Luận văn tốt nghiệp: “Giải pháp nâng
cao chất lượng công tác huy động vốn tại
Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Bắc Hà Nội "
Chuyên đề tốt nghiệp
- 1 -
Lời mở đầu
Đất nước ta từ khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của nền kinh tế,
chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang
nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định
hướng XHCN đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng và có ý nghĩa ,
được dư luận trong và ngoài n
ước đánh giá là hết sức đúng đắn .
Đường lối kinh tế của Việt Nam hiện nay là “ tiếp tục phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần , vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ” Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm
2010, mục tiêu mà Đảng và nhà nước ta đặt ra là sự nghiệp công hoá và hiện đại
hoá đất nướ
c . Đây là mục tiêu quan trọng của đất nước ta trong trong quá trình
vươn lên thoát khỏi sự tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế
Đề tài thực hiện gồm có 3 chương:
Chương I: NHTM và hoạt động huy động vốn tại NHTM.
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
công tác huy động vốn tại Ngân Hàng Nông nghiệ
p và Phát triển Nông thôn
Bắc Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo Lê Thanh Tâm và ban
giám đốc cũng như các anh chị trong phòng kế hoạch Chi nhánh NHNo &
PTNTHN Bắc Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình, giúp em hoàn thành
chuyên đề này.
Chuyên đề tốt nghiệp
- 3 -
Chương I
Nguồn vốn huy động và chất lượng công tác huy động vốn
trong ngân hàng thương mại.
1.1 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại .
1.1.1 Khái niệm và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế .
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển
của nền sản xuất hàng hoá. Trải qua hàng trăm năm , đến nay hoạt động của các
ngân hàng thương mại đã trở thành một yếu tố không thể thiếu gắn liền với nền
kinh t
ế của mọi quốc gia trên thế giới .
quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của dân cư...) thông qua nghiệp vụ tín dụng ,
ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy
đủ kịp thời
cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương
mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hoạt
động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì
vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng thương m
ại.
Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có
hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ
thống, các NHTM đã góp phầ
n mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông.
Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc
dắt dẫn các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường điều khiển chúng
một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng theo phương châm
“Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị tr
ường”.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà , cung cấp vốn cho
nền kinh tế . Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay,hoạt động ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
- 5 -
đã có những bước tiến rất nhanh , đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn
duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau :
a, Nghiệp vụ huy động vốn :
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất , ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
- 6 -
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu
cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi
hỏi Ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung
cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho
vay, ngân hàng còn s
ử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân
hàng thương mại có thể tiến hành là:
Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào
các doanh nghiệp, các công ty khác.
Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọ
ng đó là hàng loạt các
nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân
hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng
không thể bỏ qua sự “an toàn”. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được
lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để
đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định v
ề dự trữ bắt
buộc do Trung ương đề ra.
c, nghiệp vụ khác :
Là trung gian tài chính , ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi
thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và
dịch vụ . Để thanh toán nhanh chóng , thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc , uỷ
nhiệm chi, nhờ thu , các loại thẻ …cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử , kế
t nối
hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định ,
được gọi là vốn ban đầu . Trong quá trình hoạ
t động , ngân hàng gia tăng khối
lượng vốn của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nghiệp vụ tiền
gửi , nghiệp vụ đi vay và các nghiệp vụ khác ( dịch vụ uỷ thác , trung gian thanh
toán…)
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
- 8 -
vụ tín dụng , thanh toán , các nghiệp vụ kinh doanh khác… Vốn huy động chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại , nó đóng vai
trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng .
1.2.2 Tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại .
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt
động của ngân hàng có những đặc trưng riêng, vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh
doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và
thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Quá trình kinh doanh tiền tệ của
ngân hàng được mã hoá bằng công thức T-T
’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban
đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh
doanh: T’>T. Từ công thức này, có thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là
ngân hàng có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu
cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng
trưởng nguồn vốn trong suốt quá trình hoạ
t động của mình.
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng
1.2.3.1 Nguồn tiền gửi :
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại . Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động , nghiệp vụ đầu tiên là mở các
tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân
hàng huy động tiền của các doanh nghiệp , các tổ chức và của dân cư .
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chi
ếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền
của ngân hàng . Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn
tiền có chất lượng ngày càng cao , các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều
hình thức huy động khác nhau .
a, phân loại theo thời hạn :
- tiền gửi không kỳ hạn
Đây là khoản tiền đúng như tên gọi của nó là thời gian gửi tiền không xác
định, khách hàng (cá nhân , tổ chức) có quyền rút tiền ra b
ất cứ lúc nào. Mục đích
của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích trong thanh toán khi
có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Vì vậy đây là
bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời chứ không phải là khoản để dành.
-Tiền gửi có kỳ hạn :
Ngược với khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là khoản tiền gửi với thờ
i gian
xác định. Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền
khi đến thời hạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1
năm hoặc trên thế nữa. Theo quy định, ngân hàng có quyền từ chối việc rút tiền
trước thời hạn của người gửi tiền. Tuy nhiên, ở một số nước, quy định này đã
được nới lỏng: các ngân hàng cho phép người gửi tiề
n được rút ra trước hạn
nhưng phải báo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian nhất định, nếu không
báo trước người gửi sẽ không được hưởng lãi suất hoặc rất thấp.
b, phân loại theo đối tượng :
gửi được giao một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận tiền gửi vào ngân hàng .
Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một khoản tiền lãi trên tổng số tiền
lãi trên tổng số tiề
n gửi tiết kiệm .Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn .
- tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán .
Chuyên đề tốt nghiệp
- 12 -
Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ . Trong phạm vi số dư cho phép , các nhu cầu chi
trả của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều được ngân hàng thực hiện . Các khoản thu
bằng tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh
toán theo yêu cầu . Lãi suất của khoản tiền này rất thấp , thay vào đó chủ tài khoản
có thể được hưở
ng các dịch vụ của ngân hàng với mức phí thấp.
- tiền gửi “ lai ” ( vừa tiết kiệm vừa giao dịch )
Đây là loại tiền gửi mà người gửi vừa có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán
hộ , vừa có thể hưởng lãi suất định kỳ như một khoản tiền gửi tiết kiệm.Tuy nhiên
, lãi suất của khoản tiền này thường không cao như lãi suất tiền gửi tiết kiệ
m bởi
tính cố định của khoản gửi , ngân hàng có thể không sử dụng được hoặc sử dụng
rất ít số vốn huy động này để cho vay hoặc đầu tư.
1.2.3.2 Nguồn đi vay
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại . Tuy nhiên khi
cần các ngân hàng thường vay mượn thêm . Tại nhiều nước , ngân hàng Trung
ương thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn củ
a chủ. Do vậy
nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu
cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế .
thuộc vào thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng . Ngân hàng có thể phát hành
kỳ phiếu và phát hành trái phiếu. Trái phiếu là một giấy tờ có giá , xác nhận khoản
nợ của khách hàng đối với ngườ
i chủ ngân hàng với cam kết như thanh toán một
số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho
trước.
Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát
hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch
kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh
doanh…
1.2.3.3 Nguồn khác
Ngoài các nguồ
n trên , ngân hàng còn thực hiện huy động vốn thông qua
nguồn uỷ thác , nguồn trong thanh toán , các nguồn khác.
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay ,
uỷ thác đầu tư , uỷ thác cấp phát , uỷ thác giải ngân và thu hộ…Các hoạt động này
Chuyên đề tốt nghiệp
- 14 -
tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng . Ngoài ra , các hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả
, tiền ký quỹ để mở L/C …) . Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa
trả …cũng góp phần làm tăng nguồn huy động trong công tác huy động vốn của
ngân hàng thương mại .
Chuyên đề tốt nghiệp
- 15 -
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác huy động vốn
1.2.4.1 Chi phí huy động vốn :
a, Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp . Là trung gian
Sự đa dạng các công cụ huy động được thể hiện trước hết là ở số lượng các
công cụ ngân hàng sử dụng. Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu chiến lược kinh doanh,
mỗi ngân hàng đưa ra những loại công cụ
huy động. Thực tế, số lượng các công
cụ huy động càng nhiều thì ngân hàng càng có nhiều điều kiện thu hút được vốn,
tuy nhiên số lượng các công cụ vốn lại bị hạn chế bởi khả năng quản lý của ngân
hàng. Một ngân hàng sử dụng nhiều công cụ huy động vốn không hoàn toàn đồng
nghĩa với việc công tác huy động vốn của ngân hàng đó có hiệu quả tốt, mà nó chỉ
được coi là có hiệu qu
ả khi những công cụ đó thực sự thích hợp với ngân hàng.
Cụ thể đối với các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng, đội nhũ cán bộ
công nhân viên ngân hàng có trình độ cao thì ngân hàng nên đa dạng hoá các loại
công cụ huy động vốn.
Đa dạng về số lượng các công cụ là chưa đủ , mà ngân hàng phải đa dạng về
kỳ hạn huy động, loại tiền sử dụng nữa . Đó là khả nă
ng huy động vốn với các kỳ
hạn khác nhau trong đó có cả nội tệ , ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt tương
ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý . Do vậy, để công
tác huy động vốn của ngân hàng thực sự đạt được hiệu quả cao, ngân hàng cần
phải tính toán, nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của thị trường, trên cơ sở năng lự
c bản
thân đưa ra các hình thức huy động đa dạng về kỳ hạn, loại tiền. Nếu những ngân
hàng có quan hệ quốc tế rộng thì nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ phải lớn, hay
nếu có chiến lược sử dụng vốn để cho vay dài hạn thì cần tăng cường huy động
vốn trung và dài hạn.
1.2.4.3 Tính ổn định của nguồn vốn
Tính ổn định ở
đây bao gồm ổn định về khối lượng, tốc độ tăng trưởng, cơ
cấu nguồn.
Thật vậy, công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn
• Mức độ thuận tiện khách hàng : Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền , rút tiền
, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng …nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí
cho khách hàng .
• Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định .
• Một số chỉ tiêu khác như : số lượ
ng vốn bị rút ra trước thời hạn , kỳ hạn thực tế
của nguồn vốn…
Chuyên đề tốt nghiệp
- 18 -
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác huy động vốn của
ngân hàng thương mại .
Những nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng thương mại
được xem xét qua hai nhóm nhân tố đó là : nhóm nhân tố mang tính khách quan
và nhóm nhân tố mang tính chủ quan.
1.2.5.1 Nhân tố khách quan
• Thứ nhất là môi trường pháp lý
Như chúng ta đã biết, hoạt động của ngân hàng có mức độ ảnh hưởng, tác
động hết sứ
c mạnh mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể việc
huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng đều tác động trực tiếp đến tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình
trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì lẽ đó, hoạt độ
ng của ngân hàng phải
chịu sự quản lý chặt chẽ gắt gao hơn so với các doanh nghiệp khác. Thực tế là
ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều chính sách, các quy định của
chính phủ , của NHTW; đó là Luật các tổ chúc tín dụng, luật kinh tế, luật dân sự,
hàng loạt hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn
mức. Trong sự ràng buộc về luật pháp này thì các yếu tố của nghiệp vụ huy động
vốn chắc chắn sẽ bị thay đổi và kết quả làm ảnh đến quy mô và hiệu quả của việc
huy động vốn. Bởi khi chính sách của Nhà nước, của NHTW: chính sách tiền tệ,
hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng . Nếu ở những vùng mà người dân
quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của
ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn .
Hơn nữa , mức độ chấp nhận rủ
i ro của xã hội , thói quen tích luỹ ảnh hưởng
đến quyết định của những thành viên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và
tiết kiệm , giữ tiền ở nhà , gửi tiền ở ngân hàng , đầu tư vào chứng khoán hoặc bất
động sản …
• Thứ tư là yếu tố cạnh tranh trên thị trường tài chính
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại
hình ngân hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Do đó , cạnh tranh có
xu hướng gia tăng mạnh , làm giảm đi sự khác biệt giữa ngân hàng thương mại
với các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Xu hướng cạnh tranh trong ngành ngân
hàng càng gia tăng do các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính tiền tệ , đổi mới
tài chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ…
Chuyên đề tốt nghiệp
- 20 -
Cạnh tranh về tiền gửi diễn ra dưới nhiều hình thức . Các ngân hàng có thể
áp dụng những điều kiện giống nhau cho tất cả các khách hàng gửi tiền . Vì lý do
này , các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi được mở rộng và được phổ biến
nhanh chóng . Thêm vào đó , nhiều tổ chức tài chính phi ngân hàng có thể huy
động tiền gửi có kỳ hạn , thậm chí còn cung cấp các tài khoản không kỳ hạn .
1.2.5.2 Nhân tố
chủ quan
• Các hình thức huy động vốn và chất lượng các dịch vụ do ngân hàng
cung ứng , và hệ thống màng lưới .
Hình thức huy động vốn của ngân hàng đưa ra càng phong phú, đa dạng linh
hoạt và thuận tiện thì khả năng thu hút vốn trong nền kinh tế càng lớn, xuất phát
từ sự khác nhau về nhu cầu và tâm lý trong dân cư . Chính sự đa dạng hoá các
hình thức huy động vốn của Ngân hàng đã giúp cho mỗi người dân, mỗi doanh
vốn nhàn rỗi . Mặt khác hoạt động tín dụng hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ
thất nghiệp giảm, đời sống c
ủa dân cư ngày càng nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi
ngày càng tăng, tạo cho nguồn vốn ngân hàng huy động ngày càng tăng trưởng để
thực hiện đầu tư cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo .
• Uy tín của ngân hàng.
Có thể gọi đây chính là tài sản vô hình của ngân hàng. Uy tín bao gồm uy tín
của ngân hàng trong toàn hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị,
ban giám đốc. Sự nổi tiếng của ngân hàng là tài sản quý trong công tác huy động
vốn vì trong lòng thị trường ngân hàng
đã tạo một hình ảnh riêng, khi đó khách
hàng sẽ tin tưởng vào ngân hàng, giúp ngân hàngcó khả năng ổn định khối lượng
vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động (thực tế khi ngân hàng có tiếng tăm, họ
dễ dàng thu hút vốn hơn các ngân hàng khác ngay cả khi lãi suất tiền gửi của ngân
hàng đưa ra có thấp hơn).
• Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể.
Chiến l
ược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định vị trí hiện
tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức
đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai.
Thông qua chiến lược kinh doanh ngân hàng ngân hàng sẽ có thể quyết định thu
hẹp hay mở rộng việc huy động vốn về mặt quy mô, có thể thay đổi t
ỷ lệ các loại
nguồn, tăng hay giảm chi phí huy động. Với tác dụng to lớn như vậy, nếu chiến
Chuyên đề tốt nghiệp
- 22 -
lược kinh doanh được lựa chọn đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác một cách
tối đa thì công tác huy động vốn sẽ phát huy được hiệu quả.
Chuyên đề tốt nghiệp
- 23 -
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã từng bước học tập và ứng dụng nghệ
thuật thông tin quảng cáo , các hình thức khuyến mãi…Tuy việc đầu tư cho công
tác này còn hạn chế , nhưng có thể nói đây cũng là mặt mạnh của ngành ngân
hàng trong việc cạnh tranh để huy động tiền gửi . Thông tin quảng cáo , tiếp thị
khuyến mại , các dịch vụ hậu mãi rõ ràng sẽ phát triển mạnh mẽ trong cơ chế
thị
trường . Và tuỳ vào chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp để
các nhà quản trị ngân hàng chọn thời điểm , thời gian sử dụng , chiến lược quảng
cáo khuyến mãi cũng như hậu mãi phù hợp.
Chương II
Thực trạng công tác huy động vốn tại Chi nhánh
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
1.1 Sơ lược về Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội .
1.1.1 Một số nét chính về NHNo&PTNT Việt Nam .
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo quyết định số 56 và 59 tháng
8 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự ra đời của Ngân hàng nông
nghiệp Việt Nam theo yêu cầu cấp bách của nền kinh tế với mục đích chủ yếu là
góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, kiềm chế làm phát, ổn định tiền
tệ thúc đẩ
y tăng trưởng kinh tế và trực tiếp giải quyết nâng cao đời sống của nông
dân. NHNN&PTNT Việt Nam có vai trò là Ngân hàng quản lý Trung Ương, có
hệ thống chi nhánh rộng khắp trong cả nước từ tỉnh đến huyện, xã.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam ban hành.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Bắc Hà Nội có
trụ sở đặt tại số 217 phố Đội Cấn - quận Ba Đ
ình - Hà Nội và đi vào hoạt động
kinh doanh từ ngày 01 tháng 11 năm 2001 với quân số ban đầu là 42 CBCNV.