Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây” - Pdf 84


ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

---XW---

Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản
xuất chế biến xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam
những năm gần đây
bấp bênh, không ổn định luôn là đặc tính cố hữu của thị trường này. Chỉ trong
một thập kỷ qua, thị trường cà phê thế giới đã trải qua tới ba đợt biến động
mạnh, đấy là cuộc khủng hoảng thừa niên vụ 1994/1995, cơn sốt cà phê niên vụ
1997/1998 và cuộc khủng hoảng vừa qua, trong đó đợt biến động mới đây được
coi là nghiêm trọng nhất. Đến nay, trải qua những ngày giá cà phê xuống tới
mức kỷ lục, thấp nhất trong vòng 30 năm trở lại đây, chúng ta mới thực sự cảm
thấy được sự tàn phá dữ dội của cuộc khủng hoảng này. Tuy nhiên, mức độ
thiệt hại đối với mỗi nước là khác nhau tuỳ thuộc vào sự chủ động của nước đó
vào thị trường cà phê thế giới. Có thể nói, Việt Nam là một trong những nước
chịu hậu quả nặng nề nhất do tính phụ thuộc của ngành cà phê Việt Nam vào thị
trường thế giới rất cao, có tới 98% sản lượng là dành cho xuất khẩu. Bên cạnh
đó còn do những yếu kém trong hoạt động của ngành vốn tồn tại từ trước tới
nay: cà phê phát triển ồ ạt không theo quy hoạch, khâu chất lượng và chế biến
chưa được chú trọng, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc quảng bá cà
phê Việt Nam ra thị trường thế giới và xây dựng thương hiệu cho cà phê Việt
Nam. Đây mới chính là nguyên nhân sâu xa của vấn đề và những biến động của
T
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 2
thị trường cà phê thế giới vừa qua chỉ là một nguyên nhân khách quan và là giọt
nước đầy làm tràn ly.

Với những lí do nêu trên, tác giả chọn viết Khoá luận tốt nghiệp với đề tài
“Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến xuất
khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây”.
Nội dung khoá luận tốt nghiệp gồm 3 chương sau :
Chương I: Khái quát về thị trường cà phê thế giới.
Chương II: Tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng cà phê trong
những năm gần đây.

Cách đây khoảng 1000 năm, một người du mục Ethiôpi đã ngẫu nhiên phát hiện ra
hương vị tuyệt vời của 1 cây lạ mọc ở làng Capfa gần thủ đô Ethiôpi. Đàn gia súc của
ông sau khi ăn xong những cây này bỗng “tươi tỉnh” và đã không chịu để chủ lùa vào
bãi trú đêm, thấy vậy, ông nếm thử và cảm thấy rất sảng khoái, tỉnh táo và từ đó trái
cây đó đã trở thành đồ uống cho con ng
ười.
Từ thế kỷ VI, cà phê không chỉ được người Ethiôpi dùng mà do tác dụng kích thích
mạnh mẽ mà thời đó được coi là hiện tượng thần kỳ, cây cà phê được lan cả sang
Yemen, các nước khác ở Trung Cận Đông và nhanh chóng vượt biển đổ sang ARập
(Arabica) do đó có loại cà phê tên là Arabica.
Thế kỷ XVI các nhà buôn nước cộng hòa Vernize nhập khẩu cà phê vào Châu Âu,
như vết dầu loang, cà phê lan sang Châu Á, Châu Đại Dương. Giống cà phê Arabica
do người Hà Lan đưa vào Xrilanca, Côlômbia và Java (Inđônêxia) năm 1670. Cuối
th
ế kỷ XVII, cây cà phê đã tìm được chỗ đứng vững chắc trên thế giới.
2. Các loại cà phê
Vẫn còn nhiều tranh cãi về số lượng loại cà phê, người ta nói rằng có thể có từ 25-
100 loại cà phê trên thế giới nhưng những loại quan trọng nhất là:
- Cà phê chè (Coffee Arrabica L): Loại này chiếm 65 % số lượng cà phê sản xuất
trên thế giới
- Cà phê vối (Coffee canephora pirre): Loại này chiếm 35% lượng cà phê sản xuất
trên thế giới
- Cà phê mít (Excelsa) phát hiện đầu tiên năm 1902 ở Ubangui Chari nên thường
được gọi là cà phê Chari. Do có vị đậm nên người ta th
ường trộn với cà phê chè để
tạo ra vị thơm hơn.
3. Ích lợi của cây cà phê
Cây cà phê được dùng trong y học, trong công nghiệp thực phẩm. Cà phê còn tạo
ra công ăn việc làm, góp phần bảo vệ môi trường. Đặc biệt cây cà phê đem lại nguồn
thu nhập lớn. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới khoảng 10 tỷ USD/năm.

triệu bao/năm (2001/2002 – niên vụ năm ngoái). Nhìn chung sản lượng tăng từ năm
1976/1977 đến nay. Sản lượng thấp vào đầu những năm 1960 và năm 1975 do sương
muối. Từ năm 1987/1988 đến nay sản xuất cà phê cũng tăng giảm thất thường nhưng
nhìn chung là có xu hướng tăng lên về sản lượng. (Chi tiết xin xem tại phụ lục 1)
Sản xuấ
t cà phê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển: Chiếm hơn 90% sản
lượng của cà phê thế giới, các nước phát triển sản xuất với khối lượng rất nhỏ và chủ
yếu nhập khẩu để tiêu dùng. Châu Mỹ la tinh là khu vực trồng cà phê lớn nhất thế
giới, trong đó Braxin có sản lượng đứng đầu thế giới. Trước chiến tranh thế giới lần
thứ II, s
ản xuất cà phê của Braxin chiếm 80% sản lượng của cả thế giới, những năm
sau này do nhiều nước Châu Á, Châu Phi đẩy mạnh sản xuất nên hiện nay sản lượng
cà phê của Braxin chỉ chiếm khoảng 30% sản lượng thế giới. Tính từ tháng 9/2002
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 5
đến tháng 8/2003, sản xuất cà phê của Braxin đạt 27,7 triệu bao, chiếm tỷ trọng
31,5% trong tổng sản lượng cà phê thế giới.
Sản lượng cà phê của các nước Châu Á, Châu Phi tăng đáng kể và đã tăng dần tỷ
trọng so với sản lượng thế giới. Hiện nay nhiều nước đã chú trọng đến sản xuất cà
phê hòa tan để xuất khẩu.
Tóm lại, về sản xuất cà phê thế giớ
i nhìn chung trong thời gian gần đây có xu
hướng tăng lên về sản lượng và diện tích, đặc biệt ở khu vực Châu Á và Châu Phi.
Nhiều nước trên thế giới đã đi vào sản xuất cà phê hòa tan để xuất khẩu. Cà phê chè
vẫn chiếm ưu thế trong tổng sản lượng cà phê thế giới ( chừng 70%). Tuy nhiên, năng
suất cà phê thế giới có xu hướng giảm xuống.
4. Tình hình tiêu thụ cà phê
Cà phê là một mặt hàng buôn bán có giá trị kim ngạch lớn thứ 2 của thế giới đang
phát triển sau dầu mỏ. Cà phê được trồng và xuất khẩu ở các nước đang phát triển

Tổng số 60,177 61,380 61,420 57,929 58,557 61,380 59,386
Mỹ 18,111 18,255 18,077 17,457 17,758 18,468 17,897
ECP 34,528 35,681 35,436 32,904 33,972 35,033 33,297
Pháp 5,611 5,445 5,432 5,085 5,402 5,625 5,449
Đức 10,204 10,657 10,064 10,641 9,032 10,270 9,513
Italia 4,428 4,780 4,837 4,656 4,824 4,852 4,654
Áo 2,384 2,558 2,737 2,178 2,426 2,372 2,922
Tây Ban
Nha
2,943 2,095 2,820 2,684 2,828 3,139 2,803
Hà Lan 2,512 2,301 2,713 2,306 2,265 2,549 2,496
Thuỵ Điển 1,528 1,633 1,703 1,629 1,124 1,418 1,333
Nhật Bản 5,800 5,587 6,110 5,975 5,951 6,265 5,953
Nước khác 1,718 1,957 1,797 1,593 1,576 1,612 1,659
Nguồn: ICO, coffee statistics (9/2003)
Trong 21 nước nhập khẩu thành viên ICO thì Mỹ là nước tiêu thụ cà phê lớn nhất
và ổn định từ 17,5-18 triệu bao/năm, chiếm 30% thị trường cà phê thế giới, nhưng
cũng chỉ đạt bình quân 4kg/người/năm, còn thấp hơn so với các nước ở Châu Âu. Các
nước EU cà phê là đồ uống thông dụng, chiếm khoảng 20% thị trường đồ uống, tiêu
thụ cà phê hàng năm từ 33-35 triệu bao, chiếm 57-58% thị trường thế
giới. Nhật Bản
là nước tiêu thụ cà phê lớn nhất Châu
Á
, với mức tiêu thụ 6 triệu bao/năm. Các nước
đang phát triển lượng tiêu thụ tăng lên đáng kể là do điều kiện kinh tế được cải thiện.
4.2. Tiêu thụ cà phê ở các nước sản xuất.
Đơn vị: triệu bao
Niên vụ 1997/1998 1998/1999 1999/2000 2000/2001 2001/2002
Tổng số 22,045 22,976 24,079 24,352 22,918
Nguồn: ICO statisctics on coffee

niên vụ trước (2001-2002). Xuất khẩu cà phê của Braxin niên vụ 2002/03 tăng 5,9%
đạt 27,5 triệu bao chiếm tới 31% tổng sản lượng xuất khẩu cà phê thế giới. Xuất khẩu
của Việt Nam đạt 11,56 triệu bao, đứng thứ hai thế giới và nước có sản lượng xuất
khẩu cao thứ ba là Colombia với 10,48 triệu bao. Nhiều nước khác cũng có mức xuất
khẩu tăng trong niên vụ 2002/03 như Burundi, Camơrun, Ecuađo, Ethiôpia,
Guantêmala, Inđônêxia, Mađagaxca, Nicaragoa, Niu Ghinê, Tanzania và Thái Lan
trong khi một số nước lại có mức xuất khẩu giảm so với cùng kì là Coxta Rica, Bờ
biển Ngà, Ele Xanvađo, Honđurax, Mêhicô và Uganđa. (Chi tiết xin xem phụ lục 3).
* Các loạ
i cà phê xuất khẩu:
Trước năm 1962, cà phê thường được phân loại khi xuất khẩu theo chủng loại: là
cà phê chè (Arabica) và cà phê vối (Robusta). Nhưng sau này, Tổ chức Cà phê thế
giới (ICO) lại phân loại cà phê Arabica ra làm 3 loại: loại cà phê dịu Colombia
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 8
(Colombian Milds), loại cà phê dịu khác (Other Milds) và cà phê chè không rửa
(unwashed Arabica). Sau này loại cà phê chè không rửa lại được gọi tên là cà phê
Brazil (Brazilian Naturals) và các loại cà phê chè khác. Nhưng sau đó, Brazils không
những chỉ xuất khẩu cà phê chè mà Brazils còn xuất khẩu cà phê vối nên cách phân
loại trên lại gặp rắc rối.
Một cách phân loại khác theo chất lượng cà phê là:
+ “Cà phê hảo hạng”(gourmet coffee) đó là loại cà phê có chất lượng cao được
xuất khẩu từ nước xuất xứ, thường là từ một trang trại hoặc một khu vự
c nào đó và
giá thường cao.
+ Ngày nay do yêu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe, người sản xuất và xuất
khẩu lại đưa ra một tên gọi mới cho cà phê là “cà phê sạch” (organic coffee) đó là
loại cà phê được trồng mà không cần dùng đến phân bón và thuốc trừ sâu. Loại cà
phê này đang càng ngày càng được ưa chuộng ở liên minh Châu Âu và Mỹ.

* Côxtarica
Đây là một nước nổi tiếng về sản xuất cà phê chè ướt có chất lượng cao. Xuất khẩu
trung bình là 2,3 triệu bao/năm. Nhưng vụ 10/2002-9/2003 xuất khẩu của nước này
chỉ đạt 1,7 triệu bao.
* Cốt-đi-voa (Bờ biển Ngà)
Là một trong những nước sản xuất và xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới. Đầu
những năm 80, sản xuấ
t của Cốt-đi-voa đứng thứ 3 thế giới, sau Braxin và Côlômbia.
Nhưng đến đầu năm 1990. do chính phủ không quan tâm đến sản xuất cà phê nên
nhiều người trồng cà phê lại chuyển sang trồng ca cao, một loại hàng nông sản xuất
khẩu số một của Cốt-đi-voa. Lúc này, Cốt-đi-voa đứng hàng thứ 12 trên thế giới, xuất
khẩu chỉ trên 2 triệu bao. Sau đó chính phủ Cốt-đi-voa đã nhìn nhận lại v
ấn đề và
tăng giá thu mua cà phê, tăng cường đầu tư cho ngành này. Ngoài ra với sự tự do hóa
mậu dịch và giá cả cà phê thế giới tăng lên làm cho người trồng cà phê lại trồng cà
phê và sản xuất bắt đầu tăng. Sản xuất hàng năm trung bình đạt 4,4 triệu bao và xuất
khẩu trung bình là 4 triệu bao chiếm 4,8% xuất khẩu của thế giới. Xuất khẩu cà phê
của Cốt-đi-voa chủ yếu sang Pháp và Italia, EEC chiếm 80% lượng cà phê xu
ất khẩu
của nước này, trong đó 7% - 10% là cà phê hòa tan. Tương lai với việc trồng lại cà
phê có thể đưa sản lượng cà phê của Cốt-đi-voa lên mức 5 triệu bao/năm
* Inđônêxia
Với mức sản xuất trung bình là 6,8 triệu bao/năm (1990-1997) và 6,34 triệu bao (
1998-2002), Inđônêxia chiếm 7% sản xuất cà phê thế giới và đứng vào hàng thứ 3 sau
Braxin và Côlômbia, sản xuất cà phê vối lớn nhất, vượt Cốt-đi-voa. Xuất khẩu trung
bình là 5,5 triệu bao (c
ả hai loại cà phê vối và cà phê chè, nhưng chủ yếu là cà phê
vối). Inđônêxia xuất khẩu nhiều cà phê vối được chế biến bằng phương pháp khô
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây

đây chủ yếu xuất sang Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.
* Uganđa
Là một trong những nước sản xuất cà phê Robusta chính của thế giới, Uganda chỉ
sản xuất 10% cà phê Arabica.
Do sự bất ổn về chính trị trong những năm 70 và đầu những năm 80 đã làm ảnh
hưởng lớn đến ngành cà phê( giảm từ 3,5 triệu bao đầu những năm 60 xuống còn 2,5
triệu bao những năm 80). Nhưng sau đó do có sự thay đổ
i về chính trị và tự do hóa
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 11
kinh tế đã làm cho sản xuất cà phê phục hồi lại. Hai năm qua sản xuất chừng 3,1 triệu
bao/năm.
Dự báo vụ 2003/2004 sản xuất giảm xuống còn chừng 2,8 triệu bao, nhưng sẽ tăng
lên đến mức 5 triệu bao/năm vì Uganda sẽ đưa vào trồng giống mới (clonal coffee)
với năng suất tăng lên rất nhiều (từ 600 kg/ha lên 1300 kg/ha). Loại cà phê này ngắn
ngày (18 tháng là cho quả và 2 năm là đạt được năng suấ
t cao) và chịu được sâu
bệnh. Mấy năm qua tình hình sâu bệnh cà phê ở Uganda khá cao. Chính phủ đã hỗ trợ
200.000USD để chống bệnh héo lá và 250.000 USD để cung cấp giống mới cho
người trồng cà phê vì theo ước tính của Chính phủ nếu không kiểm soát được sâu
bệnh cà phê thì 5 năm tới sâu bệnh sẽ làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng cà phê và tổn
thất sẽ chừng 2%/vụ, tương đương 3,5 triệu USD.
* Kênya
Là một trong nhữ
ng nước sản xuất cà phê Arabica loại dịu lớn nhất thế giới. Sản
xuất trung bình 1,2 triệu bao/năm ( 1999-2003), xuất khẩu trung bình 0,9 triệu bao,
chủ yếu sang Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ, Bỉ và Nhật.
2. Tình hình nhập khẩu cà phê thế giới
2.1. Khái quát chung về nhập khẩu cà phê thế giới

phê năm 2001 là 21,4 triệu bao, năm 2002 tăng lên mức 21,7 triệu bao. Ba nhà chế
biến cà phê lớn ở Mỹ là Kraft General, Proctor & Gamble và Nestle. Những nhà sản
xu
ất này chế biến chiếm chừng 70% cà phê của cả nước.
Nhiều nhà sản xuất nhỏ cũng bắt đầu hoạt động để phục vụ nhu cầu của thị trường
đối với loại cà phê hảo hạng. Người ta ước tính là loại cà phê này chỉ chiếm chừng
16% thị trường cà phê bán lẻ. Theo kết quả cuộc thăm dò mùa đông 2001 của Hiệp
hội cà phê quốc gia Mỹ cho thấy ch
ỉ có 2,7% số người được phỏng vấn là uống loại
cà phê hảo hạng này hàng ngày. Tuy nhiên, thị phần của loại cà phê hảo hạng này
đang tăng lên và theo người phát ngôn của những nhà sản xuất loại cà phê này thì họ
tin rằng vào thế kỷ 21 loại cà phê này sẽ chiếm 1/3 thị trường cà phê của Mỹ.
Mỹ cũng như những nước nhập khẩu khác đều có tái xuất. Ví dụ năm 2002, Mỹ
nhập tổ
ng số là 21,7 triệu bao và tái xuất 2,6 triệu bao (chiếm 12%). Đặc biệt, Mỹ
xuất khẩu cà phê rang và cà phê hòa tan rất lớn. Năm 2001, Mỹ nhập 21,449 triệu bao
cà phê hạt và Mỹ lại xuất khẩu 2,485 triệu bao trong đó cà phê rang và cà phê hòa tan
chiếm 50%.
* Vương quốc Anh
Đây là nơi cà phê hòa tan được tiêu dùng lớn nhất, theo báo cáo của Data Monitor,
nhóm nghiên cứu thị trường, cà phê đã và đang thay thế chè, trung bình mỗi năm mỗi
người dân Anh sử dụng 15 bảng cho cà phê. Cũng theo báo cáo này, tốc
độ tăng của
cà phê là 11%/năm kể từ năm 1997, và hiện nay cà phê chiếm phần lớn nhất trong các
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 13
loại đồ uống ở Anh. Hàng năm (từ năm 1998-2002) Anh quốc nhập khẩu chừng hơn
3 triệu bao.
* Châu Âu

ở các nước này giảm đi,
ví dụ ở Nga năm 1999 là 1,77 triệu bao và năm 2002 là 1,5 triệu bao. Nhiều người
cũng đã chuyển sang dùng cà phê vối vì loại này rẻ hơn cà phê chè.
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 14
Vì lượng cung cấp cà phê còn ít và giá cả cao so với thu nhập, nên cà phê thường
được coi như một loại hàng hóa có giá trị ở Đông Âu. Người ta thường tặng nhau
những gói cà phê nhỏ để thể hiện lòng biết ơn đã giúp đỡ, sự mến khách chứ không
tặng hoa hay kẹo sôcôla như những nơi khác thường làm. Tiêu dùng tính theo đầu
người ở Trung và Đông Âu còn xếp vào loại thấp nhất thế giới nhưng đây là khu vực
có tiềm n
ăng tiêu thụ cà phê rất lớn, đặc biệt ngày nay.
* Những khu vực khác
Mặc dầu những thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới nằm ở Bắc Mỹ và
Châu Âu, nhưng vẫn còn những khu vực khác, ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Algeria. Nhìn chung việc nhập khẩu cà phê của Nhật Bản có biến động trong phạm vi
chừng 6 triệu bao từ 1994-1998 và 7 triệu bao từ năm 1999-2002. Hàn Quốc nh
ập
khẩu trong những năm qua trung bình 1 triệu bao.
Có nhiều tiềm năng tiêu thụ cà phê ở những nước này, đặc biệt là ở Nhật Bản và
những nước Châu Á khác. Thị trường Nhật Bản được coi là một thị trường ngày càng
khó tính. Ở đây người ta thường bán những loại cà phê hảo hạng, và thị phần cho loại
cà phê chất lượng cao này ngày càng tăng lên. Trong khi Nhật được coi là một nước
dùng loại cà phê “truyền thố
ng”, thì nước này cũng là một trong những nước đứng
đầu phát minh ra nhiều sản phẩm về cà phê như cà phê hộp, cà fê đá, cà phê hỗn hợp.
Cà phê tan cũng nhanh chóng giành được vị trí trên thị trường Nhật Bản. Một điều
thú vị là thói quen tiêu dùng cà phê của Nhật Bản cũng lan sang cả những nước Châu
Á khác như Hongkong và Singapore. Kết quả là Châu Á sẽ trở thành không những là

tục tăng lên thì sau đó lại có từ 4 đến 5 năm giá liên tục giảm xuống. Riêng năm
2003, giá cả cà phê thế giới chia làm 2 giai đoạn: đầu năm là 100 xu Mỹ/pound và giá
tăng lên đến 311 xu Mỹ/pound vào giữa năm, th
ời kỳ thứ 2 là thời kỳ giá giảm xuống
đột ngột còn 150 xu/pound. Giá của các loại cà phê khác nhau thì khác nhau. Do
những đặc điểm về sản xuất và tính hơn hẳn về mặt chất lượng, giá cà phê chè thường
cao hơn giá cà phê vối. (Chi tiết xin xem phụ lục 5).
5. Tập quán kinh doanh cà phê thế giới

Cà phê cũng được mua bán theo tập quán kinh doanh loại cây công nghiệp dài
ngày như bông và cao su. Người ta thường mua bán thực hoặc mua bán kỳ hạn cà phê
trên các cơ sở giao dịch hàng hóa của thế giới như London và New York. Hiện nay
nhiều nước đã ký kết theo mẫu hợp đồng Châu Âu 1997.
6. Xúc tiến mậu dịch cà phê
Hiện nay tổng số tiền dùng cho quảng cáo của các loại đồ uống khác đã vượt rất xa
số tiền dùng cho quảng cáo cà phê. Để tăng lượng tiêu dùng cà phê chủ yếu ở những
nước nhập khẩu và để cạnh tranh với các loại đồ uống khác, gần đây ICO đã quyết
định dành 2 triệu USD cho chiến dịch xúc tiến bán cà phê ở Trung Quốc và Nga.
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 16
Côlômbia cũng tiến hành một chiến dịch quảng cáo và xúc tiến mậu dịch cà phê trên
toàn thế giới cho đất nước này.
Cũng theo ICO, các nhà chế biến cà phê trên thế giới đã đầu tư hàng chục triệu đô
la Mỹ để xúc tiến bán hàng của họ. Người ta cho rằng tiền chi cho quảng cáo và xúc
tiến mậu dịch chiếm từ 3-6% tổng số tiền bán hàng.
Xúc tiến mậu dịch có thể ở dưới dạ
ng bán hàng, quảng cáo, phát tờ rơi, triển lãm
hội chợ và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Ủy ban xúc tiến mậu dịch của ICO đã được thành lập từ năm 1964 ở London để

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể thương lượng các vấn đề về cà phê.
- Mở rộng và minh bạch hóa thương mại cà phê quốc tế.
- Thu thập và cung cấp các thông tin kinh tế và kĩ thuật, các số liệu thống kê,
nghiên cứu và phát triển các vấn đề về cà phê.
- Khuyến khích các n
ước thành viên ổn định và phát triển ngành cà phê trong
nước.
- Xúc tiến, khuyến khích và gia tăng tiêu dùng cà phê.
- Phân tích và hỗ trợ các dự án phát triển ngành cà phê thế giới.
- Khuyến khích chuyển giao công nghệ giữa các nước thành viên.
IV. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI
1. Những yếu tố tác động đến thị trường cà phê thế giới
Phần này chỉ nêu lên những yếu tố chính tác động đến cung, cầu và giá cả cà phê.
1.1. Những yếu tố chính tác động đến CUNG
a. Thời tiết khí hậu
Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới có những yêu cầu sinh thái rất khắt khe. Khi
thời tiết thuận hòa, sản xuất đạt kết quả tốt dẫn đến cung tăng lên. Nhưng nếu thời tiết
xấu như sương muối ở Braxin năm 1975 phá hoại 60% diệ
n tích cà phê ở đây.
Theo nghiên cứu của ICO về ảnh hưởng của khí hậu đối với thị trường và sản xuất
cà phê đã làm cho nhiều người phải ngạc nhiên vì theo bảng báo cáo này thì sản xuất
và thị trường cà phê rất nhạy cảm khi có sương muối và hạn hán nhưng khi có hiện
tượng ElNino thì không có ảnh hưởng rõ rệt. Ví dụ năm 1982/1983 có ElNino – sản
lượng toàn cầu giảm 16%, nhưng những năm 1969/1970, 1972/1973 và 1991/1992
tuy thế gi
ới có hiện tượng ElNino nhưng sản xuất cà phê lại tăng lên rõ rệt. Có người
cho rằng vì ElNino chỉ ảnh hưởng đến một số vùng nhất định của thế giới trong một
thời điểm nhất định, nên một số khu vực này sản lượng bị giảm nhưng các khu vực
khác của thế giới sản lượng có thể lại tăng.
b. Giá cả

nhiều nước khác như Nicaragua, Indonexia, Uganda v.v... đã
cấp tín dụng để hỗ trợ sản xuất cho người trồng cà phê. Những sự điều tiết này cũng
ảnh hưởng lớn đến lượng cung cà phê thế giới.
f. Do yêu cầu của hiệp hội
Ngày nay, để tồn tại người ta thường liên doanh, liên kết lại với nhau mang tính
chất toàn cầu hay khu vực. Cà phê cũng không thể ở ngoài quy luật đó. Ví dụ tháng
5/1997 ACPC ( tổ
chức của những nước trồng cà phê thế giới) đã thỏa thuận sẽ tiếp
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 19
tục giảm hạn ngạch xuất khẩu cà phê xuống còn 52,75 triệu bao trong vòng 12 tháng(
bắt đầu từ 1/7/1999) so với 53 triệu bao hạn ngạch cũ. Tuy nhiên đôi khi việc này
cũng không có nhiều tác dụng lắm.
1.2. Những yếu tố chính tác động đến CẦU
Tại sao người ta lại uống cà phê và họ uống bao nhiêu cà phê? Theo các tác giả của
cuốn “Hướng dẫn cho các nhà xuất khẩu cà phê năm 1992” thì câu trả lời cho câu hỏi
đó khá phức tạ
p do đó chúng ta chỉ xét đến những yếu tố chính tác động đến cầu như
sau:
a. Giá cả
Đối với một người tiêu dùng bình thường, giá bán lẻ cà phê có ảnh hưởng lớn đến
tiêu dùng cà phê hay không? Bản báo cáo của Ngân hàng thế giới đã trình bày độ co
giãn của cầu đối với giá cà phê của 21 nước nhập khẩu (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức,
Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, Australia,
Canada, Phần Lan, Nhật B
ản, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ và New Zealand).
Kết quả của khảo sát cho thấy cầu rất ít co giãn ở 21 nước nói trên khi thay đổi 1%
giá. Do vậy, giá có ảnh hưởng đến cầu của những nước này nhưng không ảnh hưởng
đến mức như người ta thường nói. Tuy nhiên giá trị co giãn khảo sát trên chỉ liên

Lan có độ co giãn theo thu nhập cao vì mức
độ uống cà phê thấp. Nhưng thu nhập đến một mức nào đó, nhu cầu đối với cà phê sẽ
ổn định. Ví dụ như các nước ở Bắc Âu, tăng thu nhập ít ảnh hưởng đến cầu.
c. Sở thích của người tiêu dùng
Cà phê vốn thường được uống trong các bữa ăn của gia đình. Tuy nhiên với nhịp
độ công nghiệp hóa ngày nay đòi hỏi cà phê phải được đi
ều chỉnh để thích ứng với lối
sống mới nếu không cà phê sẽ phải nhường thị phần của mình cho các loại đồ uống
khác. Ở một số nước đồ uống “lạnh” (ví dụ như Cocacola) đang ngày càng phổ biến.
Vì cà phê thường phải uống nóng nên cà phê khó cạnh tranh với đồ uống lạnh nêu
trên. Ngày nay trên nhiều thị trường tiêu thụ truyền thống, người tiêu dùng không còn
luôn luôn trung thành với một loại s
ản phẩm mà họ sẵn sàng chuyển sang dùng loại
sản phẩm cà phê mới như loại sấy khô bằng phương pháp làm lạnh (freeze-dried
coffee) hay loại cà phê xay hạt thô. Uống cà phê đá đang ngày càng được nhiều người
ưa chuộng ở một số nước, đặc biệt ở Nhật Bản. Loại thức ăn người ta dùng cũng ảnh
hưởng đến số lượng cà phê người ta uống. Có thể do thói quen và khẩu vị, cà phê
thường được uống cùng với một số loại thức ăn này hơn là loại thức ăn khác. Điều đó
lý giải tại sao người ta ít uống cà phê ở những cửa hàng ăn bán các món ăn phương
Đông hơn là ở những nơi bán các món ăn của Mỹ và Châu Âu. Ở Mỹ có một sự thay
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 21
đổi về khẩu vị từ thức ăn ngọt nhiều kem sang loại thức ăn nhiều gia vị. Người ta cho
rằng đó chính là nguyên nhân làm giảm cầu về cà phê ở đây hiện nay.
Đã từ lâu người ta cho rằng cà phê “tốt hơn” (có nghĩa là chất lượng hạt tốt hơn,
chế biến được cải tiến hơn, thuận tiện cho người tiêu dùng hơn) sẽ tạo ra cầu cà phê
nhiều h
ơn. Điều này đã được xác nhận qua kiểm nghiệm ở Mỹ. Với những cải tiến về
pha trộn gần đây, lượng cầu hình như đã tăng lên đáng kể đối với các loại cà phê này.

Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 22
các nhà nghiên cứu cà phê ngoài những yếu tố khách quan như khí hậu, thời tiết, còn
có những yếu tố chủ quan như:
a. Các chiến lược của các nhà đầu cơ
Qua biểu 4 thống kê trên ta thấy giá cả biến động theo quy luật cứ 4-5 năm tăng rồi
lại giảm trong khi đó sản xuất và tiêu thụ không theo quy luật đó. Theo các nhà
nghiên cứu về cà phê cho rằng chiến lược của các nhà đầu cơ cà phê, lượng mua vào
bán ra của h
ọ đã ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả, ít nhất là trong một thời gian
ngắn.
Mỗi khi họ nghe tin thời tiết không ổn như sương muối ở Braxin, hạn hán ở
Indonexia, họ lại có chiến lược mua vào. Việc này làm cho giá cả cà phê tăng lên
nhanh chóng và ngược lại. Một ví dụ gần đây nhất, 6 tháng đầu năm 2002, giá cả cà
phê đã tăng từ 100 xu Mỹ/pound (tháng 1) lên đến 311 xu Mỹ/pound (tháng 6). Vì
các nhà buôn dự đoán là sẽ không đủ lượng cung cấp cà phê chè rửa do thu hoạch cà
phê ở Côlômbia giảm. Chính vì vậy các nhà nhập khẩu và đầu cơ ào ạt mua vào đẩy
giá cà phê tăng vọt lên.
b. Sự chi phối của các nước xuất khẩu cà phê chính
Sự điều chỉnh cân bằng hạn ngạch của ACPC cũng tác động đến giá. Khi giá cao,
ACPC tăng mức hạn ngạch xuất khẩu lên và khi giá thấp ACPC lại cắt giảm hạn
ng
ạch đi để tạo nên sự cân bằng cung cầu, duy trì ổn định giá. Tuy nhiên đôi khi việc
này cũng không có tác dụng lớn.
c. Sự can thiệp của Chính phủ
Chính phủ một số nước còn can thiệp vào ngành cà phê bằng cách quy định giá sàn
(giá tối thiểu). Nhiều nước trong đó có Việt Nam đã từng thực hiện “Quỹ bình ổn giá
cho nông nghiệp”. Quỹ này được tạo nên nhờ việc thu phí xuất khẩu. Khi giá cả
xuống quá thấ
p, nhà nước dùng quỹ này để hỗ trợ cho nhà sản xuất và nhà xuất khẩu.
2. Dự báo về triển vọng thị trường cà phê thế giới

ẽ làm giảm cầu chừng 0,8 triệu
bao/năm. Nhu cầu về cà phê vối sẽ tăng lên rất nhiều so với cà phê chè và cà phê vối
sẽ chiếm 1/3 tổng sản lượng cà phê thế giới.
2.4. Giá cả
Theo dự báo của Mỹ và của ICO giá cả sẽ tăng do có sự hạn chế cung cấp cà phê
của ACPC và nhu cầu tăng. Theo các nhà kinh tế Đức ngày nay các nhà chế biến cà
hê thường dùng phương thức mua “đúng lúc- Just in time”( J.I.T) để hạn chế
thấp
nhất mức chi phí lưu kho (tỷ lệ lưu kho thường dưới mức 30%). Lưu kho thấp là một
ấu hiệu nguy hiểm vì nó sẽ làm cho giá cả biến động thất thường khi tình hình sản
xuất cà phê biến động. Do đó khó có thể dự báo chắc chắn về giá cả cà phê trong một
thời gian dài.
Vài nét về thị trường cà phê thế giới và tình hình sản xuất, chế biến,
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam những năm gần đây
Trần Phúc Long – Anh 6 K38 KTNT ^ 24
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT
NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
1. Tiềm năng sản xuất cà phê của Việt Nam.
1.1. Về khí hậu.
Nước ta năm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, trải dài theo phương kinh
tuyến từ 8
0
30’ đến 23
0
30’ vĩ độ bắc. Điều kiện địa lý và khí hậu rất thích hợp với
việc phát triển cây cà phê và đem lại cho cà phê Việt Nam một hương vị rất riêng.
Hai loại cà phê chủ yếu đang được trồng phổ biến ở nước ta là cây cà phê vối và
cà phê chè có những yêu cầu sinh thái khác nhau. Cây cà phê vối ưa thời tiết nóng ẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status