Giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Hà nội - Pdf 25

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta từ khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của nền kinh tế,
chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền
kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng và có ý nghĩa,
được dư luận trong và ngoài nước đánh giá là hết sức đúng đắn .
Đường lối kinh tế của Việt Nam hiện nay là “ tiếp tục phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010,
mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra là sự nghiệp công hoá và hiện đại hoá đất
nước. Đây là mục tiêu quan trọng của đất nước ta trong trong quá trình vươn lên
thoát khỏi sự tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới .
Để thực hiện được công nghiệp hoá hiện đại hoá, “ vốn ” là một nhân tố được
đặt lên hàng đầu . Tiềm năng kinh tế nước ta có, nguồn lao động trong nước lại dồi
dào, câu hỏi cấp thiết đặt ra hiện nay là làm sao để có vốn đầu tư khai thác? Tựu
chung lại có hai loại nguồn vốn có thể thu hút vốn trong nước và vốn nước ngoài.
Trong đó vốn trong nước giữ vai trò chủ yếu , vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng.
Vốn trong nước rất nhiều nhưng lại có một vấn đề đặt ra bằng cách nào để khơi
thông, thu hút được ? Thực tế, trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, có rất nhiều chủ
thể, thông qua các con đường khác nhau có khả năng cung cấp dẫn vốn đáp ứng nhu
cầu về vốn. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận được là huy động vốn qua các
trung gian tài chính - Ngân hàng thương mại (NHTM) - là kênh quan trọng nhất, có
hiệu quả nhất vì trong nền kinh tế, NHTM được coi là trung gian tài chính lớn nhất,
quan trọng nhất. Nền kinh tế của một nước chỉ phát triển với tốc độ cao và ổn định
khi có chính sách tài chính, tiền tệ đúng đắn và hệ thống Ngân hàng hoạt động đủ
mạnh, có hiệu quả cao, có khả năng thu hút, tập trung các nguồn vốn và phân bổ có
hiệu quả các nguồn vốn vào các ngành sản xuất.
- 1 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, sau một thời

trên thị trường tài chính.
Trong điều 1 Luật ngân hàng của Pháp ( ngày 13/06/ 1941 ) có ghi : “ Ngân
hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc
của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài
nguyên đó cho chính họ , trong các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán ”.
Theo pháp lệnh ngân hàng , hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày
24/05/1990 ( điều 1 , khoản 1 ) của Việt Nam : “ Ngân hàng thương mại là tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách
- 3 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay , thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán ”.
NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế: cơ sở nền sản xuất
và lưu thông hàng hoá, và nền kinh tế ngày càng phát triển càng cần đến hoạt động
của các NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là
chức năng trung gian tín dụng NHTM đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Sự đóng góp này thể hiện như sau:
Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Với hoạt động đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ
chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế (vốn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá
trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của dân cư...) thông qua nghiệp vụ tín dụng , ngân
hàng thương mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá
trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt
là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hoạt động kinh doanh
của mình, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì vậy, chúng ta có thể
khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
chính là ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có

năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường . Do vậy ngân hàng cần phải
nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất .
Một là, ngân hàng tiến hành cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê, nhìn
chung thì khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay.
Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế
hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân
hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình
thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả...
Hai là tiến hành đầu tư
- 5 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu
cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi
Ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy
đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân
hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương
mại có thể tiến hành là:
 Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn
vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
 Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các
nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng
là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng không
thể bỏ qua sự “an toàn”. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận,
ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn
về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ương

huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác.
Vốn của ngân hàng được hình thành qua các nguồn khác nhau . Để bắt đầu
hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định , được
gọi là vốn ban đầu . Trong quá trình hoạt động , ngân hàng gia tăng khối lượng vốn
của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nghiệp vụ tiền gửi , nghiệp vụ
đi vay và các nghiệp vụ khác ( dịch vụ uỷ thác , trung gian thanh toán…)
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng , thanh toán , các nghiệp vụ kinh doanh khác… Vốn huy động chiếm tỷ
- 7 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại , nó đóng vai trò rất
quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng .
2. Tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại
2.1. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt
động của ngân hàng có những đặc trưng riêng, vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh
doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị
trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân
hàng được mã hoá bằng công thức T-T’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’
là nguồn vốn thu về sau một quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh: T’>T.
Từ công thức này, có thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có
nhiều thế mạnh trong cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn
điều lệ) theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn
vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
2.2.Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng
trên thương trường

Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền
của ngân hàng . Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn
tiền có chất lượng ngày càng cao , các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình
thức huy động khác nhau .
3.1.1. Phân loại theo thời hạn
- Tiền gửi không kỳ hạn
Đây là khoản tiền đúng như tên gọi của nó là thời gian gửi tiền không xác
định, khách hàng (cá nhân , tổ chức) có quyền rút tiền ra bất cứ lúc nào. Mục đích
của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích trong thanh toán khi có
nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Vì vậy đây là bộ
phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời chứ không phải là khoản để dành.
-Tiền gửi có kỳ hạn :
Ngược với khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là khoản tiền gửi với thời gian
xác định. Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi
đến thời hạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm
hoặc trên thế nữa. Theo quy định, ngân hàng có quyền từ chối việc rút tiền trước thời
hạn của người gửi tiền. Tuy nhiên, ở một số nước, quy định này đã được nới lỏng:
các ngân hàng cho phép người gửi tiền được rút ra trước hạn nhưng phải báo trước
cho ngân hàng một khoảng thời gian nhất định, nếu không báo trước người gửi sẽ
không được hưởng lãi suất hoặc rất thấp.
3.1.2. Phân loại theo đối tượng
- Tiền gửi của dân cư
- 10 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng
đến.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng , họ đều có thể gửi tiết kiệm
với mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm , đặc biệt là nhu
cầu bảo toàn . Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm , các ngân hàng đều
khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách ở
rộng mạng lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh

được hưởng các dịch vụ của ngân hàng với mức phí thấp.
- Tiền gửi “ lai ” ( vừa tiết kiệm vừa giao dịch )
Đây là loại tiền gửi mà người gửi vừa có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán
hộ , vừa có thể hưởng lãi suất định kỳ như một khoản tiền gửi tiết kiệm.Tuy nhiên ,
lãi suất của khoản tiền này thường không cao như lãi suất tiền gửi tiết kiệm bởi tính
cố định của khoản gửi , ngân hàng có thể không sử dụng được hoặc sử dụng rất ít số
vốn huy động này để cho vay hoặc đầu tư.
3.2. Nguồn đi vay
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại . Tuy nhiên khi
cần các ngân hàng thường vay mượn thêm . Tại nhiều nước , ngân hàng Trung ương
thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ. Do vậy nhiều ngân
hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi
khả năng huy động bị hạn chế .
- Vay NHNN
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của các
ngân hàng thương mại Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ , ngân hàng thương mại
thường vay ngân hàng Nhà nước . Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng nhà
nước là tái chiết khấu ( hoặc tái cấp vốn ) . Thông thường , ngân hàng Nhà nước chỉ
chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng ( thời gian đáo hạn ngắn , khả
năng trả nợ cao ) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Nhà nước trong từng thời
kỳ . Trong điều kiện chưa có thương phiếu , ngân hàng nhà nước cho ngân hàng
thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định .
- Vay các tổ chức tín dụng khác
- 12 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín
dụng khác trên thị trường liên ngân hàng . Các ngân hàng đang có lượng dự trữ vượt
yêu cầu sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn .
Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để
đảm bảo thanh khoản . Như vậy nguồn vay các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu

4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác huy động vốn
4.1. Chi phí huy động vốn
4.1.1. Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp . Là trung gian
đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên , ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh
mức lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên , trong đó điều quan trọng là phải
đảm bảo lợi ích của ngân hàng . Vì vậy trong huy động vốn , mỗi ngân hàng đều cố
gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho
chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với một
mức lãi suất chấp nhận được trên thị trường . Chi phí huy động được đánh giá qua hệ
thống các chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia
quyền của lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của
từng nguồn và đặc biệt là lãi suất cạnh tranh NEC.
Mặt khác , cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá trong
lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết , Sự đa dạng hoá lãi
suất làm cho tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra . Nếu có
chính sách lãi suất phù hợp , hiệu quả , ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong
khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồn vốn .
4.1.2. Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động vốn còn có các
chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấn phát hành ,
chi phí cơ sở vật chất , chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếm một tỷ
trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt gánh nặng
cho ngân hàng.
4.2. Các hình thức huy động vốn
Hình thức huy động vốn là những cách thức ngân hàng sử dụng để thu hút
nguồn vốn. Hình thức huy động càng đa dạng thì vốn chảy vào ngân hàng càng
- 15 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cấu vốn của ngân hàng lại không có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn, giữa vốn ngoại tệ và vốn nội tệ. Đối với ngân hàng, do
mỗi nguồn vốn có những điểm mạnh, điểm yếu riêng trong việc khai thác và huy
động nên cơ cấu vốn biến đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơ cấu “đầu ra”: cho vay,
đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động kinh
doanh. Cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của
ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng
phải thường xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường.
Khối lượng vốn huy động phản ánh quy mô vốn. Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều
kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng thì quy mô vốn huy động là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và
có vai trò quan trọng hơn cả. Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì cái
mà ngân hàng cần quan tâm lúc này là tốc độ tăng trưởng ổn định của nó vì có thể
lúc này quy mô vốn lớn, nhưng sẽ là khó khăn cho ngân hàng khi đưa ra quyết định
cho vay hay đầu tư nếu ngân hàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng
biến động của dòng tiền rút ra và dòng tiền gửi vào.
4.4. Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu chính trên , chất lượng công tác huy động vốn còn được
đánh giá qua một số chỉ tiêu :
• Mức độ hoạt động của vốn huy động : Được đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sử
dụng vốn . Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt , điều này thể hiện nguồn vốn
huy động được sử dụng tối đa.
• Mức độ thuận tiện khách hàng : Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền , rút
tiền , các dịch vụ kèm theo của ngân hàng …nhằm tiết kiệm được thời gian và chi
phí cho khách hàng .
• Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định .
• Một số chỉ tiêu khác như : số lượng vốn bị rút ra trước thời hạn , kỳ hạn
thực tế của nguồn vốn…
- 17 -

- 18 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vốn của ngân hàng thuận lợi . Ngược lại , khi nền kinh tế suy thoái , lạm phát tăng
làm cho môi trường đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp khiến quá trình tạo vốn của
ngân hàng gặo khó khăn .
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổn
định. Sự ổn định về chính trị hay về chính sách ngoại giao cũng tác động mạnh mẽ
đến quan hệ vốn của ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Điều này cũng là nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của ngân hàng.
Nhân khẩu học cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn thông qua việc
phân bổ dân cư , trình độ , lứa tuổi …Ngân hàng cũng nên xem xét yếu tố này trong
hoạt động huy động vốn của mình
• Thứ ba là môi trường văn hoá.
Môi trường văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán , tâm lý , thói quen
trong việc sử dụng tiền của dân cư . Và những tập quán tiêu dùng này sẽ ảnh hưởng
đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng . Nếu ở những vùng mà người dân quen sử
dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ
gặp rất nhiều khó khăn .
Hơn nữa , mức độ chấp nhận rủi ro của xã hội , thói quen tích luỹ ảnh hưởng
đến quyết định của những thành viên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và tiết
kiệm , giữ tiền ở nhà , gửi tiền ở ngân hàng , đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động
sản …
• Thứ tư là yếu tố cạnh tranh trên thị trường tài chính
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại
hình ngân hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Do đó , cạnh tranh có
xu hướng gia tăng mạnh , làm giảm đi sự khác biệt giữa ngân hàng thương mại với
các tổ chức tài chính phi ngân hàng . Xu hướng cạnh tranh trong ngành ngân hàng
càng gia tăng do các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính tiền tệ , đổi mới tài
chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ…
Cạnh tranh về tiền gửi diễn ra dưới nhiều hình thức . Các ngân hàng có thể áp

các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thì nghiệp vụ sử dụng vốn thực hiện sử
dụng các nguồn vốn đó vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ....để đem lại khả năng sinh
- 20 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời, thu lợi nhuận về cho ngân hàng .Do vậy nếu nghiệp vụ sử dụng vốn không hiệu
quả tất yếu dẫn đến việc huy động vốn bị thu hẹp lại . Khi sử dụng vốn kém hiệu
quả, làm thất thoát vốn nhiều dẫn đến lòng tin của dân chúng vào ngân hàng bị giảm
đi . Từ đó sẽ rất khó khăn cho các hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi . Mặt
khác hoạt động tín dụng hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kinh
doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống
của dân cư ngày càng nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng tăng, tạo cho nguồn
vốn ngân hàng huy động ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các chu kỳ
sản xuất tiếp theo .
• Uy tín của ngân hàng.
Có thể gọi đây chính là tài sản vô hình của ngân hàng. Uy tín bao gồm uy tín
của ngân hàng trong toàn hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị, ban
giám đốc. Sự nổi tiếng của ngân hàng là tài sản quý trong công tác huy động vốn vì
trong lòng thị trường ngân hàng đã tạo một hình ảnh riêng, khi đó khách hàng sẽ tin
tưởng vào ngân hàng, giúp ngân hàngcó khả năng ổn định khối lượng vốn huy động,
tiết kiệm chi phí huy động (thực tế khi ngân hàng có tiếng tăm, họ dễ dàng thu hút
vốn hơn các ngân hàng khác ngay cả khi lãi suất tiền gửi của ngân hàng đưa ra có
thấp hơn).
• Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể.
Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định vị trí hiện
tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức đồng
thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. Thông
qua chiến lược kinh doanh ngân hàng ngân hàng sẽ có thể quyết định thu hẹp hay
mở rộng việc huy động vốn về mặt quy mô, có thể thay đổi tỷ lệ các loại nguồn, tăng
hay giảm chi phí huy động. Với tác dụng to lớn như vậy, nếu chiến lược kinh doanh

thuật thông tin quảng cáo , các hình thức khuyến mãi…Tuy việc đầu tư cho công tác
này còn hạn chế , nhưng có thể nói đây cũng là mặt mạnh của ngành ngân hàng
trong việc cạnh tranh để huy động tiền gửi . Thông tin quảng cáo , tiếp thị khuyến
mại , các dịch vụ hậu mãi rõ ràng sẽ phát triển mạnh mẽ trong cơ chế thị trường . Và
- 22 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tuỳ vào chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp để các nhà quản
trị ngân hàng chọn thời điểm , thời gian sử dụng , chiến lược quảng cáo khuyến mãi
cũng như hậu mãi phù hợp.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
I. SƠ LƯỢC VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
1. Một số nét chính về Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo quyết định số 56 và 59 tháng 8
năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự ra đời của Ngân hàng nông
nghiệp Việt Nam theo yêu cầu cấp bách của nền kinh tế với mục đích chủ yếu là góp
phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, kiềm chế làm phát, ổn định tiền tệ
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và trực tiếp giải quyết nâng cao đời sống của nông dân.
NHNN&PTNT Việt Nam có vai trò là Ngân hàng quản lý Trung Ương, có hệ thống
chi nhánh rộng khắp trong cả nước từ tỉnh đến huyện, xã.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo mô
hình Tổng công ty Nhà nước, theo quyết định số 90/TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994
của Thủ Tướng Chính phủ, thời gian hoạt động là 99 năm, trụ sở tại Hà Nội, Ngân
hàng có con dấu riêng và có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam còn mở
tài khoản tại các Ngân hàng khác cả trong nước và ngoài nước để phục vụ thêm cho
- 23 -

- 24 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Phòng Kế hoạch kinh doanh : làm nhiệm vụ chính là huy động vốn từ dân
cư và các tổ chức kinh tế , cho vay đối với nền kinh tế . Ngoài ra , phòng còn có
nhiệm vụ lên kế hoạch tổng hợp , thông tin phòng ngừa rủi ro …
- Phòng Thanh toán Quốc tế : bên cạnh các nghiệp vụ thanh toán quốc tế ,
phòng còn thực hiện mở và theo dõi các thư bảo lãnh , thư tín dụng , và thực hiện
chiết khấu , tái chiết khấu chứng từ.
- Phòng Kiểm tra, kiểm toán nội bộ : Thực hiện kiểm tra , kiểm toán nội bộ.
- Phòng Kế toán - Ngân quỹ : Thực hiện hạch toán , theo dõi các quỹ . Ngoài
ra còn tổ chức lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán và phân tích tổng hợp tài chính .
- Phòng Hành chính nhân sự : Thực hiện các công việc hành chính tổng hợp,
kế hoạch nhân sự .
Sau 2 năm hình thành và phát triển, đến thời điểm 30/11/2003, quân số đã
tăng lên 97 CBCNV. Mô hình tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Bắc Hà Nội như sau:
- 25 -
Ban Giám
đốc
Phòng
Kế
hoạch
kinh
doanh
Phòng
Thanh
toán
quốc tế
Phòng
Kế toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status