước, chính quyền xã cần phải có được nguồn

hành. Nhờ đó sự kiểm soát của chính quyền Nhà nước cấp trên đối với hoạt
động của chính quyền cấp xã trở nên vô cùng dễ dàng.
III. Nội dung thu – chi ngân sách xã
1. Thu ngân sách xã
Thu ngân sách xã được hình thành từ ba nguồn lớn sau:
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã; và ngân sách xã được hưởng
100% số thu từ các khoản này (người ta gọi tắt là : các khoản thu ngân sách xã
được hưởng 100%)
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã; nhưng ngân sách xã chỉ được
hưởng 1 phần và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) nào đó. Tỷ lệ này thường có
sự thay đổi tùy theo tình hình kinh tế, xã hội và yêu cầu quản lý ngân sách Nhà
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 14
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
nước (người ta thường gọi tắt là các khoản thu điều tiết, hay các khoản thu phân
chia theo tỷ lệ % với ngân sách cấp trên)
- Từ các khoản thu được hình thành từ số chi của ngân sách cấp trên để
đảm bảo cho sự cân đối của ngân sách xã (người ta thường gọi là thu bổ sung từ
ngân sách cấp trên hoặc thu trựo cấp).
Theo luật ngân sách Nhà nước năm 2002 các khoản thu dành cho ngân
sách xã được hưởng bao gồm những khoản gì là tùy thuộc vào quyết định của
Hội đồng nhân dân tỉnh. Tuy vậy Bộ Tài chính cũng khuyến cáo có thể đưa các
khoản thu sau vào danh mục dành cho ngân sách xã được hưởng: cụ thể:
1.1 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%.
- Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã phần nộp vào ngân sách Nhà
nước theo chế độ quy định.
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác theo quy địnhcủa pháp luật do xã quản lý
- Các khoản thu huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân gồm: các
khoản đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự

sách cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn vốn cho cấp ngân sách đó để
đảm bảo cân đối thu chi ngay từ khâu xây dựng dự toán. Từ đó hình thành khoản
thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. trong điều kiện hiện
nay ở nước ta phần lớn ngân sách cấp xã chưa tự cân đối được thu chi, nên ngân
sách cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nguồn thu thứ ba cho ngân sách xã.
Cơ chế xác lập số thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được qui định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch
giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp. Số
bổ sung này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định và được giao ổn định
từ 3 đến 5 năm
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu bổ sung theo từng năm để hỗ
trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
2. Chi ngân sách xã
Có rất nhiều nội dung chi mà ngân sách xã phải đảm bảo, song khi nhìn
nhận một cách khái quát thì chi ngân sách xã bao gồm 2 nhóm lớn là chi thường
xuyên và chi đầu tư phát triển.
2.1 Chi thường xuyên
- Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở xã bao gồm
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ công chức cấp xã
+ Sinh hoạt phí đại biểu HĐND
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
+ Chi về phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh
+ Công tác phí
+ Chi về hoạt động, văn phòng như: tiền điện, tiền nước, vật liệu văn
phòng, bưu phí, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân.
+ Chi mua sắm sữa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 16
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
+ Chi khác
- Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam của xã

- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào định mức chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước, HĐND tỉnh quy
định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình hình đặc
điểm và khả năng ngân sách địa phương
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 17
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 Chi đầu tư phát triển
Nhóm chi đầu tư phát triển (ĐTPT) là tập hợp các nội dung chi có liên
quan đến việc cải tạo, nâng cấp hoặc làm mới các công trình thuộc hệ thống cơ
sở vật chất kỷ thuật của xã như : đường giao thông, kênh mương tưới tiêu nước,
trường học, trạm xá, hệ thống truyền tải và cung cấp điện năng... Do vậy các
khoản chi ĐTPT thể hiện rõ mục đích tích lũy nên cần phải ưu tiên đầu tư vốn
cho nó nhiều hơn.
Chi ĐTPT của ngân sách xã hiện nay gồm:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã
hội của xã không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã
hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án
nhất định theo qui định pháp luật, do Hội đồng nhân dân (HĐND) xã quyết định
đưa vào ngân sách xã quản lý.
- Các khoản chi ĐTPT khác theo quy định của pháp luật.
IV. Chu trình ngân sách xã
1. Khái niệm về chu trình ngân sách xã
Khi xem xét trên giác độ biểu hiện bên ngoại thì ngân sách Nhà nước
được nhìn nhận như một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một
năm nhất định. Qua đó cho thấy, hoạt động của ngân sách Nhà nước luôn gắn
với từng năm cụ thể gọi là năm ngân sách (hay năm tài chính, năm tài khóa).
Năm ngân sách được hiểu là khoảng thời gian mà hoạt động thu chi ngân
sách Nhà nước được thực hiện theo dự toán đã được các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền xét duyệt. Năm ngân sách ở nước ta được tính từ 0h00 ngày 01/01

- Các cơ quan chức năng ( tài chính, Thuế. Kho bạc ...) được giao nhiệm
vụ trực tiếp quản lý từng mặt hoạt động của ngân sách Nhà nước có trách nhiệm
thực thi tốt các việc đã được phân công trong quản lý ngân sách Nhà nước.
- Các đơn vị các ngànhtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân chịu trách
nhiệm trước Chính phủ hoặc UBND các cấp về nghĩa vụ thu nộp, quản lý, sử
dụng các khoản vốn ngân sách Nhà nước và các yêu cầu cụ thể trong quá trình
quản lý khi các cơ quan chức năng Nhà nước yêu cầu.
2. Vị trí mỗi khâu trong chu trình ngân sách xã
2.1 Lập dự tóan ngân sách xã
Lập dự toán ngân sách xã được coi là khâu mở đầu của một chu trình
ngân sách. Nó xác định các chỉ tiêu thu chi ngân sách cần phải thực hiện cho
năm ngân sách kế tiếp, đồng thời xác lập các biện pháp có thể áp dụng nhằm đạt
được các chỉ tiêu thu chi đã dự kiến. Lập dự toán ngân sách xã chỉ được coi là
hoàn thành khi dự toán đó được HĐND xã thảo luận và thông qua. Do vậy thời
gian tiến hành lập dự toán ngân sách cho một chu trình ngân sách kế tiếp phải
được thực thi ngay trong thời gian diễn ra chấp hành ngân sách của chu trình
ngân sách hện tại.
Trong 3 khâu của chu trình ngân sách thì lập dự toán được coi là khâu mở
đầu và có tầm quan trọngđặc biệt đối với chu trình ngân sách xã vì:
- Nó xác định và dự đóan tất cả các khả năng thu, nhu cầu chi dự kiến có
thể phát sinh trong năm kế hoạch để rồi cân nhắc lựa chọn các phương án phân bổ
ngân sách nhằm thiết lập cân đối ngân sách một cách vững chắc và phản ảnh trên
các biểu mẫu dự tóan trình cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 19
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
- Quyền quyết định dự toán ngân sách xã thuộc về thẩm quyền của HĐND
xã sau đó giao lại cho UBND tổ chức chấp hành ngân sách xã. Nên những nội
dung thu, chi nào không được ghi vào trong dự toán hoặc không được HĐND
xét duyệt và thông qua thì không thể có cơ hội phát sinh.
- Các chỉ tiêu của dự toán thu chi ngân sách xã là một trong những căn cứ

toán ngân sách xã và khẳng định tính hợp lệ, hợp của nó để đi đến phê chuẩn
quyết toán ngân sách xã. Chỉ sau khi HĐND xã đã biểu quyết phê chuẩn quyết
toán ngân sách xã của năm đã qua thì các công việc của chu trình ngân sách xã
năm trước mới được kết thúc.
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 20
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH NĂM 2003-2005
I. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh
1. Vị trí địa lý
Tháng 6 năm 1992, tỉnh Trà Vinh được tách ra từ tỉnh Cửu Long, Trà Vinh
nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long giữa 2 con sông lớn là sông Cổ
Chiên và sông Hậu. Phía Bắc là Bến Tre được ngăn cách bởi sông Cổ Chiên (một
nhánh của sông Tiền); phía Tây Nam giáp với Sóc Trăng và Cần Thơ qua ranh
giới sông Hậu; phía Tây giáp Vĩnh Long; phía Đông là Biển Đông.
Trà Vinh nối với thị xã Vĩnh Long bằng quốc lộ 53 - tuyến giao thông đối
ngoại duy nhất nối tỉnh với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam.
Ở vị trí nằm kẹp giữa 2 sông Cổ Chiên, Hậu Giang và một mặt giáp biển
Đông (dài 65 km), nơi đây có 2 cửa sông: Cung Hầu và Định An. Đây là lợi thế
của tỉnh mà các tỉnh khác không có được. Tuy nhiên do nằm ở vị trí không phải
trên đường giao lưu của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nên đây là điểm bất
lợi đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh.
2. Về kinh tế - xã hội
Tỉnh Trà Vinh có diện tích sản xuất nông nghiệp lớn chiếm trong tổng
diện tích tự nhiên, vừa có diện tích lúa, vừa có diện tích nuôi trồng thủy sản và
vườn cây ăn trái. Là tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khơmer, nền kinh tế địa
phương đang ở điểm xuất phát thấp, thu nhập bình quân đầu người đến cuối năm
2005 đạt 6,3 triệu đồng ( tương đương 400USD/người/năm ), là tỉnh có thu nhập

cấu, cây trồng vật nuôi của tỉnh.
Thực hiện các chính sách nhằm phát triển ngành công nghiệp, nhất là
công nghiệp chế biến, tỉnh đã xác định công nghiệp chế biến thủy sản là ngành
mũi nhọn, trong 5 năm qua, giá trị sản xuất cũng như giá trị tăng thêm của ngành
công nghiệp chế biến không ngừng tăng lên, năm 2005 so năm 2000, giá trị tăng
thêm tăng 96,09% hay tăng 171.091 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 11,78% trong
GDP, bình quân giai đoạn 2001-2005 tăng 14,42%. Ngoài ngành chế biến thủy
sản, từ nguồn kinh phí của trung ương, tỉnh đã xây dựng và đưa vào hoạt động
nhà máy chế biến đường tại huyện Trà Cú, là một huyện vùng sâu, vùng xa của
tỉnh, nơi có nhiều đồng bào dân tộc khmer sinh sống, với chiến lược nhằm giải
quyết việc làm cho nông dân, bao tiêu sản phẩm, người dân không còn khó khăn
trong khâu tìm kiếm thị trường tiêu thụ vì đặc điểm của đất vùng này chỉ thích
hợp cho việc trồng miá. Mặc dù hiệu quả kinh tế từ ngành này không đạt cao, do
nhà máy hoạt động theo mùa vụ, nhưng đã góp phần trong việc giải quyết việc
làm và các vấn đề về xã hội, sản lượng đường chế biến trong những năm 2001
đến năm 2005 giảm so năm 2000, bình quân hàng năm giảm trên 2000 tấn (giảm
9,33%), nguyên nhân do chi phí lên cao, giá miá thấp, người dân không có lãi
nên thu hẹp diện tích trồng miá.
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 22
GVHD: Lê Quang Cường Chuyên đề tốt nghiệp
Khu vực thương nghiệp và dịch vụ trong những năm qua tăng khá, giá trị
tăng thêm của khu vực này năm 2005 so năm 2000 tăng 92,18% hay tăng
576.890 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 23,79% trong GDP, bình quân giai đoạn
2001-2005 tăng 13,96%.
Xét theo các thành phần kinh tế thì thành phần kinh tế nhà nước đóng
góp vào giá trị GDP với một tỷ lệ tương đối cao, thể hiện qua các năm, năm
2003 góp 16,09%, năm 2004 góp 14,44%, năm 2005 góp 14,00%, sở dĩ năm
2004 mức đóng góp giảm là do một doanh nghiệp nhà nước kinh doanh hiệu
quả, phải giải thể. Năm 2005, dự báo mức độ đóng góp cũng không cao, vì một
số doanh nghiệp (công ty khảo sát thiết kế, công ty sách thiết bị trường học,

độ nhanh hơn nữa, giải quyết nhân sinh, phát triển xã hội trên cơ sở giải quyết
những khó khăn về vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ, hạ tầng yếu kém, thiếu kinh
nghiệm quản lý và trình độ công nghệ lạc hậu.
II. Tổ chức bộ máy quản lý của Sở Tài chính Trà Vinh
Sở Tài chính là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh Trà Vinh được
thành lập theo Quyết định số 170/QĐ.UBT ngày 05 tháng 6 năm 1992 với nhiệm
vụ giúp UBND tỉnh thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực ngân
sách, tài chính đầu tư, tài chính doanh nghiệp và giá cả trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
đồng thời là bộ máy thuộc ngành tài chính chịu sự lãnh đạo của Bộ Tài chính.
1. Tổ chức bộ máy Sở Tài chính tỉnh Trà Vinh
Tổ chức bộ máy Sở Tài chính gồm : Giám đốc, 02 Phó Giám đốc và 08
phòng ban nghiệp vụ: Phòng ngân sách, Văn phòng sở, Phòng Tài chính- Hành
chính sự nghiệp, Phòng Đầu tư, Phòng Quản lý doanh nghiệp, Phòng Quản lý
giá – Công sản, Phòng Tin học – Thống kê và Ban Thanh tra tài chính làm việc
theo chế độ thủ trưởng.
1.1 Sơ đồ tổ chức Sở Tài chính Trà Vinh
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 24
Văn
phòng
Sở
Phòng
Đầu

PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng
Ngân
sách
Phòng
Tài
chính

của Bộ Tài chính để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chủ tịch UBND tỉnh
ban hành. Đồng thời có biện pháp kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các Quyết
định đó một cách có hiệu quả
- Thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của Sở Tài chính và làm đầy đủ các
nội dung công việc quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính đã phân cấp cho tỉnh và
các nhiệm vụ cụ thể do UBND tỉnh giao để phân cấp, sắp xếp chỉ đạo hoạt động
đối với Phòng Tài chính – Kế hoạch các huyện, thị xã. Đảm bảo phát huy được
hiệu lực của hệ thống Tài chính cấp dưới.
- Tổ chức phối hợp công tác giữa Sở Tài chính với các sở, ban ngành tỉnh,
nhằm đảm bảo sự phối hợp, tính đồng bộ trong quản lý đúng với phạm vi, quyền
hạn và trách nhiệm của Giám đốc sở.
- Thường xuyên giữ mối quan hệ với Chi ủy, Công đoàn, ĐTNCSHCM cơ
quan, qua các vấn đề về chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng, phát triển Đảng viên, đề
bạt, khen thưởng, kỷ luật và chăm lo đời sống vật chất, tinh thân cho cán bộ
công chức cũng như các vấn đề khác
* Các Phó giám đốc
- Chịu trách nhiệm trước giám đốc về các nhiệm vụ được giao, thay mặt
Giám đốc điều hành hoạt động của cơ quan khi Giám đốc vắng mặt
- Chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc, cụ thể hóa các
chế độ chính sách trong lĩnh vực tài chính kế toán, vật giá tham gia xây dựng dự
toán thu – chi Ngân sách địa phương, đề xuất ý kiến đối với các dự án, dự thảo
các văn bản trình Giám đốc sở.
- Kiểm tra đôn đốc các phòng, ban chuyên môn trong việc tổ chức thực
hiện và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các chính sách đã được UBND
SVTH: Trần Phạm Phú Quốc Trang 25

Trích đoạn Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu – chi ngân sách xã năm Những thành tựu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status