Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của thế kỷ 21. Việt Nam cũng
nh các nớc đang phát triển khác không nằm ngoài tiến trình đó. Chủ chơng hội
nhập tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và toàn cầu, đặc biệt tham gia tổ
chức thơng mại thế giới (WTO) đã đợc nêu rõ trong Nghị Quyết 07/11/01 của Bộ
Chính Trị về hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế của ngành Ngân Hàng đã đặt ra những yêu cầu,
thách thức về thực hiện chính sách mở cửa, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng song song
với quá trình tăng cờng cải cách hệ thống ngân hàng. Trớc những yêu cầu về hội
nhập nói chung và quá trình đàm phán gia nhập WTO nói riêng, ngành ngân hàng
cần phải xây dựng cho mình một chiến lợc, chính sách thích hợp để đảm bảo quá
trình hội nhập thành công, mang lại lợi ích thật sự cho nền kinh tế Việt Nam.
Chiến lợc ấy chắc chắn phải đặt vị thế của công tác thanh toán lên hàng đầu. Bởi
chức năng trung tâm của ngân hàng là hoạt động thanh toán. Hoạt động của ngân
hàng ở bất cứ hình thức nào cũng đợc kết thúc ở việc thanh- quyết toán.
Trong tình hình mới, một trong những khó khăn, trăn trở nhiều nhất của các
cán bộ ngân hàng là việc làm sao cải tạo đợc hệ thống thanh toán đáp ứng đợc yêu
cầu mới, theo kịp xu hớng phát triển của thanh toán quốc tế, tạo điều kiện thu hút
vốn đầu t cũng nh tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thơng mại, đẩy
nhanh quá trình chu chuyển vốn cho nền kinh tế. Thanh toán chuyển tiền điện tử-
hệ quả tất yếu của sự bùng nổ công nghệ thông tin-ra đời tuy còn mới mẻ nhng đã
khẳng định những tính năng u việt nhất định của nó đồng thời đánh dấu một bớc
vơn mình mạnh mẽ trong công tác thanh toán của ngành Ngân hàng.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng
Đống Đa- Hà Nội, em đã đợc tiếp cận khá đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng và đặc
biệt quan tâm đến hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử của Chi nhánh Ngân
hàng Công thơng Đống Đa. Từ nhận thức tầm quan trọng của hệ thống thanh toán
chuyển tiền điện tử, em nhận thấy công tác nâng cao chất lợng hệ thống thanh
toán chuyển tiền điện tử là một vấn đề đầy bức xúc và cấp thiết. Điều này khiến
Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng Nhà Nớc, Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn-Trởng
Khoá luận tốt nghiệp
phòng Kế toán- tài chính Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Đống Đa và tập thể
các cô chú, anh chị cán bộ Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Đống Đa, những ng-
ời đã không tiếc công sức, thời gian giúp em hoàn thành bài khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày ....tháng ...năm
Sinh viên thực hiện:
Hoàng Thị Lan Hơng
Khoá luận tốt nghiệp
Chơng I
Lý luận chung về Ngân hàng Thơng Mại và
hệ Thống thanh toán chuyển tiền điện tử
của Ngân hàng Thơng mại.
1. Ngân hàng thơng mại và việc tổ chức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
thơng mại.
1.1 Vài nét khái quát về Ngân hàng thơng mại (NHTM).
Ngân Hàng đợc hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với
nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ thứ
XV đến thế kỷ thứ XVIII, các NH còn hoạt động độc lập với nhau, đó là trung
gian tín dụng, trung gian thanh toán cho nền kinh tế và phát hành giấy bạc cho
NH.
Sang thế kỷ XVIII, lu thông hàng hoá ngày càng phát triển. Việc các NH
cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm cho lu thông có nhiều
loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã cản trở cho quá trình lu thông hàng hóa phát
triển kinh tế. Chính điều này đã dẫn đến phân hoá hệ thống NH. Lúc này hệ thống
NH đã phân làm hai nhóm: thứ nhất là nhóm các NH đợc phép phát hành tiền, đ-
ợc gọi là NH phát hành sau đổi thành NHTW. Thứ hai là các NH không đợc phép
phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế.
Trớc hết thanh toán không dùng tiền mặt qua NH góp phần tiết kiệm chi phí
lu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa chọn hình thức
thanh toán thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán chính xác hiệu
quả. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển
vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.
Mặt khác, việc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất
lợng làm tăng uy tín cho NH và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi.
Chu chuyển tiền tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do
vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán đợc hoàn thiện thì vai trò của NHTM
mới đợc nâng cao hơn với t cách là ngời thủ quỹ cho xã hội.
Khoá luận tốt nghiệp
1.2 Khái niệm, sự cần thiết và ý nghĩa thanh toán vốn giữa các NHTM.
Khái niệm: Thanh toán vốn giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa
các chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh
trên cơ sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ và điều chuyển của các
đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân
NH.
Sự cần thiết thanh toán vốn giữa các NH: Hoạt động kinh tế ngày càng phát
triển, theo đó là sự phát triển của thanh toán tiền tệ trong nớc và quốc tế. Mối quan
hệ ngày càng đa dạng, điều đó không chỉ đòi hỏi sự gia tăng hoạt động của hệ
thống ngân hàng nói chung mà còn làm cho hoạt động thanh toán vốn giữa các
NH ngày càng trở nên cần thiết. Điều đó thể hiện nh sau:
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì việc trao đổi hàng hoá dịch vụ không chỉ
bó hẹp ở một địa phơng mà nó còn mở rộng ra mọi miền đất nớc. Hiện nay nhiều
hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng khác nhau có mạng lói chi nhánh trong
toàn quốc. Bên cạnh đó, khách hàng đợc quyền lựa chọn NH để mở tài khoản cho
mình. Do đó thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ giữa ngời mua và ngời bán qua hai
NH khác nhau là rất cần thiết.
Việc cấp chuyển vốn, kinh phí, chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ ngân sách
vốn và điều hoà vốn có hiệu quả trong cả nớc mà còn tạo điều kiện nối liền các cơ
sở NH thành một hệ thống chặt chẽ và điều hoà vốn trong nội bộ hệ thống NH.
Điều đó làm tăng tốc độ vòng quay vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh tình
trạng có NH thừa vốn mà vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng, trong khi đó lại
có NH thiếu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh có thể
thu đợc nguồn lợi lớn.Thông qua điều chuyển vốn, NH thiếu vốn vẫn giữ đợc
khách hàng và tiến hành hoạt động kinh doanh trôi chẩy, chi nhánh thừa vốn vẫn
có thu nhập từ nguồn vốn thừa do hởng lãi suất điều hoà.
1.3 Điều kiện thanh toán giữa các NH.
Nh ta đã biết, thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các
chi nhánh ngân hàng khác nhau trong cùng hệ thống để đáp ứng yêu cầu thanh
toán không dùng tiền mặt và chuyển vốn trong nền kinh tế và chuyển vốn giữa các
NH trong cùng hệ thống và khác hệ thống. Vì vậy điều kiện thanh toán giữa các
NH là:
Khoá luận tốt nghiệp
Điều kiện pháp lý: Phải xây dựng đợc hệ thống pháp lý ổn định và tin cậy,
thể lệ và chế độ đồng bộ, tạo cơ sở vững chắc để tổ chức nghiệp vụ thanh toán. Hệ
thống pháp lý chặt chẽ là cơ sở để giải quyết các tranh chấp nẩy sinh và ngăn ngừa
các sai phạm trong thanh toán.
Thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng khác phải có sự
thoả thuận bằng văn bản của hai ngân hàng chủ quản, đồng thời phải theo đúng
nguyên tắc mở và sử dụng tài khoản. Thanh toán kịp thời, cập nhật chính xác, an
toàn tài sản, không đợc chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Đối với uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ phải có văn bản thoả thuận và cam kết chặt
chẽ giữa hai ngân hàng. Bảo đảm sự tín nhiệm trong thanh toán, định kỳ hai bên
phải đối chiếu thanh toán sòng phẳng với nhau.
Đối với thanh toán bù trừ: Các NHTM, TCTD, KBNN muốn tham gia thanh
toán bù trừ phải có đơn xin tham gia thanh toán bù trừ, phải chấp hành nội quy
trong thanh toán nh: giới thiệu ngời giao dịch, mẫu chữ ký, chấp hành giờ truyền
nhận dữ liệu hay phiên giao dịch.
của mình để trả cho ngời thụ hởng có tên trên séc hoặc ngời cầm séc.
Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến nhất ở hầu hết các NH trên thế
giới với tiêu đề: Cheque (tiếng Anh), Chéque ( tiếng Pháp) dịch ra tiếng Việt là
chi phiếu. Séc bao gồm nhiều loại khác nhau: séc ký danh, séc vô danh, séc tiền
mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc cá nhân, séc du lịch.
Đối tợng áp dụng: Séc thờng đợc áp dụng để thanh toán chi trả các khoản tiền
hàng hoá dịch vụ, công nợ.
Phạm vi áp dụng: Bên mua và bên bán phải mở tài khoản tại cùng một NH
hoặc khác NH cùng một hệ thống. Trờng hợp bên mua và bên bán có tài khoản tại
hai NH khác hệ thống thì hai đơn vị thanh toán đó phải tham gia thanh toán bù trừ
giao nhận chứng từ trực tiếp.
Điều kiện để séc đợc NH chấp nhận thanh toán:
-Ngời phát hành séc chỉ đợc ghi số tiền trên séc trong phạm vi số d tài khoản
tiền gửi của họ tại NH. Nếu phát hành quá số d NH không chấp nhận thanh toán
đồng thời NH còn áp dụng phạt vi phạm hợp đồng thanh toán và phạt chậm trả.
-Trờng hợp có nhiều tờ séc nộp vào NH cùng một lúc để đòi tiền từ một tài
khoản mà số d trên tài khoản đó không đủ để thanh toán toàn bộ những tờ séc đó
thì thứ tự thanh toán đợc xác định theo số séc đã phát hành, các séc có số thứ tự
nhỏ hơn sẽ đợc thanh toán.
-Séc phải đảm bảo tính hợp pháp hợp lệ cả về hình thức và nội dung.
Khoá luận tốt nghiệp
Séc chuyển khoản là loại thanh toán do chủ tài khoản phát hành trực tiếp để
trả tiền cho ngời thụ hởng trên cơ sở số d tài khoản tiền gửi thanh toán của mình
tại NH. Loại séc này rất tiện lợi cho bên mua nhng không tiện lợi cho bên bán. Do
đó trong thanh toán truyền thống séc đợc ghi theo nguyên tắc ghi nợ trớc ghi có
sau.
Trờng hợp bên bán yêu cầu bên mua có sự xác nhận của đơn vị thanh toán
trên tờ séc. Khi nhận đợc yêu cầu, đơn vị thanh toán sẽ làm thủ tục bảo chi trên cơ
sở số tiền mà ngời phát hành đã lu ký, vì vậy ngời chịu trách nhiệm thanh toán séc
là NH hay đơn vị thanh toán bảo chi séc.
vụ công cộng giảm chi phí nhân viên phải đến từng nhà để thu tiền.
Tuy nhiên nó vẫn còn hạn chế vì UNT do ngời bán lập chứng từ và xuất phát
điểm trong quy trình thanh toán, mà nguyên tắc hạch toán là ghi nợ trớc có sau
nên mặc dù an toàn cho các NH tham gia quy trình thanh tóan nhng quy trình luân
chuyển chứng từ còn vòng vèo, tốc độ thanh toán chậm.
Hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi (UNC):
UNC là lệnh của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in sẵn của NHNN uỷ quyền
cho NH phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để
trả cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hay khác NH trong cùng hệ thống
hoặc khác hệ thống.
Đối tợng áp dụng: UNC đợc dùng chủ yếu là để thanh toán tiền hàng hoá,
công nợ dịch vụ theo đó ngời mua là ngời mở đầu trong quy trình thanh toán, thực
hiện ra lệnh cho NH phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để
chuyển trả cho ngời bán.
Phạm vi áp dụng: UNC đợc sử dụng rộng rãi, ngời trả tiền hoàn toàn có thể sử
dụng UNC để trả tiền cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hoặc khác NH
cùng hệ thống hay khác hệ thống.
Ưu điểm của uỷ nhiệm chi là đợc sử dụng rộng rãi về phạm vi địa lý đối với
mọi đối tợng khách hàng dù họ mở tài khoản tại bất cứ đơn vị thanh toán nào.
UNC đảm bảo quyền lợi cho bên mua do bên mua chỉ chấp nhận thanh toán khi họ
đã nhận đợc hàng hoá, dịch vụ đúng nh trong hợp đã ký kết đồng thời bảo vệ
quyền lợi cho NH do NH thực hiện ghi nợ trớc ghi có sau.
Ngợc lại, UNC không bảo đảm quyền lợi cho bên bán. Bên bán có thể gặp rủi
ro do bên mua không đủ khả năng thanh toán hoặc bên mua cố tình không thanh
toán. Do đó ngời ta chỉ áp dụng hình thức thanh toán này trong trờng hợp bên mua
Khoá luận tốt nghiệp
và bên bán có tín nhiệm nhau hoặc thanh toán có giá trị nhỏ hoặc chủ yếu là thanh
toán phi mậu dịch.
Tuy nhiên, UNC vẫn là hình thức thanh toán đợc a chuộng nhất hiện nay vì
đơn giản, dễ thực hiện. Mặt khác, NH chuyển tiền nhanh đảm bảo yêu cầu của
Thẻ NH là một phơng tiện thanh toán hiện đại gắn liền với kỹ thuật tin học và
ứng dụng tin học trong hoạt động NH. Qua thẻ NH, ngời chủ thẻ có thể sử dụng
để rút tiền từ máy rút tiền tự động ATM hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại
cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ.
Thẻ thanh toán chỉ đợc áp dụng trong nền tảng công nghệ tin học và viễn
thông đợc áp dụng trong công nghệ thanh toán của NH.
Thẻ thanh toán do NH phát hành và bán cho khách hàng của mình để thanh
toán chi trả các khoản vật t, hàng hoá,dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút
tiền tại các đại lý thanh toán hay tại các quầy rút tiền tự động.
Phạm vi áp dụng thẻ NH rất rộng rãi và không bị giới hạn về không gian, thời
gian, nếu khách hàng có thể thanh toán, khách hàng có thể sử dụng (rút tiền, gửi
tiền, kiểm tra số d trên tài khoản, thanh toán chi trả tiền hàng hoá dịch vụ....) bất
cứ nơi nào có máy ATM hoặc cơ sở chấp nhận thẻ. Hơn nữa thanh toán bằng thẻ
đã tiết kiệm chi phí, công sức cho ngời mua, ngời bán, tiết giảm lợng tiền mặt
trong lu thông và tăng chu chuyển vốn cho nền kinh tế. Chính bởi tiện ích này mà
thẻ NH rất đợc a chuộng ở các nớc trên thế giới. Tuy nhiên việc sử dụng thanh
toán bằng thẻ NH cũng bị giới hạn một mức tối đa cho phép đợc thanh toán trong
một ngày để đảm bảo an toàn và khả năng chi trả cho nguồn thanh toán.
Với trình độ và tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, trong tơng
lai chắc chắn thẻ thanh toán cha phải là công cụ thanh toán cuối cùng.
Khoá luận tốt nghiệp
1.4.2 Các phơng thức thanh toán qua NH (Mode of payments):
Tuỳ vào trình độ phát triển của công nghệ ngân hàng cũng nh đặc điểm tổ
chức hệ thống NH, các nớc có các phơng thức thanh toán qua NH khác nhau. ở
Việt Nam, từ khi hệ thống NH đợc tổ chức theo hệ thống hai cấp, các phơng thức
thanh toán vốn giữa các NH bao gồm:
Ph ơng thức thanh toán liên hàng .
Thanh toán liên hàng là quan hệ thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng trong
cùng hệ thống phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
giữa các khách hàng có mở tài khoản ở các chi nhánh ngân hàng khác nhau trong
Thanh toán bù trừ thực hiện theo quyết định 181/NH-QĐ ngày 10/10/1991 về
Quy tắc tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ giữa các NH và Công
văn 637/Kinh tế ngày 28/10/1991 về hớng dẫn thực hiện quyết định 181/NH-QD.
Để đợc tham gia thanh toán bù trừ các thành viên phải tuân thủ đầy đủ các
quy định do NH chủ trì quy định, phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán bù trừ tại
NH chủ trì. Cán bộ đi giao dịch thanh toán bù trừ phải có đủ năng lực, trình độ và
đảm bảo đủ các điều kiện giao dịch, phải đăng ký mẫu chữ ký tại NH thành viên
khác và tại NH chủ trì. Nếu để xẩy ra sai sót, tổn thất thì thành viên phải chịu
trách nhiệm theo quy định.
Về thanh toán số chênh lệch trong thanh toán bù trừ: Phải trích TK tiền gửi
để thanh toán, nếu không đủ thì phải nộp tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán,
cũng có thể vay NH chủ trì để thanh toán, trờng hợp NH chủ trì không cho vay thì
phải phạt chậm trả.
Chứng từ sử dụng trong thanh toán bù trừ bao gồm các chứng từ thanh toán
gốc, các bảng kê mẫu số 12,14,15,16 đợc giao nhận trực tiếp tại phiên thanh toán
bù trừ. Các chứng từ cha thuộc phạm vi thanh toán bù trừ nh uỷ nhiệm thu, th tín
dụng, séc...thì chuyển sang NH thanh toán để thực hiện ghi nợ trớc.
TK sử dụng: Nếu là NH chủ trì thì sử dụng tài khoản 5011. Tài khoản này
dùng để hạch toán kết quả thanh toán bù trừ của NH chủ trì với NH thành viên
tham gia thanh toán bù trừ và sau khi thanh toán bù trừ xong thì hết số d.
Nếu là NH thành viên thì sử dụng TK5012. Tài khoản này dùng để hạch toán
kết quả thanh toán bù trừ với các NH khác và sau khi thanh toán bù trừ xong cũng
phải hết số d.
Khoá luận tốt nghiệp
Ph ơng thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN :
Phơng thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN là phơng thức thanh
toán giữa các NH khác hệ thống khác địa bàn, đều mở tài khoản tại NHNN.
Để áp dụng phơng thức thanh toán này phải có các điều kiện sau:
-Hai NH phải mở tài khoản tại một hay hai chi nhánh NHNN và làm đầy đủ
các thủ tục về mở tài khoản tiền gửi theo quy định.
cho phép các NHTM có thể ký hợp đồng thanh toán song biên trên cơ sở sự tín
nhiệm giữa hai NHTM và hợp đồng thanh toán có quy định rõ nội dung thanh
toán, số tiền tối đa cho một món thanh toán, tổng số tiền thanh toán, kỳ hạn thanh
quyết toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN.
1.2 Hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử của Ngân Hàng Công Thơng Việt
Nam.
1.2.1 Qúa trình phát triển của thanh toán chuyển tiền điện tử:
Thanh toán liên hàng thủ công:
Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động thanh toán giữa các NH khác địa bàn
bằng thủ công với một phơng thức truyền thống duy nhất là thanh toán liên hàng
bằng th, bằng điện qua đờng bu điện. Thời gian cho một món thanh toán thông th-
ờng phải từ 3-5 ngày và thậm chí là hàng tuần cho những món đi tỉnh xa.
Do việc thanh toán chậm, lợng vốn nằm trong thanh toán chiếm khá lớn
không đáp ứng công việc kinh doanh của khách hàng nên đã tạo ra tâm lý không
muốn thanh toán không dùng tiền mặt qua NH mà chỉ muốn dùng phơng tiện trực
tiếp bằng tiền mặt vì vậy đã gây ra áp lực rất lớn về tiền mặt, tạo sự khan hiếm giả
tạo, đã xuất hiện tỷ lệ % giữa thanh toán bằng chuyển khoản và tiền mặt. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm tăng tốc độ lạm phát vào
những năm 1988, 1989 có thời kỳ lên đến 3 con số, NHNN đã phải dùng liệu
pháp sốc tăng lãi xuất lên rất cao, có thời kỳ lên đến 12%/tháng.
Thanh toán liên hàng qua mạng :
Từ năm 1989, hệ thống NH đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin
(CNTT) vào các hoạt động nghiệp vụ. Đi đầu trong lĩnh vực là hệ thống NHNN,
đặc biệt từ năm 1993 đã ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực thanh toán.
Thời kỳ này các NH đã từng bớc thích nghi với cơ chế mới, chủ động trong việc
đầu t cơ sở vật chất cho hoạt động thanh toán của mình để phục vụ khách hàng
ngày càng tốt hơn, chuyển từ hình thức thanh toán liên hàng bằng th qua bu điện
sang thanh toán liên hàng qua mạng vi tính, chuyển việc giấy báo liên hàng bằng
Khoá luận tốt nghiệp
tay theo mẫu in sẵn của NHTW sang lập trên máy vi tính, việc đối chiếu cũng đợc
Đối tợng áp dụng đối với tất cả các CNNH cùng hệ thống có đủ điều kiện kỹ
thuật, nắm vững quy trình nghiệp vụ chuyển tiền điện tử, đợc Tổng giám đốc
NHCT VN cho phép tham gia bằng văn bản.
Mọi khách hàng giao dịch với NHCT VN đều đợc tham gia hệ thống thanh
toán điện tử theo quy chế thanh toán qua NH ban hành theo quyết định số 22/QĐ-
NH
1
của Thống đốc NHNN và các văn bản hớng dẫn của Tổng giám đốc NHCT
VN.
Các nghiệp vụ phát sinh trong thanh toán điện tử đợc hoàn tất trong một ngày
làm việc. Trờng hợp khách hàng yêu cầu chi nhánh NHCT phục vụ chuyển nhanh
và hoàn tất trong thời gian 1-3 h, khách hàng không phải chịu thêm phí.
Mọi khoản thanh toán điện tử gắn liền với nghiệp vụ thanh toán và quản lý
vốn của của NHCT Việt Nam đối với từng chi nhánh.
Trung tâm thanh toán chịu trách nhiệm tổ chức quy trình nghiệp vụ thanh
toán, đồng thời thực hiện việc nhận, hạch toán và chuyển thông tin từ NH khởi tạo
đến NH nhận, đảm bảo theo dõi chặt chẽ, hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ thnah
toán và hạn mức vốn, đồng thời theo dõi tính lãi điều hoà vốn cho các chi nhánh
tỉnh, thành phố ngày 20 hàng tháng.
Trung tâm thanh toán căn cứ vào quy trình nghiệp vụ trong quy chế này thiết
kế và xây dựng chơng trình ứng dụng, tổ chức hệ thống đảm bảo kỹ thuật đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống đảm
bảo nhanh chóng chính xác an toàn.
Các trởng phòng kế toán chi nhánh NHCT chịu trách nhiệm trớc giám đốc về
việc kiểm soát tính hợp pháp hợp lệ của chứng từ thanh toán, về các quyết định
chuyển tiền đi đến cũng nh hạch toán vào các tài khoản thích hợp.
Trung tâm điện toán NHCT Việt Nam chịu trách nhiệm về việc đảm bảo kỹ
thuật của các thông tin trên đờng truyền từ trung tâm thanh toán đến các chi nhánh
NHCT.
Căn cứ các chức năng nhiệm vụ đợc giao, các cá nhân tham gia quy trình
quy định tại chế độ chứng từ kế toán NH, TCTD ban hành kèm theo quyết định số
312/QĐ ngày 04/12/1996 của Thống đốc NHNNVN.
Lệnh chuyển tiền dới dạng điện tử phải đáp ứng các chuẩn dữ liệu do NHNN
quy định tại quy chế về lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý bảo quản và lu trữ chứng từ
điện tử của các NH, TCTD ban hành theo QĐ308/QĐ-NH2 ngày 16/09/1997 của
Thống đốc NHNN.
Khoá luận tốt nghiệp
Việc chuyển hoá chứng từ điện tử thành chứng từ giấy hoặc ngợc lại để phục
vụ yêu cầu thanh toán và hạch toán phải đảm bảo khớp đúng giữa chứng từ làm
căn cứ để chuyển hoá và chứng từ đợc chuyển hoá đúng mẫu quy định và đảm bảo
tính hợp pháp của chứng từ.
1.2.4 Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền điện tử của NHCT VN.
*Quy trình nghiệp vụ tại NH phát lệnh (NHPL).
Ngân hàng khởi tạo nhận chứng từ từ khách hàng, sau đó thanh toán viên
kiểm tra, kiểm soát rồi tiến hành chuyển hoá chứng từ giấy thành chứng từ điện tử
và chuyển cho kiểm soát viên đặt ký hiệu mật trớc khi chuyển đi thanh toán. Sau
khi tính KHM, bút toán hạch toán đợc tự động gửi về TTTT/Chi nhánh để đối
chiếu
* Tại Ngân hàng nhận lệnh đến:
Bộ phận thanh toán điện tử phải bố trí cán bộ chuyên trách trực đảm bảo tính
liên tục để nhận chuyển tiền Đến, thông báo kịp thời cho KSV để kiểm tra hoặc
giải mã ký hiệu mật (KHM) đồng thời hạch toán vào TK Ngời nhận lệnh (nếu đủ
điều kiện thanh toán) hoặc TK chờ thanh toán (nếu không đủ điều kiện thanh toán)
để xử lý theo quy trình xử lý sai sót. Lệnh thanh toán đợc tự động hạch toán và đ-
ợc tự động gửi về TTTT/Chi nhánh để đối chiếu
NHCT VN
...............
TTTT
(Số hiệu 999)
CN NHCT A
Hạch toán:
-Đối với lệnh thanh toán Có:
Nợ:TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
Có:TK ĐCV trong kế hoạch NHNL.
-Đối với lệnh thanh toán Nợ:
Nợ:TK ĐCV trong kế hoạch NHNL.
Có:TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
Khoá luận tốt nghiệp
Cuối ngày, Kế toán CTĐT in báo cáo đối chiếu chuyển tiền đi, đến trong
ngày để kiểm tra tính đúng đắn của số liệu trớc khi khoá sổ cuối ngày. Các báo
cáo này thực hiện lu trữ cùng các chuyển tiền đi, đến trong ngày.
1.2.5 Sai sót và điều chỉnh .
1.2.5.1 Sai sót và điều chỉnh tại Ngân hàng phát lênh(NHPL).
Mọi sai sót phát hiện khi cha tính KHM, KTV đợc phép sửa lại cho đúng.
Các sai sót phát hiện sau khi Lệnh thanh toán đã đợc tính KHM đều phải đợc
điều chỉnh bằng bút toán. Cụ thể, trong từng trờng hợp đợc xử lý nh sau:
1.2.5.1.1. Chuyển tiền thiếu:
KTV căn cứ vào chứng từ gốc và Lệnh thanh toán chuyển thiếu để lập bổ
sung. Nội dung Lệnh thanh toán lập bổ sung phải ghi rõ chuyển bổ sung cho Lệnh
thanh toán số ..ngày... và hạch toán nh các Lệnh thanh toán đi bình thờng.
1.2.5.1.2. Chuyển tiền thừa:
NHPL phải lập ngay điện thông báo và lập biên bản chuyển tiền thừa gửi NH
nhận lệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.
Trờng hợp phát hiện chuyển tiền thừa sau khi đã gửi Lệnh thanh toán đi nhng
NHNL cha kiểm tra KHM, KTV căn cứ vào chứng từ gốc và Lệnh thanh toán
chuyển thừa để lập phiếu điều chỉnh và hạch toán:
-Đối với lệnh thanh toán Có:
Nợ:TK ĐCV chờ thanh toán.
Nợ đỏ: TK đã trích thừa.
Đồng thời lập điện tra soát (phụ lục 01) gửi NHNL để yêu cầu hoàn trả số
-Đối với Lệnh thanh toán Nợ:Lập phiếu điều chỉnh
Có đỏ: TK thích hợp
Có: TKĐCV chờ thanh toán
Đồng thời lập Lệnh thanh toán Có chuyển đến NHNL để huỷ số tiền chuyển
thừa trên Lệnh thanh toán Nợ.
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
1.2.5.1.3 Chuyển tiền ngợc vế
NHPL phải lập ngay điện thông báo (mẫu 02) cho NHNL, điện tra soát gửi
NHNL để xử lý đồng thời thực hiện điều chỉnh huỷ đỏ số tiền bị ngợc vế sang
TKĐCV chờ thanh toán, sau đó tất toán TK này chuyển đi NHNL để huỷ toàn bộ
Lệnh thanh toán bị ngợc vế và lập Lệnh thanh toán đúng chuyển đi
1.2.5.1.4 Các sai sót khác :
(Số tiềnchuyển thừa)
(Số tiềnchuyển thừa)
(Số tiềnchuyển thừa)
Khoá luận tốt nghiệp
- Khi NHPL phát hiện sai sót các yếu tố khác nh : Tên ngời gửi , tên ngời
nhận , tài khoản ,số CMND .... mà chế độ cho phép thì NHPL gửi Điện tra soát
đến NHNL để điều chỉnh lại Lệnh thanh toán cho đúng.
-Đối với các Lệnh thanh toán bị từ chối do lỗi kỹ thuật , sai thông tin đối
chiếu hoặc phát hiện bị giả mạo. Hệ thống tự động gửi lại Lệnh thanh toán hoặc
đối chiếu theo một số lần nhất định . Sau một số lần gửi lại không thành công
Lệnh thanh toán sẽ bị phong toả và không còn giá trị để gửi đi. NHPL huỷ Lệnh
thanh toán theo biên bản với sự cho phép của TTTT và lập phiếu điều chỉnh hạch
toán đỏ toàn bộ số tiền trên Lệnh thanh toán bị huỷ. Đồng thời lập Lệnh thanh
toán khác thay thế .
1.2.5.2. Sai sót và điều chỉnh tại NHNL.
1.2.5.2.1 Lệnh thanh toán bị sai thiếu.
Khi nhận dợc Lệnh thanh toán bổ sung tiền thiếu , NHNL kiểm tra Lệnh