----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN
HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
NAM HÀ Giáo viên hướng dẫn :
Họ tên sinh viên :
----------
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
1
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNGTÁC
KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG.
1.1 – Sự cần thiết phải tổ chức công tác bán hàng,kết quả bán hàng :
1.1.1 – Ý nghĩa,vai trò của quá trình bán hàng,kết quả bán hàng:
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá,thành phẩm,dịch vụ cho khách
hàng,doanh nghiệp thu được tiền hay được quyền thu tiền. Đó cũng là quá trình vận động vốn
kinh doanh từ vốn thành phẩ
m,hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả. Ngoài quá
trình bán hàng ra bên ngoài,doanh nghịêp còn có thể phát sinh nghiệp vụ bán hàng nội bộ
doanh nghiệp theo yêu cầu phân cấp quản lý và tiêu dùng nội bộ.
toán,từng loại thành phẩm tiêu thụ và tình hình thu hồi nợ đối với từng khách hàng.
- Tính toán ,xác định doanh thu bán hàng,doanh thu thuần tạo cơ sở để xác định chính xác lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thiết thông tin một cách chi tiết , cụ thể về quá
trình bán hàng và kết quả bán hàng cảu từng loại sản phẩm ,hàng hoá ,lao vụ ,dịch vụ để đáp
ứng yêu cầu quản lý vĩ mô,để có được nhũng quyết định đúng đắn cho sự phát triển doanh
nghiệp không chỉ trong thời gian hiện tại mà cả về tương lai lâu dài. Việc kế toán chi tiết hoạt
động bán hàng ,kết quả bán hàng sẽ giúp các chủ doanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu
hẹp quy mô hoạt động như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ sản xuất, quyết định tiếp tục
sản xuất kinh doanh hay chuyển hướng hoạt động . Vì lẽ đó ,tổ chức công tác kế toán bán hàng
,kết quả bán hàng là rất cần thết đối với các doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin một cách
đầy đủ chính xác,kịp thời,có hệ thống và đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng
thông tin.
1.1.3 – Nhiệm vụ kế toán bán hàng và kết quả bán hàng:
Kế toán với chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp
nói chung và khâu bán hàng, xác định kết quả bán hàng nói riêng phải thực hiện tốt các nhiệm
vụ sau:
- Ghi chép đầy đủ ,kịp thời khối lượng thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán ra và tiêu thụ nội
bộ, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, chi phí bán hàng và các khoản chi phí nhằ
m
xác định đúng đắn kết quả bán hàng.
- Kiểm tra , giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng , kế hoạch lợi nhuận,phân phối lợi
nhuận,kỷ luật thanh toánvà thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Cung cấp thông tin chính xác ,đầy đủ về tình hình bán hàng,xác định kết quả và phân phối
kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: việc tổ chức kế toán bán hàng
,kết quả bán hàng trong doanh nghiệp là rất cần thiết .Nó giúp doanh nghiệp nhận biết được
tình hình tiêu thụ của từng mặt hàng,khả năng thanh toán của từng khách hàng,lợi nhuận thu
được qua hoạt động bán hàng để từ đó doanh nghiệp đề ra những giải pháp tích cực nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới.
hướng càng tăng để tạo ra sự hấp dẫn khách hàng, tăng doanh thu. Nhưng bán chịu cũng có
nhược điểm là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn và có khả nă
ng mất vốn.
+ Bán trả góp : Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần . Người mua sẽ thanh toán lần
đầu ngay tại thời điểm mua . Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và
phải chịu một lãi suất nhất định. Thông thường số tiền trả ở các kỳ tiếp theo bằng nhau trong
đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi trả chậm .
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
4
- Phương thức gửi hàng : Theo phương thức này , định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách
hàng trên cơ sở thoả thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm đã
quy định trong hợp đồng.
Khi xuất kho gửi đi , hàng vẫn thuộc quyền quản lý ,sở hữu hoặc kiếm soát của doanh nghiệp .
Chỉ khi nào khách hàng thanh toán hay chấp nhận thanh toán thì khi ấy hàng mới chuyển
quyền sở hữu và được ghi nhận doanh thu bán hàng.
Phương thức gửi hàng được chia làm hai trường hợp sau :
+ Gửi hàng chưa được chấp nhận ngay : Trong trường hợp này ,doanh nghiệp chuyển hàng
cho bên mua theo địa điểm ghi trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp. Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển
giao (một phần hay toàn bộ ) thì số hàng được bên mua chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ
và doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng đó .
+ Gửi hàng cho các đại lý ký gửi : Theo phương thức này , doanh nghiệp (bên giao đại lý )
xuất hàng cho bên đại lý ký gửi (bên đại lý) để bán .Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới
hình thức hoa hồng hay chênh lệch giá .
Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể áp dụng một số phương pháp bán hàng như phương thức
đổi hàng , xuất giao sản phẩm ,hàng hoá để trả lương,trả thưởng cho cán bộ công nhân viên
hoặc đem đi biếu , tặng, trưng bày, triển lãm , giới thiệu sản phẩm... . Tuỳ thuộc vào quy mô ,
đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình mà doanh nghiệp nên áp dụng linh hoạt nhằm đem lại
lợi ích kinh tế cao nhất.
- Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liềnvới
quyền sở hữu hàng hoá cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong hầu hết các
trường hợp , thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với quyền sở hữu hợp pháp hoặc
quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua.
- Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá
thì giao dịch không được coi là dịch vụ bán hàng và doanh thu không được ghi nhận.
- Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng
hoá thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhậ
n .
Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh tnghiệp nhận lợi ích kinh tế từ
giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắn
chắn , chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong. Nếu doanh thu đã
được ghi nhận trong trường hợp chưa thu tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là
không thu được phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà không được ghi
giảm doanh thu.Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (nợ phải thu khó đòi)
thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu
khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu
khó đòi .
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
6
- Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được gghi nhận đồng thời theo
nguyên tắc phù hợp. Các chi phí , bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng ( chi
phí bảo hành và chi phí khác) thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận
doanh thu thoả mãn. Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận
doanh thu mà ghi nhận là một khoản nợ phải trả lại tại thời điểm nhận tiền trước của
khách hàng. Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ ghi nhận là doanh
thu khi đồng thời thoả mãn năm điều kiện đã nêu ở trên.
1.2.2.2 – Các khoản giảm trừ doanh thu:
Trong điều kiện hiện nay , để đẩy mạnh tiêu thụ , nhanh chóng thu hồi tiền bán hàng , doanh
hoàn thành không nhập kho đưa đi bán ngay chính là giá thành sản phẩm của thực tế hoàn
thành .
Theo chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho” ,giá vốn thực tế của thành phẩm xuất kho được
xác định bằng một trong các phương pháp sau:
+ Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này , hàng xuất kho thuộc lô
hàng nào thì lấy đơn giá nhập của lô hàng đó để tính trị giá vốn thực tếa của hàng xuất kho.
Phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn
định và nhận diện được .
+ Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này , giá trị của từng loại hàng
tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại tồn kho tương tự như đầu kỳ và giá
trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ . Giá trị trung bình có thể được
tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về phụ thuộc vào tình hình doanh
nghiệp.
Trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho theo từng lần xuất được tính theo công thức :
Giá vốn thực tế = Đơn giá thực tế x Số lượng hàng
hàng xuất kho bình quân xuất kho
Trong đó , đơn gía bình quân có thể tính trong một trong hai phương án sau:
• Phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ :
Giá vốn thực tế hàng + Giá vốn thực tế hàng
tồn kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ
Đơn giáthực tế =
bình quân Số lượng hàng tồn + Số lượng hàng nhập
kho đầu kỳ kho trong kỳ
• Phương pháp bình quân gia quyền liên hoàn:
Trị giá mua thực tế hàng + Giá vốn thực tế hàng
tồn sau lần xuất trước nhập kho trong kỳ
Đơn giá thực tế =
bình quân Khối lượng hàng tồn + Khối lượng hàng nhập từ
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
số hàng đã bán và số hàng còn tồn trong kho.
Thường các doanh nghiệp tiến hành phân bổ CPBH và CPLQLDN cho hàng đã bán theo tiêu
chuẩn trị giá vốn hàng đã xuất bán như sau :
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
9
CPBH(CPQLDN) + CPBH(CPQLDN) Trị giá
CPBH(CPQLDN) của hàng tồn kỳ phát sinh trong kỳ vốn hàng
phân bổ cho = x bán
số hàng đã bán Trị giá vốn hàng + Trị giá vốn hàng trong kỳ
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
1.2.4 – Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp :
1.2.4.1 - Chi phí bán hàng:
Trong quá trình lưu thông , tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá ,dịch vụ , doanh nghiệp phải bỏ ra các
khoản chi phí như chi phí bao gói sản phẩm ,bảo quản hàng hoá , chi phí vận chuyển , tiếp thị
quảng cáo... gọi chung là chi phí bán hàng(CPBH). Có thể nói CPBH là chi phí lưu thông và
chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,hàng hoá , dịch vụ.CPBH có nhièu
khoản chi cụ thể với nội dung và công cụ khác nhau. tuỳ theo yêu cầu quản lý,có thể phân biệt
CPBH theo tiêu thức thích hợp.
Theo quy định hiện hành, CPBH của doanh nghiệp được phân thành các loại sau :
- Chi phí nhân viên : Các khoản tiền lương,phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân
viên đóng gói , bảo quản,vận chuyển sản phẩm,hàng hoá...và các khoản trích
BHXH,BHYT,KPCĐ trên tiền lương theo quy định.
- Chi phí vật liệu bao bì : các chi phí về vật liệu , bao bì dùng để gói sản phẩm hàng hoá,bốc
vác,nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa
chữa TSCĐ...
- Chi phí dụng cụ ,đồ dùng: chi phí về công cụ, dụng cụ ,đồ dùng đo lường,tính toán,làm
việc... trong khâu tiêu thụ sản phẩm , hnàg hoá dịch vụ.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao của các TSCĐ dùng trong khâu tiêu thụ
sản
văn phòng làm việc, kho tàng,vật kiến trúc ,phương tiện truyền dẫn...
- Thuế ,phí và lệ phí : các khoản thuế như thuế nhà đất , thuế môn bài...và các khoản phí
,lệphí giao thông,cầu phà...
- Chi phí dự
phòng: các khoản trích dự phòng giảm giá hàng tồn kho , dự phòng phải thu
khó đòi.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài : các khoản chi về dịch vụ mua ngoài , thuê ngoài như tiền điện
nước thuê sửa chữa TSCĐ dùng chung cho cả doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác : các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản kể trên như chi hôị nghị ,
tiếp khách ,chi công tác phí , chi đào tạo cán bộ ,trả lãi tiền vay cho sản xuất kinh doanh.
1.2.4.3 – Tính toán,phân bổ ,kết chuyển CPBH,CPQLDN cuố
i kỳ :
Để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí ,cuối kỳ kế toán viên cần tính toán
phân bổ kết chuyển CPBH và CPQLDN trừ vào lợi nhuận gộp để xác định kết quả thuần của
hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường.
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
11
Trong trường hợp việc bán hàng đều đặn , chu kỳ sản xuất không dài, CPBH và CPQLDN tập
hợp trong kỳ cuối kỳ được kết chuyển toàn bộ sang tài khoản 911 để xác định kết quả kinh
doanh.
Trong trường hợp doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài ,sản phẩm tiêu thụ có biến động lớn
giữa các kỳ , CPBH và CPQLDN phát sinh trong kỳ sẽ được kết chuyển toàn bộ sang tài
khoản số142 (1422 – chi phí chờ kết chuyển ) để phân bổ cho các kỳ sau .
1.2.5 – Kết quả bán hàng :
Kết quả bán hàng là kết quả tiêu thụ sản phẩm ,kinh doanh mua bán vật tư, hàng hoá cung cấp
thực hiện lao vụ dịch vụ. Đây chỉ là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đánh gía sự phát triển và
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ , đánh giá khả năng trình độ quản lý
của các nhà doanh nghiệp và là cơ sở để xác định nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước.
Để phù hợp và thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu lập các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt
hoặc nhiều kỳ hạch toán như cung cấp dịch vụ vận tải ,du lịch cho thuê TSCĐ theo phương
thức cho thuê hoạt động.
TK 511 có 4 tài khoản cấp 2 : + TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm
+ TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
- TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ : Tài khoản này được sử dụng để phản ánh tình hình
bán hàng trong nội bộ doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập ( giữa đơn vị chính với các
đơn vị phụ thuộc và giữa các đơn vị phụ thuộc với nhau).
- TK 521 – Chiết khấu thương mại : Tài khoản này được dùng để phản ánh khoản chiết khấu
thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng đã mua
hàng( sản phẩm ,hàng hoá),dịch vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu
thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết ,bán hàng .
Cuối kỳ khoản chiết khấu thương mại được kết chuyển sang TK511- Doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ để xác định doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm, hàng hoá
,dịch vụ thực tế thực hiện trong kỳ hạch toán.
- TK 531- Hàng bán bị trả lại : Tài khoản này phản ánh trị giá của số sản phẩm,hàng hoá đã
tiêu thụ bị khách hàng trả lại do kém phẩm chất lạc hậu th
ị hiếu,không đúng chủng loại
quy cách.
Cuối kỳ tài khoản này không có số dư.
- TK532 – Giảm giá hàng bán : Tài khoản này phản ánh khoản giảm giá hàng bán cho khách
hàng và chuyển số tiền giảm giá sang TK 511 hoặc TK512 để giảm doanh thu bán hàng.
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
- TK 632- Giá vốn hàng bán : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của thành
phẩm,hàng hoá,dịch vụ,giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp
xây lắp) tiêu thụ trong kỳ.
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
13
Ngoài ra ,kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác :
TK111,112,113,155,156,131,157,3331,421...
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
14
Các tài khoản phản ánh quá trình bán hàng, kết quả bán hàng trên mới chỉ phục vụ cho việc
ghi chép kế toán tài chính, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, kiểm tra ghi chép tài chính, kế toán.
Vì vậy trong quá trình tổ chức công tác kế toán bán hàng kết quả bán hàng , ngoài việc sử
dụng các tài khoản kế toán cấp 1, cấp 2 theo đúng nội dung, phương pháp ghi chép đã được
quy định trong chế độ kế toán hiện hành.
1.3.2 – Trình tự kế toán : Sơ đồ 1: Kế toán bán hàng ,kết quả bán hàng đối với doanh nghiệp
áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:(Xem trang sau).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT
QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM NAM HÀ
2.1/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà có trụ sở chính tại 415 Hàn thuyên Nam Định có tên
đối ngoại là NAMHA JOINT STOCKPMACEUTICAL COMPANY ; viết tắt là : NAPHACO
Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà tiền thân là quốc doanh dược phẩm Nam Hà do nhà nước
quốc hữu hoá của một cơ sở thuốc gia truyền người Trung Quốc mang tên ICHHoa Sinh. Vì
vậy công ty có nhiều mặt hàng đông dược truyền thống mà ít bạn hàng có được.
Theo quyết định 148/QĐUB ngày 21/3/1979 của UBND tỉnh Nam Định ,Công ty được thành
lập do sự hợp nhất của 03 đơn vị :
- Công ty dược phẩm Hà Nam Ninh
- Công ty Dược liệu Hà Nam Ninh
- Xí nghiệp dược phẩm Hà Nam Ninh
CHXHCN Việt Nam có quyền tự chủ và tự quyết định tự chiụ trách nhiệm đầy đủ về tài
chính và kết quả kinh doanh. Cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với nhà nước
theo luật định và với khách hàng theo hợp đồng. Công ty cổ phần d
ược phẩm Nam Hà là
công ty cổ ohần chi phối do nhà nước là 30% cổ phần,cổ đông công ty nắm 70% cổ phần .
Công ty được Bộ Y Tế cấp giấy phép gần 100 sản phẩm thuốc các loại và hiện nay công ty
có hơn 90 sản phẩm thuốc đang lưu hành trên toàn quốc . Công ty cổ phần dược phẩm Nam
Hà là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt vì hàng hoá của công ty sản xuất ra các mặt hàng
thuốc chữa bệnh liên quan đến s
ức khoẻ con người ,do đó phải đảm bảo các tiêu chuẩn ngặt
nghèo của tiêu chuẩn dược điển Việt Nam. Bao gồm việc sản xuất kinh doanh ,xuất nhập
khẩu trực tiếp các loại thuốc đông y tân dược ,hoá chất dược liệu,tinh dầu,dụng cụ y tế đồng
thời từng bứơc phát triển sang lĩnh vực hoá mỹ phẩm ,thuốc tẩy rửa dùng cho con người.
Do sư lãnh đạo đúng hứơng ,có hiệu quả của Ban lãnh đạo công ty cùng với sự đoàn kết
nhất trí của CBCNV, công ty đã từng bước đã từng bước đưa hoạt đọng sản xuất kinh
doanh ngày một phát triển,đời sống của CBCNV trong công ty được đảm ,duy trì được việc
làm với mức thu nhập tưong đối ổn định (bình quân 815.000đ/người/tháng)
* Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty
Buổi đầu thành lập công ty gặp rất nhiều khó khăn nhưng công ty đã từng bứơc khắc
phục để tồn tại và phát triển.Trong giai doạn kinh tế thị trường hiện nay, mặt hàng thuốc
ngoại nhập nhiều, vì vậy để đứng vững và phát triển được công ty đã không ngừng đổi mới
cơ cấu sản xuất, luôn quan tâm ưu tiên việc nghiên cứu sản phẩm mới có chất lượng t
ốt, giá
cả phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Riêng năm 2000 đầu tư đổi mới công nghệ là 12 tỷ đồng.Sự nỗ lực của công ty đã thu
được kết quả, đó là khả năng tích luỹ tăng, từng bước nâng cao thu nhập cho người lao
động, nhờ đó tổng số nộp ngân sách nhà nước của công ty tăng qua các thời kỳ kinh doanh.
Tổng giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản :
( Nă
m 1999-2001 và 2002 )
_ 01 Phó Giám đốc KD XNK kiêm trưởng chi nhánh Hà Nội,...
+ Phòng tổ chức hành chính ;
Có nhiệm vụ quản lý về mặt nhân sự, tuyển chọn đào tạo bồi dưỡng cán bộ , giải quyết các
chính sách chế độ và đảm bảo mọi quyền lợi cho CBCNV, đồng thời đảm bảo về an ninh trật tự
và tài sản của công ty.
+ Phòng kỹ thuật kiểm nghiệm : Có nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến mẫu mã, sửa chữa sự cố kỹ
thuật trong quy trình sản xuất , kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu từ khi đưa vào sản xuất đến
khi nhập kho thành phẩm , giám định kiểm tra chất lượng thành phẩm + Phòng cung ứng kho :
phụ trách việc cung cấp các nguyên liệu bao bì tá dược.
+ Phòng kinh doanh : có nhiệm vụ trao đổi các thành phẩm với các đơn vị khác phục vụ cho
mục đích kinh doanh , trực tiếp đảm nhận toàn bộ sản phẩm đầu ra của Công ty để tiêu thụ .
+ Phòng mar ketting : có nhiệm vụ nghiên cứu giá cả và tiếp cận thị trường để thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm .
+ Phòng kế toán tài vụ : quản lý toàn bộ vốn của công ty có hiệu quả .
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà: ( Xem trang sau)
2.1.1.2/ Đặc điểm tổ chức sản xuất
Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất , công ty tổ chức thành các phân xưởng sản xuất , mỗi
phân xưởng có chức năng riêng .
Công ty có 6 phân xưởng sản xuất chính và 2 phân xưởng sản sản xuất phụ .
Bố
n phân xưởng sản xuất chính là ;
- Phân xưởng 1 : Phân xưởng đông dược chuyên sản xuất các loại thuốc cao đơn hoàn tán
như : bổ thận âm, ích mẫu, xi ro Brcar phong thấp hoàn ...
- Phân xưởng 2 : phân xưởng GMP tân dược chuyên sản xuất các loại thuốc tân dược như
các loại thuốc viên, vitamin C, B1, B6...Paracetamol, ampicilin ...
- Phân xưởng 3: phân xưởng ống : chuyên sản xuất các loại thuốc nước đóng ống : thuốc
uống Philatop, thuốc tiêm : nước cất, vitamin B1....
- Phân xưởng 4 : Phân xưởng chuyên sản xu
ất các mặt hàng dạng sủi như : Naphar Multi,
Napha - C1000
Sơ đồ công nghệ sản xuất thuốc tân dược (thuốc viên )
Hoá chất....→ pha chế thuốc <...... tá dược Sấy thuốc Tạo hạt
Dập viên Kiểm nghiệm bán thành phẩm
ép vỉ đóng lọ
Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga
18
Dược chất......> pha chế thuốc <...... dung môi thích hợp
thành dung dịch Kiểm nghiệm bán thành phẩm Đóng ống,hàn ống
Soi ống để lọai hở in nhãn trên ống Kiểm nghiệm bán thành phẩm